Vì sao phim đen không phải là phim đen?

Các nhà phê bình Pháp (Nino Frank) dùng thuật ngữ  film noir (phim đen) chỉ một thể loại phim phát triển ở Hollywood sau năm 1941, có nội dung na ná các tiểu thuyết trinh thám trong Série noire của Pháp. Khoảng cuối thập niên 50 thể loại này lụi tàn. Ngày nay chỉ có những người lớn tuổi còn nhớ hoặc một số nhà nghiên cứu điện ảnh biết phim đen của Hollywood là gì.
Quãng những năm 80 ở Sài Gòn rộ lên các điểm chiếu vi-đê-ô. Trên báo chí bắt đầu xuất hiện các cụm từ vi-đê-ô đen, phim đen… để chỉ tất cả các bộ phim có tính bạo lực, khiêu dâm, phản động… Gần đây cụm từ phim đen chỉ có nghĩa là phim khiêu dâm.

Như vậy nếu dịch ra tiếng Pháp thì phim đen những năm 50 là film noir, phim đen những năm 80 là film sans visa và phim đen bây giờ là film classé X hoặc film érotique, film pornographique.

Xê xê xê pê là cái gì?


Tên chính thức đầy đủ của Liên Xô là Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết, tiếng Nga là Сою́з Сове́тских Социалисти́ческих Респу́блик, viết tắt là CCCP, đọc theo kiểu Việt là xê xê xê pê Dân gian cắt nghĩa CCCPcác chú cứ phá / còn cho còn phá… vì việc sử dụng hoang phí viện trợ Liên Xô đã thành chuyện thường ngày. Xê xê xê pê vì vậy có nghĩa là của chùa, xài không cần tiếc :

Anh ta loay hoay tìm bao thuốc lá, nhưng thuốc lá là vật bất ly thân, Cương đã cho vào túi áo bông, không thể để thành một thứ xê xê xê pê trong buồng lái được (Bùi Ngọc Tấn, 2008:103)

Mô bin là cái gì?


Từ bobine của tiếng Pháp vào tiếng Việt thành bô bin: bô bin đánh lửa (bobine d’allumage) ; bô bin sơ cấp (bobine primaire)… Bô bin có một biến thể là mô bin :
Đặc biệt Khanh đã hợp lý hóa các thao tác trong công nghệ dệt, phân loại môbin thu hồi để tái sản xuất. (Triệu Xuân, 2007:67)
Hiện tượng chuyển đổi này không có gì khó hiểu: /b/ và /m/ đều là âm môi hữu thanh.

Rau bi na là rau gì?

Bi na là từ gốc Pháp (épinard): rau bi na bờ tường (épinard de muraille), rau bi na dại (épinard sauvage). Rau bi na có tên khoa học là Spinacia oleracea.
Rau bi na được tiếng là giàu chất sắt. Sự thật là năm 1890 cô thư ký của phòng thí nghiệm phân chất rau bi na đã đánh máy sai, nâng hàm lượng sắt trong rau lên gấp mười lần hàm lượng thật. Mãi bốn chục năm sau các nhà khoa học mới phát hiện ra sai lầm này nhưng đã quá muộn. Không còn ai không tin rằng bi na là vô địch rau quả về hàm lượng sắt. («Du fer dans les épinards et autres idées reçues», Jean-François Bouvet, Seuil, 1997)

Có bao nhiêu từ bót gốc Pháp?


Có năm từ bót gốc Pháp.

Từ bót thứ nhất có nguyên từ là poste, giống đực, nghĩa là cái đồn : bót cảnh sát (tiếng Pháp là poste de police), bót gác (poste de garde), bót cút lít (poste de police)… Từ bót này hiện nay được xem là từ cũ.  Ở cửa ngõ thị xã Pleiku ngày xưa có đặt một trạm kiểm soát nên người ta gọi chỗ đó là ngã ba bót công trôn (poste de contrôle), sau này là ngã ba Phù Đổng.
Từ bót thứ hai cũng có nguyên từ là poste, nhưng giống cái, nghĩa là bưu điện. Từ bót này chỉ còn dấu vết trong địa danh Kinh Bót (arroyo de la Poste). Đó là con kinh bưu điện thời Pháp, làm nhiệm vụ vận chuyển thư tín từ Sài Gòn qua Tân An, về Mỹ Tho. Con kinh này về sau được đổi tên thành Bảo Định Hà, tức là kinh Bảo Định.
Từ bót thứ ba có nghĩa là cái bàn chải. Gốc Pháp của nó là brosse. Bót đánh răng (brosse à dents) hay cái bàn chải đánh răng cũng là một thứ.
Từ bót thứ tư chỉ cái ống để cắm thuốc hút. Nó là kết quả mượn âm yếu tố porte trong một số từ ghép tiếng Pháp: bót thuốc lá (porte-cigarette), bót xì gà (porte-cigare).

Từ bót cuối cùng là từ của dân cơ khí. Gốc Pháp là boîte.  Bót lái/bót số (boîte de vitesse), chính là hộp cơ cấu lái trong ô tô