Đèn măng xông là đèn gì?

Từ điển không có măng xông, chỉ có măng sông (Lê Văn Đức, 1970b:893; Nguyên Tử Lực Cuộc, 1970:221; Nguyễn Như Ý, 1999:1101; Nguyễn Kim Thản, 2005:1031). Trên thực tế xưa nay, trong Nam cũng như ngoài Bắc, từ trong nước ra đến hải ngoại, người ta dùng cả măng xôngmăng sông, không coi dạng nào là sai:
* Tường nhà quét vôi xanh, gạch chỉ xanh, lại được ngọn đèn măng sông ánh sáng cũng xanh xanh. (Nguyễn Công Hoan, 2005:44)
* Tại một khúc vắng bên kia sông như thế, trong một căn chòi kín đáo có rất nhiều dừa nước bao quanh, Út Thêm và Hoàng đang ngồi cạnh nhau trong ánh sáng mờ mờ của một chiếc đèn măng sông treo ở ngoài hiên. (Chu Lai, 2008:159)
* Ngọn đèn măng sông treo lơ lửng ở trần nhà, gian giữa của ngôi trường ba gian, từng đàn mối bay vèo vèo quanh điểm sáng, rớt lả tả trên những cái ly, những đĩa kẹo và thuốc lá bày biện gọn ghẽ trên hai dãy bàn dài. (Nguyễn Ngọc Ngạn, 1994:154)
* Lấy cái đèn măng xông buồng bên mang sang đây đi, em! (Vũ Trọng Phụng, 2006s:561)
* Tuy chợ nhóm suốt đêm nhưng thắp sáng chủ yếu bằng đèn dầu, ngoại trừ một số sạp lớn thì có đèn măng-xông. (Võ Đắc Danh, 2008t:61)
* Người cầm đèn măng-xông trả lời gọn lỏn. (Nguyễn Tường Thiết, 2008:49)
Măng sông / măng xông là từ gốc Pháp (manchon). Đèn măng sông tiếng Pháp là lampe à manchon. Măng sông là tấm lưới dùng để bao quanh ngọn lửa đèn, chẳng những không bị cháy mà còn có tác dụng làm tăng độ sáng. Thứ lưới đặc biệt này được dệt bằng sợi gai, sợi bông hoặc sợi tơ nhân tạo visco, tẩm muối ni-trát tho-ri và ni-trát xê-ri.

Măng sông / măng xông là từ mượn âm cho nên viết cách nào tiện cho mình là được chứ cần gì phải bắt chước thật giống tiếng Pháp? Vả lại có ghi cách nào đúng được với âm gốc? Còn vì sao các nhà làm từ điển chọn măng sông mà không chọn măng xông thì đó lại là một chuyện khác.

Ca ve sao không biết nhảy?

Từ cavalier của tiếng Pháp có nhiều nghĩa, nhưng chỉ có một nghĩa vào tiếng Việt qua đường mượn âm và chỉ ở dạng giống cái (cavalière): bạn nhảy nữ. Hồi đầu thế kỷ 20 do quan niệm nam nữ thụ thụ bất thân, hầu như không có phụ nữ Việt Nam chịu khiêu vũ nên bạn nhảy nữ đều là chuyên nghiệp. Trong Kỹ Nghệ Lấy Tây ta thấy Vũ Trọng Phụng gọi họ là ca-va-li-e (Nghe đâu bây giờ có một cô ả trong bọn ấy sang một tiệm nhảy ở Đáp Cầu xin vào làm ca-va-li-e), gọi cho sang là vũ nữ (làm việc ở vũ trường), nói nôm na là gái nhảy (làm việc ở tiệm nhảy).
Sau năm 1954 vũ trường biến mất ở miền Bắc nhưng thịnh dần ở miền Nam, từ ca-va-li-e biến mất, xuất hiện các từ ca veca nhe, lấy âm tiết đầu và âm tiết cuối của từ gốc mà phát âm theo kiểu miền Nam. Thời này ca ve vẫn còn biết nhảy, làm việc chủ yếu ở vũ trường. Nếu có làm gì thêm ở đâu khác thì đó không phải là đặc điểm nghề nghiệp của họ.
Các em gái bán bar trước bẩy nhăm, những thôn nữ làm gái nhẩy ở vũ trường bây giờ đều chính danh là ca ve, có thẻ đóng dấu và được phép hành nghề. (Nguyễn Việt Hà, 2007:34)
Cuối những năm 80 khi các vũ trường xuất hiện trở lại, làm bạn nhảy vẫn là công việc chính của các cô vũ nữ. Từ điển Hoàng Phê (2006:97) chỉ ghi nghĩa này. Việc ra ngoài chơi với khách vẫn nằm ngoài phạm vi công việc của ca ve. Ai đi như thế chỉ có thể là nhảy dù / đi dù. Từ điển Nguyễn Kim Thản (2005:194) mở ngoặc đơn là có khi, theo nghĩa xấu, còn bí mật kiêm hành nghề mại dâm.Ca ve thời này nhảy đầm không lương, chỉ có tiền bo tùy tâm của khách nhảy (nếu tranh được khách) mà không nhảy dù thì làm sao sống? Dần dần cái việc kiêm thêm lại thành việc duy nhất mà các cô ca ve biết làm. Bây giờ bất cứ cô gái nào đi khách cũng có thể được gọi là ca ve, không cần phải biết mặt mũi cái sàn nhảy ra sao.
Bác sĩ đi găng dày cộp, sợ bị nhiễm khuẩn cave. (Nhiều Tác Giả, 2010:130 – Võ Thị Xuân Hà)
Tùy theo địa bàn hoạt động của họ mà có ca ve đứng đường, ca ve mạng, ca ve vũ trường… Theo đẳng cấp thì có ca ve ngoại hạng, ca ve cao cấp, ca ve hạng sang, ca ve hạng bét lốp lét… Theo mức độ thành thục, có ca ve mới vào nghề và ca ve lành nghề. Theo cường độ hành nghề, có ca ve chuyên nghiệp, ca ve bán chuyên, ca ve bán chính thức. Trong số ca ve bán chuyên lại có ca ve chân dài, ca ve văn phòng, ca ve sinh viên… Tất cả các ca ve ấy khi dịch trở lại tiếng Pháp phải dùng từ pute, không dùng từ cavalière được.

Giẻ đáng gì mà ăn?


Hiện nay giẻ được hiểu là các thứ vải vụn hoặc quần áo rách phế thải dùng làm nùi giẻ, giẻ chùi, giẻ lau… (Lê Văn Đức, 1970a:562). Hiểu theo nghĩa đó thì câu tục ngữ Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ đâm ra ngớ ngẩn. Nhưng không ai hiểu sai ý nghĩa của câu tục ngữ đó: thợ nghề nào cũng kiếm chác được của khách hàng trên khoản vật liệu dùng cho nghề ấy (cho nên câu tục ngữ trên mới có cái phiên bản nối dài với thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc). Với nghề thợ may ngày xưa, khoản kiếm chác đáng kể là tơ lụa. Trong câu tục ngữ nói trên giẻ là một từ cổ có nghĩa là tơ lụa (Vương Lộc, 2001:70). Nghĩa này hiện nay đã mất trong ngôn ngữ phổ thông, khiến cho thợ may ăn giẻ có vẻ không ăn nhập mấy với phần còn lại của câu tục ngữ và với ý nghĩa chung của cả câu. Để cho phù hợp với cái nghĩa hiện nay của giẻ, đoạn sau của câu tục ngữ mới được cải biên một lần nữa thành thợ hàn ăn… cứt sắt.
Tục ngữ cũng có câu Mua áo thì rẻ, mua giẻ thì mắt (đắt). Giẻ ở đây vẫn là tơ lụa, không phải giẻ lau, giẻ rách nên mua mới đắt.

Mì chính là mì gì?


Mì chính (người Nam gọi là bột ngọt) có công thức hóa học là NaC5NO5H8 (glu-ta-mát na-tri). Tiếng Anh là monosodium glutamate, thường được viết tắt là MSG. Liên Hiệp Châu Âu đặt cho mì chính một mã số là E 621 (chất phụ gia thực phẩm số 621). Nhìn trên bao bì thực phẩm mà thấy ký hiệu này (E621) là biết ngay nó đó.
Mì chính là một chất hóa học, không phải thức ăn làm từ bột mì và cũng chẳng có thứ mì nào tên là mì phụ. Mì chính chỉ là âm Quảng Đông của味精; âm Hán Việt vị tinh (Lê Ngọc Trụ, 1993:635), nghĩa là chất điều vị (tiếng Anh là flavour enhancer).
Trung Quốc bắt đầu sản xuất được mì chính năm 1920. Một vài thợ nấu miền Bắc đã biết sử dụng mì chính từ thời ấy nhưng đa số người dân không biết đến sự tồn tại của nó. Từ mì chính chỉ trở nên phổ biến từ năm 1957, thời điểm khởi công khu công nghiệp Việt Trì, trong đó có một nhà máy mì chính do Trung Quốc xây dựng viện trợ cho Việt Nam.

Chích ven là chích vào đâu?

Ven là tĩnh mạch. Gốc của ven (có khi được ghi là vênh) là từ veine của tiếng Pháp.
Ngữ liệu:

* Năm năm sau vẫn còn cảm thấy đau khổ, mỗi lần người ta lách kim vào thái dương, vào trán, vào hai cổ chân tìm ven của con. (Lê Lựu, 2006:313)

* Cháu bé thế này ven mạch ở đâu mà cắm kim, lại còn chằng buộc thế nào để giữ yên tay nó mấy tiếng đồng hồ ? (Bùi Ngọc Tấn, 2008:356)

Cần sa là gì?

Cần sa vừa là tên cây (ruộng cần sa, trồng cần sa, ) vừa là tên gọi chất ma túy thu được từ cây đó (hút cần sa, mua bán cần sa…).
Cây cần sa còn có tên khác là cây gai dầu, cây lanh mèo, cây lanh mán, cây gai mèo, cây đại ma, cây hỏa ma, cây bồ đà. Tên khoa học (tiếng La Tinh) là Cannabis sativa L. Cần sa là kết quả ghép các âm tiết đầu của hai từ La Tinh. Cần sa theo chân quân Mỹ vào miền Nam trước năm 1975. Từ cần sa được ghi nhận trong từ điển Lê Văn Đức (1970b:186)
Cần sa còn được gọi là tài mà.. Đó chính là âm Quảng Đông của đại ma (大麻). Đại ma là từ ngữ sách vở, xuất hiện trong tiếng Việt đã lâu (Đào Duy Anh, 2005:21). Tài mà chỉ phổ biến ở phía Bắc. Nó là bằng chứng cho thấy một tuyến vận chuyển và một địa bàn tiêu thụ cần sa mới hình thành những năm gần đây.

Vì sao đàn ông (Việt Nam) ngày nay ngoại tình nhiều hơn xưa?


Câu trả lời là vì đàn ông nước ta ngày xưa không biết ngoại tình là gì.
Ngoại tình là từ Việt mượn Hán (外情) ; Génibrel (1898:527) dịch sang tiếng Pháp là adultère, tội ngoại tìnhcrime d’adultère và con ngoại tình là enfant adultérin. Không thể tìm được cách dịch chuẩn xác hơn, nhưng sự thật là adultère của Pháp và ngoại tình của Việt Nam có chỗ không giống nhau.
Trong tiếng Pháp thời bấy giờ không chung thủy với vợ hay chồng (violement de la foi conjugale) đều là adultère (Dictonnaire de l’Académie, 5e édition (1789) và 7e édition (1935)). Các từ điển tiếng Pháp hiện nay (Petit Robert 2007) tránh cách định nghĩa mang màu sắc tôn giáo (foi = đức tin / niềm tin), nói rõ là rapport sexuel volontaire d’une personne mariée avec une personne autre que son conjoint (quan hệ tình dục tự nguyện giữa một người đã kết hôn với người không phải là người phối ngẫu của mình).
Ngoại tình trong từ điển của Huình Tịnh Của (1868b:98) được cắt nghĩa là có tình ý riêng với trai, tội hòa gian. Cho đến đầu thế kỷ 20 người ngoại tình vẫn cứ là người đàn bà có chồng mà còn có tình riêng với người khác (Đào Duy Anh, 2005:538), người đàn bà có chồng mà dan díu vụng trộm với người ngoài (Hội Khai Trí Tiến Đức, 1931:389). Với định nghĩa như vậy, không có chuyện đàn ông ngoại tình.
Định nghĩa ngoại tình từ giữa thế kỷ 20 có phần công bằng hơn cho phụ nữ. Lê Văn Đức (1970b:1024) coi ngoại tình là trai gái với người khác (khi đã có vợ hay có chồng). Như vậy từ giữa thế kỷ 20, tỷ lệ đàn ông ngoại tình đang ở số không tuyệt đối tăng vọt đột biến: ông nào đã có vợ mà nuôi bồ nhí cũng là ngoại tình rồi chứ không cần phải dính đến phụ nữ đã có chồng.

Các định nghĩa lỏng lẻo hiện nay lại càng bất lợi hơn cho đàn ông. Chỉ cần có quan hệ yêu đương bất chính khi đã có vợ hay có chồng (Nguyễn Như Ý, 1999:1202; Hoàng Phê, 2006:684) cũng có thể bị xem là ngoại tình. Khi đã có vợ mà còn lên mạng chát, hẹn hò với em, thư qua điện thoại lại… thì hãy coi chừng vì tất cả những trò ấy đều là quan hệ yêu đương bất chính. Đàn ông Việt Nam bây giờ lại khổ hơn đàn ông Pháp.

Ma lanh là con ma gì?


Ma lanh không phải là ma nhanh hay ma chậm gì hết. Ma lanh là một từ gốc Pháp (malin) vào tiếng Việt với nghĩa là láu lỉnh, láu cá.
Từ ngô nghê Quách Tĩnh đến hào sảng Tiêu Phong, từ lưỡng lự Dương Quá đến ma lanh Lệnh Hồ Xung, tất thẩy đều quay cuồng trong mớ lẫn lộn giá trị làm họ vô cùng hoang mang chẳng biết đâu là xuôi đâu là ngược. (Nguyễn Việt Hà, 2007:246-247)
Thanh Nghị (1967:869) có lẽ là quyển từ điển ghi nhận ma lanh sớm nhất.

Ma lanh còn một người anh em nữa là ma le.

Bà Từ Dụ sinh con gái, bà Trương Đăng Quế sinh con trai, nên ông Quế đã ma le đút tiền cho các cung nhân để tráo vào cho con mình sau này làm vua. (Lý Nhân Phan Thứ Lang, 2006:35)

Vì sao người đàn ông chăn dắt gái mại dâm không phải là ma cậu mà là ma cô?


Ma cô không phải là ma bà cũng chẳng phải ma ông. Ma cô là một từ gốc Pháp (maquereau) vào tiếng Việt với nghĩa là kẻ hành nghề dắt gái:
* Mấy phút sau, hai gã ma cô bảo kê cho mấy cô gái phóng xe đến đập cửa. (Tiêu Dao Bảo Cự , 2004:134)
Từ ma cô vào tiếng Việt từ những năm 30 của thế kỷ trước. (Đào Duy Anh, 1950:1012) và ở yên trong từ điển từ ấy đến nay bất kể mọi đổi thay chế độ, thời cuộc. (Thanh Nghị, 1967:869;, Lê Văn Đức, 1970b:874; Nguyễn Như Ý, 1999:1079; Nguyễn Kim Thản, 2005:1007; Chu Bích Thu, 2006:150; Hoàng Phê, 2006 :603). Ma cô nhập tịch Việt lâu rồi, không mấy ai nhớ đến nguồn gốc của nó nữa, nghĩ đã là ma ắt phải xấu xa. Nhiều khi những kẻ trông hung ác, côn đồ cũng bị gọi là ma cô mặc dù không hành nghề chăn dắt gái.
* Trông tướng ông ấy ma cô lắm, dì cẩn thận đấy. (Huệ Ninh, 2008:22)
Từ maquereau còn được phiên âm thành mặt rô. (Chu Bích Thu, 2006:150) hoặc mặc rô. Cũng như người anh của nó là ma cô, từ mặt rô ngoài nghĩa kẻ chăn dắt gái mại dâm phát triển thêm một nghĩa không có liên quan gì đến nghề tú ông:
Các chiêm tinh gia không khoái chuyện tiên tri này và thay vì trả lời sự thách thức của Gosh đã cho gọi bọn “mặt rô” (bouncers) đến tống tiễn ông vào bệnh viện. (Dương Ngọc Dũng, 2008:61)
Nguyễn Như Ý (1999:1083) có ghi nhận một dạng khác phiên âm từ maquereaumạc cờ rô và giải nghĩa là như ma cô. Có vẻ như mạc cờ rô không được phổ biến bằng ma cômặt rô. Có thể mạc cờ rô (ma cô) vừa bị xung đột đồng âm với mạc cờ rô (macro) của dân chụp ảnh vừa xung đột đồng nghĩa với ma cô / mặt rô nên không bứt lên nổi trong cuộc cạnh tranh.