Tàu lát là tàu gì?

Tàu lát (tiếng Anh là LASH, viết tắt của Lighter Aboard Ship) là tàu chuyên dùng để chở xà lan, do đó có thể nhận và trả hàng sâu trong nội thủy, vừa tiết kiệm được thời gian vận chuyển vừa hạn chế được hao hụt…

Do đâu mà có từ Vu Lan?


Ở Việt Nam ngày xá tội vong nhân vào rằm tháng bảy âm lịch hàng năm (sách vở tiếng Anh dịch là Ullambana Festival, Avalambana Festival, Ghost Festival..), còn được gọi là lễ cúng cô hồn hay lễ Vu Lan. Ở Trung Quốc gọi lễ này được goi là盂蘭盆會 (âm Hán Việt là Vu Lan Bồn Hội), trước đó là烏藍婆 (âm Hán Việt: ô lam bà) /  烏藍婆拏 (âm Hán Việt: ô lam bà noa). Tuy nhiên giới học thuật không có sự nhất trí về nguồn gốc của 盂蘭盆, 烏藍婆, 烏藍婆拏.
Một số tác giả cho rằng các từ đang xét trong tiếng Hán chỉ là phiên âm của ullambana trong tiếng Xăng-crít, có quan hệ gần gũi với lambana (nghĩa là treo) hoặc avalamba (nghĩa là treo ngược), diễn tả tình trạng khổ ải cùng cực.Theo hướng tìm kiếm này, có tác giả cho rằng từ gốc không phải là ullambana mà phải là ullambhana mới đúng. Người khác lại bảo avalambana mới đúng. Một số khác thì cho rằng (bồn) không phải là từ mượn âm mà là một từ Hán có nghĩa, chỉ một vật dụng đựng thực phẩm cúng dường.
Một trường phái khác cho rằng các từ ngữ Hán mượn âm tiếng Pa-li ullumpana mà nguyên mẫu là động từ ullumpati với nghĩa là cứu, giúp (cứu vớt, cứu độ…). Không loại trừ khả năng ullumpana đuợc chuyển tự sang tiếng Xăng-crít là ullambana rồi từ đó đi vào kinh sách chữ Hán. Giả thuyết các nhà sư Trung Hoa đọc tiếng Pali và chuyển thẳng âm u  thành âm a, cũng không phải là không thể xảy ra, bởi vì từ mượn âm không nhất thiết phải giống hệt âm gốc, chuyển tự (thường nhưng) không luôn luôn tuân theo một quy luật nhất định.
Các học giả đều cố công đưa ra nhiều bằng chứng góp phần khẳng định giả thuyết của mình và/hoặc bác bỏ cách lý giải của người khác.  Nhìn chung, các bằng chứng đó đều dựa trên sự gần gũi về ngữ âm giữa từ mượn và từ được giả định là nguồn gốc, và/hoặc ý nghĩa giả định của từ gốc phù hợp đến mức độ nào với các đặc tính quan trọng của lễ Vu Lan (treo ngược, hành hạ, giải thoát…). Không có học giả nào đưa ra ngữ liệu ghi nhận thời điểm xuất hiện của  盂蘭盆, 烏藍婆, 烏藍婆拏… cũng như tên người chế tác / sử dụng đầu tiên và nguồn tư liệu của người đó. Do đó tất cả các cách kiến giải về tổ tiên xa xưa của Vu Lan đều có giá trị hạn chế như nhau, mặc dù tất cả các cách kiến giải ấy đều rất lý thú. 

“Vu lan” (lễ Vu lan) có nghĩa là gì? (Kiến Thức Ngày Nay số 399, ngày 10-9-2001)

ĐỘC GIẢ: Xin cho biết hai tiếng “Vu lan” (lễ Vu lan) có nghĩa là gì. “Vu” là gì, “lan” là gì?
AN CHI: “Vu lan” chỉ là hai tiếng vô nghĩa dùng để phiên âm mà thôi. Trong bài “Sự tích Rằm tháng Bảy và xuất xứ của hai tiếng vu lan”, (KTNN số 89, 1-8-1992, tr.41-44), Huệ Thiên đã viết như sau:
Vu lan là dạng tắt của Vu lan bồn. Đây là ba tiếng dùng để phiên âm danh từ Sanskrit ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ô lam bà na (…). Về sau, Ô lam bà na được thay thế bằng dạng phiên âm mới là Vu lan bồn trong đó vu thay thế cho ôlancho lam và bồn cho bà-n(a). Vì Vu lan bồn chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm cho nên từng tiếng một (vu, lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành “cái chậu đựng thức ăn” như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm (trong Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr.795) là hoàn toàn không đúng.
Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanskrit này có ba hình vị: tiền tố ud (trở thành ul do qui tắc biến âm sandhi khi d đứng trước l), căn tố LAMBH và hậu tố ana (…) Tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập (…). Căn tố LAMBH là hình thái luân phiên với LABH, có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt. Vậy ul – LAMBH có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến nghĩa mà tiền tố và căn tố diễn đạt. Vậy ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng đọc theo âm Hán Việt là Vu lan bồn. Vu lan bồn được nói tắt thành Vu lan. Vậy Vu lan là sự giải thoát”. (Bđd, tr.44)
Tiếc rằng cho đến nay vẫn còn nhiều tác giả giảng sai về xuất xứ và nghĩa gốc của hai tiếng vu lan. Vì khuôn khổ nên sau đây chúng tôi chỉ nêu một trường hợp làm dẫn chứng mà thôi.
Trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du (bản in lần thứ hai, An Tiêm, Paris, 1995), Hoàng Xuân Hãn đã viết như sau:
“Phạn-ngữ ullambana nghĩa là cực khổ tột bực. Nghĩa lại chuyển thành cứu khỏi cực khổ. Phiên âm Hán ngữ đã có nhiều cách; một cách là Vu-lan-bồn, nói tắt: Vu-lan”.
(Sđd, tr.14)
Không biết Hoàng Xuân Hãn đã căn cứ vào nguồn thư tịch nào về Phật học và về tiếng Sanskrit (Phạn ngữ) mà lại khẳng định rằng “ullambana là cực khổ tột bực”, rồi “nghĩa lại chuyển thành cứu khỏi cực khổ”. Để cho rõ vấn đề, trước nhất, xin nhấn mạnh rằng trong tiếng Sanskrit thì ullambhana vàullambana là hai từ khác hẳn nhau về nghĩa gốc của căn tố.
Căn tố của từ trước là LABH/ LAMBH, như đã phân tích, còn căn tố của từ sau thì lại là LAMB. Cũng như từ trước, ullambana có ba hình vị: tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nêu), căn tố LAMB và hậu tốana. Ngoài nghĩa nêu trong đoạn đã dẫn của Huệ Thiên, ud (>ul ) còn chỉ hướng chuyển động từ dưới lên. LAMB là treo (vậy ul – LAMB là treo lên) còn ana là hậu tố chỉ hành động có liên quan đến nghĩa mà tiền tố và căn tố diễn đạt, như đã thấy. Vậy ullambana là sự treo lên và tất cả chỉ có thế. Từ này hoàn toàn chẳng có liên quan gì đến ý “cực khổ tột cùng”, càng không phải là “cứu khỏi cực khổ”. Chúng tôi mạo muội đoán mò rằng chẳng qua Hoàng Xuân Hãn chỉ căn cứ vào những lời giảng sai về mấy tiếng “vu lan (bồn)” trong thư tịch của Trung Hoa rồi lấy cái nghĩa đó mà gán cho danh từ Sanskritullambana, tự nó vốn cũng chẳng có liên quan gì đến mấy tiếng “vu lan (bồn)”.
Mathews’ Chinese – English Dictionary đã chú một cách ngắn gọn và chính xác về xuất xứ của ba tiếng “vu lan bồn” như sau:
From the Sanskrit ullambhana, deliverance”. (Do tiếng Sanskrit ullambhana, (có nghĩa là) sự giải thoát).
Gần đây nhất, nhà nghiên cứu Phật học Nguyên Huệ, trong bài “Lễ Vu lan – Rằm tháng bảy qua sự ghi nhận nơi một số tác phẩm biên khảo về văn hóa, phong tục, tín ngưỡng” (Nguyệt san Giác ngộ, số 65, 8-2001, tr.28-30), cũng đã chú rõ rằng “Kinh Vu lan bồn”, tiếng Sanskrit là Ullambhana sútra (sútra = kinh).
Vậy cái nghĩa “cứu khỏi cực khổ” mà Hoàng Xuân Hãn cho là nghĩa phái sinh (“chuyển”) của ullambanachính là cái nghĩa đích thực của ullambhana (sự giải thoát, sự cứu nạn,…) còn “cực khổ tột bực” chẳng những không phải là nghĩa gốc của từ này mà cũng chẳng phải của từ ullambana do Hoàng Xuân Hãn nêu ra.

Tìm hiểu thuật ngữ Vu Lan Bồn (Vương Trung Hiếu)

Chép lại từ tường FB Vương Trung Hiếu:

Bài dưới đây là bản lưu trên FB, còn đường liên kết này dẫn tới bài đã đăng trên vanchuongviet.org:

Trên nhavantphcm.com.vn có đăng hai bài của ông An Chi: “Sự tích rằm tháng bảy và xuất xứ của hai tiếng Vu Lan” và “Trao đổi với tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh”. Cả hai bài này đều nói về nguồn gốc và ý nghĩa của chữ Vu Lan. Đây là đề tài mà chúng tôi quan tâm và thấy rằng cần trao đổi với ông An Chi để làm sáng tỏ đôi điều. Dĩ nhiên, tất cả đều trên tinh thần thiện chí, với mục đích là tìm sự chính xác về từ nguyên và ý nghĩa của chữ Vu Lan.
Vu Lan là gì?
Vu Lan là chữ viết ngắn gọn từ Vu Lan bồn, một thuật ngữ có nguồn gốc từ bài Phật thuyết Vu Lan bồn kinh 佛說盂蘭盆經. Trong Vu Lan bồn kinh, Đức phật dạy môn đồ Mục Kiền Liên 目乾連 (Maudgalyāyana) cách làm thế nào để cứu thoát mẹ của ông, người đã làm điều tội lỗi ở trần gian, sau khi qua đời đã bị đày xuống địa ngục làm ngạ quỷ. Cách Phật dạy là vào ngày 15 tháng 7 âm lịch,  Mục Kiền Liên dùng thức ăn, thức uống cúng dường chư Tăng sẽ có được vô lượng công đức, cứu mẹ thoát khỏi cảnh bị treo ngược, đói khát. Có rất nhiều bài viết về nội dung của bài kinh này nên chúng tôi không kể chi tiết ở đây.
Ở Ấn Độ, khi Đức Phật còn tại thế, con cháu của những người qua đời cũng đã thực hiện nghi lễ cúng dường Đức Phật và chư Tăng như kể trên, mục đích của lễ này là nhằm cứu những vong hồn tội lỗi thoát khỏi kiếp làm ngạ quỷ. Sau khi lễ này du nhập vào Trung Hoa, Lương Vũ Đế 梁武帝 là vị vua đầu tiên xuất gia và cũng là người đầu tiên cúng Vu Lan Bồn vào năm 538. Lễ cúng diễn ra tại chùa Đồng Thái tỉnh Giang Tô 江蘇. Sau đó lễ này được truyền khắp Trung Hoa. Theo Đại Việt sử Ký toàn thư 大越史記全書 của Ngô Sĩ Liên, lễ Vu Lan bồn du nhập vào nước ta rất sớm. Từ năm 1072, vua Lý Nhân Tông đã từng thiết trai đàn cầu siêu cho cha mẹ. Thế rồi, qua thời gian, Vu Lan bồn dần dần trở thành đại lễ cho đến ngày nay.
Nguồn gốc Vu Lan bồn
Theo Phật giáo Trung Hoa, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ 竺法護 là người dịch Vu Lan bồn kinh đầu tiên vào đời Tây Tấn 西晉 (265-316). Đến đời Đông Tấn 東晉 (317-420), một bản dịch khác xuất hiện với tựa đề là Phật thuyết báo ân phùng bồn kinh 佛說報恩奉盆經 (không rõ người dịch).
Dưới đây là ảnh chụp một bản dịch Phật thuyết Vu Lan bồn kinh.
Trên thực tế, để trả lời chính xác nguồn gốc Vu Lan bồn không phải là điều đơn giản. Bởi vì có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ này, không chỉ tại Việt Nam mà còn cả ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… và phương Tây.
Trước hết chúng ta tìm hiểu xem Vu Lan Bồn xuất phát từ tiếng Sanskrit (tiếng Phạm/Phạn) hay tiếng Pali (Pāli पाऴि). Trong Vu Lan bồn kinh có chi tiết: Đức Phật dạy rằng vào ngày tự tứ (ngày 15 tháng 7 âm lịch), Mục Kiền Liên nên làm thức ăn trăm món để dâng cúng chư Tăng mười phương (thập phương chúng tăng ư thất nguyệt thập ngũ nhật tăng tự Tứ. (…) Cụ phạn bách vị ngũ quả cấp quán bồn khí. (…) Cúng dường thập phương Đại Đức chúng tăng. 十方眾僧於七月十五日僧自恣時. (…) 具飯百味五果汲灌盆器. (…) 供養十方大德眾僧).
Ngày tự tứ 自恣日 là ngày lễ cuối mùa an cư của chư Tăng thuộc Phật giáo Bắc tông (trước đây còn gọi là Phật giáo đại thừa 大乘, sa. Mahāyāna). Đây là Ngày Phật hoan hỉ 佛歡喜日, bởi vì sau 3 tháng vào rừng trầm tư suy tưởng, các môn đồ của Phật trở về, báo với Phật về sự tiến bộ của họ. Đức Phật rất vui vì thấy nhiều đệ tử đạt đến sự Khai sáng. Ngày tự tứ cũng được xem là ngày “tự phê bình, kiểm điểm cá nhân”. Từng vị Tăng ra giữa các đồng môn, thành khẩn kể những lỗi lầm mà mình đã phạm và thỉnh cầu Phật cũng như các chư Tăng chỉ bảo điều tốt để sám hối và sửa sai.
Căn cứ vào yếu tố này có thể khẳng định rằng Vu Lan bồn được chuyển tự từ tiếng Phạn chứ không phải tiếng Pali, bởi vì tiếng Pali được dùng trong kinh của Phật giáo Nam tông (trước đây còn gọi là Phật giáo tiểu thừa 小乘, sa. Hīnayāna).
Cũng cần nói rằng Vu Lan bồn được phiên âm từ một chữ trong tiếng Sanskrit (संस्कृतम् saṃskṛtam) nhưng đó là chữ gì thì chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau. Từng chữ trong cụm từ Vu Lan bồn không có nghĩa riêng, vì thế chúng tôi không xét từ “bồn” trong cụm từ này, mà chỉ xét từ “bồn” trong nội dung bài kinh có nghĩa là gì, một chữ còn gây nhiều tranh cãi.
Ông An Chi trích dẫn lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi : ” Bồn là cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa”.
Ông An Chi phản đối: “bồn” không phải là chậu đựng thức ăn cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7, vì “đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ”. Ông dựa vào đoạn dịch sang tiếng Việt sau:
Phải toan sắm sửa chớ chầy
Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu
Món ăn tinh sạch báu mầu
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng
(Diễn ca kinh Vu Lan bồn)
Sau đó ông An Chi phán một câu chắc nịch rằng: thức ăn phải “đựng trong bình bát” mới “đàng hoàng lịch sự”. Theo chúng tôi, ông An Chi đã nhầm lẫn. Tại sao? Xin mời xem phân tích dưới đây:
Trước hết chúng ta xét từ “bồn”.
Bồn 盆 là danh từ, thuộc bộ mãnh 皿, có hai nghĩa liên quan tới điều đang bàn:
1. Chậu (đáy nhỏ, miệng to, khá sâu, làm bằng sành, gỗ, kim loại, …). Thí dụ: kiểm bồn 臉盆 là chậu rửa mặt.
2. Vật dụng dùng để đựng giống như cái chậu. Thí dụ: thái bồn 菜盆 là chậu rau.
Bát 钵 cũng là danh từ, thuộc bộ phẫu 缶, có nghĩa là cái bát ăn của nhà sư. Ở Việt Nam loại bát này được gọi là bình bát.
Bây giờ chúng ta xem tần số xuất hiện của từ bồn 盆 và bát 钵 trong Phật thuyết Vu lan bồn Kinh. Chữ bồn 盆 xuất hiện 3 lần (không kể 3 lần xuất hiện trong cụm từ Vu Lan bồn), nhưng rất tiếc chúng tôi lại không hề thấy chữ bát 钵. Dưới đây là những câu tương ứng với đoạn ông An Chi đã dẫn chứng:
具飯百味五果汲灌盆器.
Cụ phạn bách vị ngũ quả cấp quán bồn khí.
香油錠燭床敷臥具.
Hương du đĩnh chiếu sàng phu ngọa cụ.
盡世甘美以著盆中.
Tận thế cam mỹ dĩ trứ bồn trung.
供養十方大德眾僧.
Cúng dường thập phương Đại Đức chúng tăng.
Những câu trên cho thấy không có từ nào mang nghĩa là bát (bình bát), nhưng lại có hai từ là bồn 盆. Xét ở yếu tố này, chúng tôi khẳng định rằng thức ăn đựng trong bình bát là điều không thể xảy ra. Ông An Chi đã không tham khảo bản gốc, chỉ căn cứ vào từ dịch là “bình bát” để suy diễn mà thôi. Theo chúng tôi, bồn trong bài kinh cũng không phải là chậu thường dùng hàng ngày. Nó chính là loại bồn đựng thức ăn cúng dường có bề ngoài giống như cái chậu, được gọi là Phật bồn hay Tấn bồn. Và đây là dẫn chứng của chúng tôi: trong Pháp Uyển Châu Lâm 法苑珠林 (quyển 62) do  Pháp sư Đạo Thế 道世 biên soạn vào đời nhà Đường 唐朝 (618-907), có một bản kinh gọi là “Đại Bồn Tịnh Độ Kinh”. Bản này cho biết, sau khi nghe Đức Phật dạy Tôn giả Mục Liên cách cứu mẹ khỏi vòng ngạ quỷ, những vị quốc vương thành tâm làm các loại bồn quý, đựng thức ăn để cúng dường Phật và các chư Tăng. Về sau, các chùa lớn tại Trung Quốc đều tổ chức Lễ hội Vu Lan bồn. Mọi người, từ vua chúa, quan quyền cho tới thứ dân khi đến chùa làm lễ báo hiếu đều đựng thức ăn trong bồn. Loại bồn này cũng xuất hiện trong bài Phật thuyết báo ân phùng bồn kinh vào thời Đông Tấn.
Từ nguyên và ý nghĩa
Theo ông An Chi chỉ có một trong hai chữ Phạn sau đây có nghĩa là Vu Lan bồn: Ullambana hoặc Ullambhana. Sau đó ông Chi phân tích chữ thứ nhất: “Ullambana gồm có ba hình vị : ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên”.
Ông An Chi say sưa thuyết giảng từ ullambana về “qui tắc biến âm, tiền tố, tiền động từ”… nhưng ông không hề biết rằng mình đang giải thích một từ…“không có thật” trong tiếng Sanskrit. Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng từ ullambana không hề xuất hiện trong bất kỳ văn bản tiếng Sanskrit nào, kể cả những từ điển Phạn ngữ. Đây là cái sai rất phổ biến. Không chỉ những học giả phương Tây, mà cả một số học giả phương Đông, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam đều bị rơi vào cái bẫy này.
Tại sao có sự nhầm lẫn như thế? Bởi vì, tiếng Sanskrit là một hệ thống rất phức tạp. Ở đây chúng ta xét vài nét về động từ và danh từ, vì chúng có liên quan tới “sự treo lên”.
Động từ trong tiếng Sanskrit có 10 loại (gaṇas, गण), chia thành 2 nhóm lớn (có nguyên tố chủ âm và không nguyên tố chủ âm). Động từ vô cùng đa dạng với tiền tố, trung tố, hậu tố và cả hiện tượng láy âm. Khá nhiều gốc từ có 3 cấp độ: guna (गुण), vṛddhi (वृद्धि) và zero, trong khi đó nguyên âm của động từ lại thay đổi tùy theo cấp.  Còn danh từ thì có rất nhiều biến tố tùy theo giống đực, giống cái hay trung tính hoặc theo số ít, số nhiều hay số kép. Danh từ lại có đến 8 cách: danh cách (प्रथमा), hô cách (आमन्त्रण), đối cách (द्वितीया), công cụ cách (द्रव्यद्वैत hay पञ्चमी), li cách/đoạt cách (अपादान), tặng cách (चतुर्थ), sở hữu cách (षष्ठी hay प्रथमा) và vị trí cách (अधिकरण), ấy là chưa kể đến 5 biến cách của danh từ, sự nhấn giọng và hợp biến âm (संधि) trong lúc nói…
Với sự phức tạp kể trên thì việc chuyển tự sai lầm có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Theo chúng tôi, cái sai trong cách chuyển tự ullambana xuất phát từ nguyên nhân: do thời xưa chưa có hệ thống kí âm, người chuyển tự dựa vào quan điểm cá nhân nên mới dẫn tới tình trạng hiện nay ullambana vẫn là “một bóng ma trong văn bản tiếng Phạn”. Đến thế kỷ 19, tiếng Phạn mới được kí âm theo bảng chữ cái Latin. Tiêu chuẩn phổ biến nhất, được dùng làm chuẩn học thuật là Bản chuyển tự IAST (International Alphabet of Sanskrit Transliteration, năm 1912). Tóm lại, do chuyển tự sai, người đời sau tiếp thu cái sai của người đời trước rồi sử dụng suốt nhiều thế kỷ qua. Quá trình này lặp đi lặp lại nhiều lần, cuối cùng cái sai (ullambana) đã mặc nhiên trở thành cái đúng và được thế giới công nhận.
Vì lẽ trên, không có gì lạ khi nhiều bài viết, sách báo và từ điển Đông – Tây đã tiếp thu một cách máy móc từ ullambana (xem mục: “Tài liệu dẫn chứng”(1) cuối bài).
Và có lẽ, do không tìm được từ gốc nên ngay cả Wikipedia cũng chẳng có chú thích chuẩn cho từ ullambana. Ngoài bản tiếng Việt có từ Vu Lan, Vu Lan bồn với chú thích là ullambana, còn 15 ngôn ngữ khác thì chỉ cho thấy từ tương ứng, riêng bản tiếng Ý và Nhật ghi là ullambana rồi chú thích là उल्लम्बन. Nhưng rất tiếc chúng tôi chưa tìm thấy từ उल्लम्बन trong từ điển tiếng Phạn, chỉ thấy một từ gần giống là उल्लम्बित (ullambita), từ này có nghĩa là sự treo hoặc sự bay lượn, trôi lơ lửng.
Xin nhắc lại cách phân tích từ ullambana của ông An Chi để bàn tiếp: “ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên.
Chúng tôi không đồng ý cách phân tích từ và nhận định trên của ông An ChiVì sao? Trước hết, do ullambana là từ không có thật nên không thể có nghĩa là “sự treo lên”. Còn nếu phân tích “ud” उद् là tiền tố thì theo Cologne Digital Sanskrit Lexicon, ud không phải là tiền động từ như ông An Chi đã khẳng định. Ud là tiểu từ (particle), làm tiền tố (prefix) cho động từ và danh từ. Nếu xét về động từ thì ud chính là giới từ (उपसर्ग, preposition) mang nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo trường hợp nó kết hợp với động từ nào. Ud có thể mang nghĩa là “trên, phía trên, ngoài, ra khỏi, không có ” hoặc “lên, hướng lên, rời, khắp” hay “xa, xa cách, biến đi, biến mất…”.
Thứ hai, “ana” không phải là hậu tố chỉ hành động khi kết hợp với “lamb”. Nếu là thành phần độc lập thì ana là danh từ giống đực, có nghĩa là hơi thở hay sự hô hấp. Do ullambana không có thật nên chúng tôi đưa ra một thí dụ khác cũng có hai thành phần giống là lamb लम्ब् và ana अन. Khi hai thành phần này kết hợp sẽ thành “lambana” (लम्बन). Lambana là danh từ có trên 10 nghĩa, trong đó có một nghĩa quan trọng liên quan tới khái niệm chúng ta đang bàn, đó là “sự treo ngược”.
Bây giờ, ta tạm chấp nhận ullambana là một từ có thật để giải quyết những vấn đề liên quan. Trong văn bản Trung Quốc và những ngôn ngữ khác, dựa vào nội dung của Vu Lan bồn kinh, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ullambana có nghĩa là đảo huyền 倒 懸 (treo ngược) hay cứu đảo huyền 救倒 懸 (cứu những linh hồn bị hình phạt treo ngược).
Thế nhưng ông An Chi phản đối: ” cứu đảo huyền ” không phải là ” cứu nạn treo ngược ” mà lại là ” giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng “. Hai tiếng ” đảo huyền ” ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa.
Với nhiều bằng chứng trong tay, chúng tôi tin rằng ullambana có nghĩa là “đảo huyền” hay “cứu đảo huyền”. Riêng từ “cứu đảo huyền” chúng tôi không nghĩ đó là “cứu nạn treo ngược”, mà cho rằng đó là “cứu thoát linh hồn đang bị treo ngược”.
Chúng tôi tô màu đỏ hai chữ đảo huyền 倒 懸 trong văn bản tiếng Trung Quốc dưới đây để bạn đọc dễ nhận ra:
懸盂蘭盆經》的經題解釋有兩種法︰一說,盂蘭」是梵音Ullambana,義為倒懸;「盆」是華語,指盛食供僧的器皿。二說「盂蘭盆」是梵語Ullambana的音譯。(zh.wikisource.org/zh-hant/佛學大辭典/盂蘭盆).
Còn đây là từ đảo huyền 倒 懸 trong văn bản tiếng Hàn, nhưng bản này chỉ công nhận ullambana là Ô Lam Bà Noa 烏藍婆拏, chứ không phải là Vu Lan bồn (về điều này chúng ta sẽ bàn ở phần sau):
그는 위 자 료에서 보이듯이 우란분은 잘못된 말이며 ‘烏藍婆拏’라는 말이 옳다고 하였다. 또한 그 뜻은 ‘倒 懸’ 즉 거꾸로 메달려 있다는 뜻이라고 하였다. 현응의 이같은 설명은 이후 우란분의 어원과 관 련한 기본적 자료로 인식되었으며, 각종 사전류에도 우란분의 어원은 烏藍婆拏(ullambana)라는 내용이 실리게 되었다. (Trích trang 34 trong tài liệu Hội thảo về “Nỗi đau đớn tột cùng của con người trong cuộc sống và cái chết” (인간의 삶과 죽음의 번뇌), do một Viện Phật tử ở Hàn Quốc  tổ chức vào ngày 9 tháng 8 năm 2008).
Thêm vào đó, trong phần tài liệu dẫn chứng (1), chúng tôi đã chứng minh có trên 10 quyển sách cho thấy ullambana có nghĩa là “treo ngược”, “treo lơ lửng lộn ngược”, “treo đầu lộn ngược” (“to hang upside down”, “to be suspended upside down” “omgekeerd hangen”, “suspendu tête en bas”) hoặc có nghĩa là “sự giải thoát những vong hồn đang bị treo ngược” (rescuing those who are hanging upside-down) hay “ngày giải thoát những vong hồn đang bị treo ngược” (the day for releasing those who are hanging upside-down).
Tóm lại, nếu xét ở nghĩa bóng, chúng tôi cũng đồng ý rằng “cứu đảo huyền” có nghĩa là “giải thoát sự khốn khổ tột cùng”. Nhưng có điều chúng tôi thắc mắc là: tại sao ông An Chi không chấp nhận nghĩa đen mà chỉ bám vào nghĩa bóng? Việc bác bỏ nghĩa đen của “cứu đảo huyền” chứng tỏ ông An Chi có cách nghĩ hết sức cực đoan, một việc cần tránh trong khoa học. Chúng tôi chấp nhận cả hai nghĩa đen và bóng và cho rằng nghĩa đen rất cần thiết, vì không có nó thì chẳng nêu bật được “hình phạt treo ngược dưới địa ngục” theo quan niệm Phật giáo.
Bây giờ đến trường hợp ông An Chi cho rằng Vu Lan bồn (Yulanpen) chuyển tự thành “ullambhana” với nghĩa là “sự giải thoát”. Chúng tôi đồng ý nhận định này, vì phần Tài liệu dẫn chứng (1) của chúng tôi cũng cho thấy điều đó. Tuy nhiên, chúng tôi lại không tìm thấy ullambhana trong từ điển tiếng Phạn, chỉ có một từ gần giống là ullamphana (उल्लम्फन) có nghĩa là “sự nhảy, bước nhảy” (danh từ trung tính). Tóm lại, chúng tôi cũng không tin ullambhana là một từ có thật trong tiếng Sanskrit. Nếu ông An Chi chứng minh được ullambana và ullambhana xuất phát từ hai chữ nào trong tiếng Phạn với nghĩa là “sự treo lên, sự giải thoát” và đưa hai chữ đó ra làm bằng chứng thì tôi xin bái phục.
Kế tiếp, theo ông An Chi: “Vu Lan là dạng nói tắt của ” Vu Lan bồn “. Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanscrit Ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ôlambàna. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ Hải khẳng định. Về sau, Ôlambàna được thay thế bằng dạng phiên âm mới là ” Vu Lan bồn”…”.
Chúng tôi không đồng tình ý kiến trên, bởi vì Vu Lan bồn hay Ôlambàna không thể là từ phiên âm của chữ ullambhana, một chữ không thấy xuất hiện trong tiếng Phạn. Theo chúng tôi, từ có khả năng nhất để phiên âm thành Ô lam bà nã 乌 蓝 婆 拿 và Ô lam bà noa 烏藍婆拏 chính là avalambana (अवलम्बन), một danh từ có nghĩa là “sự treo ngược” và cũng có bốn hình vị (ava-lam-ba-na) tương ứng với bốn chữ Ô lam bà nã hay Ô lam bà noa. Trong The Concise Oxford Dictionary of World Religions (1997) của John Bowker và những từ điển tiếng Phạn mà chúng tôi tham khảo đều ghi nhận avalambana có nghĩa là “sự treo ngược”. Riêng cụm từ Vu Lan Bồn có khả năng là dạng phiên âm ngắn gọn cũng từ chữavalambana (Vu/ava + Lan/lam + bồn/bana).
Lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn
Ông An Chi bác bỏ ý kiến cho rằng Lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là một. Theo ông hai lễ cúng này khác nhau, nhưng “được cử hành trong cùng một ngày” (ngày rằm tháng 7).
Khi nhận định hai lễ cúng nŕy khác nhau thě ông An Chi đã đúng chuyện đời xưa nhưng lại sai chuyện ngày nay. Tại sao? Theo chúng tôi, lễ cúng cô hồn xuất phát từ quan niệm của Đạo giáo, còn lễ Vu Lan có nguồn gốc từ Phật giáo.
Quan niệm của Đạo Giáo cho rằng tiết Trung Nguyên bắt đầu từ ngày mồng 1 tháng 7 âm lịch (ngày“mở cửa quỷ môn”) cho đến ngày 30 tháng 7 (ngày “đóng cửa quỷ môn”). Đầu tháng này, cửa địa ngục mở ra cho các cô hồn (chết oan, chết bất đắc kỳ tử hoặc chết mà không có người thân thờ cúng) lên dương thế để thọ hưởng sự cúng tế và nhận đồ thế chấp của người trần gian, cũng như tìm người thế mạng. Người trần gian muốn tránh các cô hồn phá rối hay làm hại tính mạng của mình nên vào ngày rằm tháng 7 họ làm lễ bày các vật phẩm, đồ ăn thức uống và những loại vàng mã, hình nộm để cúng các cô hồn. Trước là cho cô hồn ăn uống, sau là cầu mong cô hồn đừng làm hại mình. Lễ cúng này được gọi là Tiết Trung Nguyên, đọc trại thành Tết Trung Nguyên. Những điều vừa nêu có ghi rõ trong kinh Huyền Đô Đại Hiến của Đạo Giáo.
Riêng về Lễ Vu Lan, đây là lễ để con cháu tỏ lòng tôn kính, báo hiếu cha mẹ còn sống hay đã qua đời, kể cả ông bà 7 đời. Trong ngày Lễ Vu Lan, ngoài ý nghĩa cầu siêu cho người thân đã mất, mong họ được siêu sanh về tịnh độ, người ta còn lập đàn cúng cô hồn, quỷ đói, cầu nguyện cho những vong hồn sớm giải thoát mọi phiền não, khổ đau để an nhiên về cõi Phật.
Tuy quan niệm và cách thức hành lễ của Phật giáo và Đạo giáo khác nhau, nhưng cuối cùng cả hai cùng với Nho giáo đã hợp thành một khối chung theo tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”(cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và “Tam giáo đồng quy” (cả ba tôn giáo có cùng mục đích). Trong đời nhà Đường, trên tinh thần hợp nhất như thế, Phật giáo và Đạo giáo đã tổ chức lễ hội Trung Nguyên Phổ độ, vì thế tiết Trung Nguyên còn gọi là Trung Nguyên Phổ Độ.
Kể từ đó, lễ Vu Lan kết hợp chung với lễ cúng cô hồn, hành lễ vào ngày 15 tháng 7 âm lịch. Như vậy, có thể nói rằng hai lễ này tuy hai mà một. Chính vì thế mà hiện nay trong Wikipedia Trung văn, người ta nhập chung hai lễ này trong một đề mục và gọi là Trung Nguyên tiết dữ Vu Lan bồn tiết 中元節與盂蘭盆節 (2), có nghĩa là “Lễ cúng cô hồn hay lễ Vu Lan bồn”. Ở Phương Tây, người Anh, Mỹ gọi lễ Vu Lan là Lễ hội cô hồn (Ghost Festival) hay Lễ hội cô hồn đói (Hungry Ghost Festival), còn người Pháp gọi là Fête des fantômes; người Tây Ban Nha gọi là Festival de los fantasmas; người Ba Lan gọi là Święto Duchów; …tất cả đều có chung một nghĩa là Lễ cúng cô hồn. Tại Việt Nam, lễ cúng cô hồn còn được gọi là lễ xá tội vong nhân.
Tóm lại, hai lễ này đã được sáp nhập chung tại nước ta từ rất lâu và đã trở thành đại lễ, được tổ chức hàng năm vào ngày rằm tháng 7 âm lịch. Do đó, việc tách riêng hai lễ này theo quan điểm của ông An Chi có thể xem là “xưa rồi Diễm ơi”./.
——————-
(1) Tài liệu dẫn chứng:
– Quyển Phật Học Từ Điển Sanskrit/Pali – Việt của Thiện Phúc, Multilingual Dictionary of Buddhism (2001) của Minh Thông, A Dictionary of Buddhism (2004) của Damien Keown cũng đã ghi nhận từ ullambana.
– Celui-ci lui remit le livre du sûtra ullambana à lire « suspendu tête en bas ». La torture de sa mère prit fin. Suivant cette légende, les bouddhistes, qui croient que la première des bonnes actions à accomplir réside dans le devoir filial, demandent souvent aux bonzes et bonzesses de réciter ce sûtra le 15 du septième mois pour soulager leurs parents défunts qui souffrent dans l’autre monde. (french.beijingreview.com.cn).
– …urabon, 盂蘭盆 (ullambana). Fête bouddhique qui se tient généralement le 15 juillet (ou le 15 août) et au cours de laquelle on fait des offrandes aux Trois trésors (Bouddha, Dharma, Sangha) pour le bien des défunts. Le sanskrit ullambana signifie “suspendu par les pieds”, métaphore pour la souffrance ressentie dans le monde des esprits améliques.(www.larbredesrefuges.com).
-… op het Sanskrit-woord Ullambhana, zoals in Ullambhana Sutra, dwz de Sutra voor de zielen die “omgekeerd hangen“, met andere woorden de zielen die in nood zijn, bevrijd moeten worden en daarom met bepaalde offers gespijsd worden. (As the twig is bent …: essays in honour of Frits Vos, Frits Vos, Erika de Poorter – 1990 – 257 trang).
– The Ullambana Dharma assembly began / Upon his request for the World Honored One’s help. Ullambana is Sanskrit and is translated as “rescuing those hanging upside-down.” (Vajra bodhi sea: Volume 36, Issues 421-427, Sino-American Buddhist Association. Publisher: Sino-American Buddhist Association, 2005).
– The phrase “yii-lan” is generally understood as a transliteration of the Sanskrit Ullambana, the meaning of which is “to hang upside down” or “to be in suspense” (About our ancestors: the Japanese family system by Kunio Yanagita, Fanny Hagin Mayer, Nihon Yunesuko Kokunai Iinkai – 1988 – 193 trang).
– Hanging upside down; the condition of certain condemned souls, especially for whom the Ullambana (or Lambana, cf. ]j£) festival is held in the seventh month ; the phrase is used as a tr. of Ullambana, and as such seems meant for Lambama. (最新漢英佛學大辭典, William Edward Soothill, Lewis Hodous – 1937).
-… then, having assumed the form of Guanyin, visualizes dizang, who has aspired to release all beings from hell (t 0: . 76c). 7. the Sanskrit word avalambana (ullambana in Pâli) literally means “hanging upside down” and is …( The making of a savior bodhisattva: Dizang in medieval China (trang 2), Zhiru Ng, , 2007 – 305 trang).
– Ullambana means ‘releasing those who are hanging upside down.’ The Buddha told Maudgalyayana that, on the fifteenth of the seventh lunar month, the day of the …( Buddhist Text Translation Society’s Buddhism A to Z by Ronald B. Epstein, Buddhist Text Translation Society. Editorial Committee – 2003 – 284 trang).
– Ullambana means, “releasing those who are hanging upside down.” The Buddha told Maudgalyayana that, on the fifteenth day of the seventh (lunar) month. (The Buddha speaks of Amitabha Sutra: a general explanation (trang 86) by Hsüan Hua – 2003 – 194 trang).
– The Japanese is an abbreviation of Urabon, a phonetic reduction of the Sanskrit Ullambana, meaning “to hang upside down.” (The Path of Dreams (page 1), Ene Woodbury – 2008 – 294 trang).
– Ullambana means “releasing those who are hanging upside down.” (The Foundling: A Novel of Wandering in the Dreamland of Ch’an Masters (trang 209), Ander Goldstein – 2009 – 700 trang).
– Ullambana is a Sanskrit word which means “rescuing those who are hanging upside-down. … The Ullambana is performed especially for releasing those undergoing the painful suffering of being hungry ghosts and enabling them to be reborn…(The Shurangama sutra with commentary: Volume 1 (trang 122), Hsüan Hua – 2003 – 9 trang).
– Ullam- bana is the day for releasing those who are hanging upside-down, those who have not obtained liberation. (Flower adornment sutra: chapter 39, entering the Dharma realm: Volume 3 (trang 44), Hsüan Hua, Buddhist Text Translation Society – 1984).
– … that has long been assumed to be a transcription of the Sanskrit word Ullambana, meaning “to be suspended upside down. … The sutras that are read all day in order to guide lost souls (guhun) out of Hell relate the story from the …( Traditional festivals, vol. 1 [A – L]: a multicultural encyclopedia (trang 91), Christian Roy – 2005 – 256 trang).
– Tulanpen is the Chinese transliteration of the Sanskrit ullambhana (deliverance). The festival was also called zhongyuanjie, translated both as Ghost Festival and Universal Salvation Ritual. (Native place, city, and nation: regional networks and identities …(page 93),  Bryna Goodman – 1995 – 367 trang).
– The Chinese characters suggest the Sanskrit word Ullambhana as their original, and this word meansrescue, extrication, or deliverance.( Essays on the Chinese language, T. Watters, Thomas Watters – 1889 – 496 trang).
– The usual explanation of the feast day as the Indian ullambhana, or in Chinese yil lan p’en which means “to be suspended upside down,” refers to the journey of Ti-tsang Wang74 down to hades to save his mother.(Folk cultures of Japan and East Asia, Taryô Ôbayashi, Taryô Ôbayashi – 1966 – 163 trang).
– (yúlánpénjing) N: the name of a Buddhist sutra, being a translation from Sanskrit ” ullambhana ” (deliverance) (Chinese customs and traditions: Volume 2 (trang 134), ng Ho Chang – 1987 – 324 trang).
– The festival held on the 15th of the 7th lunar month for the deliverance of hungry ghosts – often spoken of as the Feast of All Souls — from the Sanskrit ullambhana, deliverance — Matthew’s Chinese-English Dictionary, p. 1138, No. 7595 (a). 2.( Studies in Chinese Buddhism, Anukul Chandra Banerjee – 1977 – 116 trang).
– Details of the story are given in the Ullambhana Sutra, otherwise known as Deliverance or, in Chinese Yfl-lan P’an Ching. the Feast of Hungry Ghosts, section entitled Fa-hua Hsflan-tsan. 69. (Phi Theta papers: Volumes 6-10, Phi Theta. California State Chapter. University of California, California. University. Oriental Languages Students Association – 1961).
 – The Ghost Festival (Guijie), which coincides with the Buddhist Ullambhana (Deliverance) Festival, is held on the fifteenth day of the seventh month.( Worldmark Encyclopedia of Religious Practices: Countries A-L, Thomas Riggs – 2006 – 3 trang).
(2): Wikipedia Trung Văn:
農曆七月十五日(有些地方,尤以華南,是七月十四日,相傳是宋代末年蒙古人入侵某地,居民為逃難而提早一天過節),道教稱為中元節,佛教稱為盂蘭盆節(簡稱盂蘭節),民間俗稱鬼節、七月半。中元節與除夕、清明節、重陽節(除、清、九)等三節,都是中國傳統節日裏祭祖的四大節慶。http://zh.wikipedia.org/wiki/%E4%B8%AD%E5%85%83%E7%AF%80%E8%88%87%E7%9B%82%E8%98%AD%E7%9B%86%E7%AF%80

Hoa di nha là hoa gì?


Hoa di nha thuộc họ Cúc (Asteracae). Lá mọc đối, hình trái xoan thuôn dài, mặt lá phủ lông. Hoa có màu trắng, vàng, đỏ, hồng, tím. Tên hoa tiếng La Tinh là zinnia, được đặt theo tên nhà thực vật học người Đức Johann Gottfried Zinn (1727-1759). Từ zinnia này được giữ nguyên dạng trong nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha… Tiếng Nga là цинния, phiên âm cũng khá gần. Khó có thể xác định di nha được phiên âm từ thứ tiếng nào trong các ngôn ngữ châu Âu kể trên.

Di nha còn được gọi là hoa bách nhật, do tên hoa tiếng Trung Quốc là 百日草 (âm Hán Việt là bách nhật thảo, nghĩa là cỏ trăm ngày).

Làm cần vụ có oai hơn làm loong toong không?


Từ planton trong tiếng Pháp được dùng để chỉ người lính làm nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh của sĩ quan chỉ huy. Khi không có việc chạy đi chạy lại, anh lính này phải túc trực bên cạnh chỉ huy để đợi sai phái. Khi đó anh trở thành lính gác cố định một chỗ (sentinelle fixe).
Thời Pháp thuộc những người lính như vậy được gọi là bờ lăng tông / loong toong / loong toong nơ. Phổ biến nhất là loong toong. Không chỉ có lính để chỉ huy sai vặt bị gọi là loong toong mà mọi loại nhân viên cấp dưới bị cấp trên sai vặt đều là loong toong cả:
Ngần này tuổi tôi còn làm loong toong cho người ta sai vặt, biết bao giờ mới thành nghề thành nghiệp? (Dương Thu Hương, 1990:89)
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống ngành y, Loco bất chợt quay sang làm quảng cáo cũng là một sự tình cờ, ban đầu Long cũng chỉ thiết kế vu vơ mấy tài liệu cho bạn bè trong lớp rồi vào làm cho một công ty quảng cáo nhỏ như một… loong-toong-nơ thôi. (Lê Thị Thái Hòa, 2009:162)
Để người bị sai vặt khỏi buồn vì thân phận con sâu cái kiến, người ta nghĩ ra nhiều chức danh hoa mỹ cho họ. Ở miền Nam trước 1975 họ trở thành các ông tùy phái; ở miền Bắc trước đây và trên cả nước hiện nay họ là những nhân viên tạp vụ. Trong quân đội cách mạng từ lâu không còn loong toong để thượng cấp sai phái nữa mà chỉ có các chiến sĩ liên lạc. Từ năm 1950, sau khi các cố vấn Trung Quốc đến Việt Nam, họ trở thành người cần vụ chăm lo chỗ ăn, chỗ ngủ, cái ăn cái mặc của thủ trưởng. Xong việc, họ là người cảnh vệ giữ cho thủ trưởng được an toàn hoặc anh tiêu binh đứng im như pho tượng. Tất cả các chức danh đó được dịch ra tiếng Pháp bằng một từ duy nhất là planton mà ngày xưa tiếng Việt đã nhập dưới dạng loong toong.

Từ tẩy chay xuất hiện trong tiếng Việt khi nào?


Từ tẩy chay xuất hiện trong tiếng Việt vào đầu thế kỷ 20 cùng lúc với phong trào dân ta từ Nam ra Bắc đùng đùng rủ nhau không mua bán, giao dịch với Hoa kiều. Thượng Chi tức Phạm Quỳnh tường thuật trên Nam Phong Tạp Chí số 27 (1919:226-227) như sau:

Trong khoảng một tháng nay, tiếng An-nam ta mới tăng thêm được một tiếng mới, giọng đọc lơ-lớ như tiếng nước người, mà gióng-giả mạnh-bạo như câu hiệu-lệnh, trong giây-phút truyền khắp cỗi nước Nam. Tiếng ấy là gì? Tiếng ấy là tẩy chay. Tẩy chay ! Tẩy-chay ! miệng người An-nam nào từ Nam chí Bắc cũng chỉ thấy nói một tiếng ấy, như tụng một câu Na-mô của một tôn giáo mới nào. Vậy thời “tẩy-chay” là gì? “Tẩy-chay” là tiếng khách Quảng-đông đọc hai chữ để-chế 抵  制  : “để-chế” nghĩa là kháng-cự kẻ nghịch kẻ thù mình, tức là tuyệt-giao với kẻ mình không ưa, nhất là về đường giao-dịch buôn-bán. Đó là nghĩa chung; cứ cái nghĩa riêng của chữ để-chế thời là đồng lòng nhau không mua đồ hàng của người mình ghét. Chữ để-chế người An-nam ta dùng trong một tháng nay là dùng theo cái nghĩa riêng ấy.
Nguyên nhân trực tiếp của sự việc, vẫn theo Thượng Chi (1919:227), là:
Cái cận-nhân thì ở việc một chú Chiệc kia bán cà-phê cho đồng-bào ta tại Sài-gòn, bỗng-dưng ma ám qui xui tăng giá chén cà-phê lên hai su mà khởi ra cái lòng công-phẫn của cả một dân đối với người Tàu. Nguyên-nhân nhỏ-mọn như thế, mà kết-quả to-lớn như vậy, người không biết cũng lấy làm lạ thay.
Ly cà phê đang từ hai xu vọt lên bốn xu, kể cũng hơi quá đáng, nhưng đó chẳng qua chỉ là cái tàn lửa làm bùng nổ thùng thuốc súng, tức cái nguyên nhân sâu xa khiến cho dân Nam hằn học với Hoa-kiều “là ở cái thế-lực to-tát quá chừng của người Tàu đã chiếm được trong trường kinh-tế ở nước ta” (Thượng Chi, 1919:227)

Ai là người đầu tiên đề nghị sử dụng thuật ngữ “dân tộc học”?


Cái tên của một môn học nhiều khi thể hiện rất rõ rệt quan điểm địch-ta. Việc giới khoa học Việt Nam chấp nhận thuật ngữ dân tộc học trong những năm 50 của thế kỷ trước là một ví dụ cho thấy tên gọi không thể là chuyện vô thưởng vô phạt:
Khoa dân tộc học mác-xít và khoa dân tộc học tư sản có nhiều điểm khác nhau về cơ bản. Khoa dân tộc học tư sản chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các dân tộc lạc hậu, thuộc địa. Như ở đế quốc Đức trước kia, bọn học giả tư sản chia ra làm dân tục họcdân tộc học. Dân tục học (Volkskunde hoặc Folklore) nghiên cứu dân tộc bản quốc, dân tộc học (Volkerkunde) nghiên cứu các dân tộc nước ngoài, chủ yếu là dân tộc thuộc địa.
Trong dân tộc học, bọn học giả ở các nước tư sản lại chia ra làm hai ngành: Ethnologie tức dân tộc học lý luận và Ethnographie tức dân tộc học tự thuật hoặc dân tộc học miêu tả, do đó chúng tách rời lý luận với quan sát thực tế. Ở Liên-xô và các nước xã hội chủ nghĩa, cả hai ngành này đều kết hợp làm một, và đều dùng một danh từ thống nhất là Ethnographie. Trước kia, ở Trung-quốc, người ta thường dịch chữ Ethnographie bằng nhiều danh từ khác nhau, khi là nhân chủng học, khi là nhân văn chí, khi là dân tục học, nhưng từ răm năm nay, các nhà khoa học Trung-quốc đã dùng một danh từ thống nhất là dân tộc học. Ở Việt-nam, trước đây, người ta cũng quen gọi khoa học này, bằng tiếng Pháp là Ethnologie và bằng tiếng Việt là nhân chủng học. Cả hai chữ, dùng đều không đúng. Cho nên tôi đề nghị, từ nay chúng ta cũng gọi khoa học này bằng một danh từ thống nhất là dân tộc học mà tiếng Âu châu của nó là ethnographie hay ethnografia.
(Nguyễn Lương Bích,  “Mấy nét sơ lược về dân tộc học Mác-xít” trong Tập San Nghiên Cứu Văn Sử Địa số 47 (1958:16))

Trong khi đó ở miền Nam, các tên gọi cũ vẫn được lưu hành cho đến năm 1975: ethnographie được dịch là nhân chủng chí, ethnologienhân chủng học (Thanh Nghị, 1967:1002).

Vì sao các hoàng đế Nga được gọi là Sa Hoàng?


Sa Hoàng là âm Hán Việt của 沙皇 (shāhuáng).
Hoàng nghĩa là vua. Hoàng đế là danh hiệu dùng cho ông vua của một đế quốc thời xưa như đế quốc La Mã, Trung Quốc, đế quốc Nga…
Sa Hán Việt, trong tiếng Hán hiện đại là shā, phiên âm của tsar (cũng viết tzar / czar) tiếng Anh mà từ này lại là phiên âm của царь trong tiếng Nga (nghĩa là hoàng đế).
Sa Hoàng là từ [mượn của tiếng Trung Quốc qua âm] Hán Việt. Như vậy viết Xa Hoàng là sai chính tả.
Những người chủ trương phân biệt phát âm x/s cho rằng Xa [Hoàng] gần với phát âm quốc tế tức là âm trong các tiếng châu Âu (gồm cả tiếng Nga). Ngoài ra, tiếng Việt không phải là tiếng Trung Quốc nên việc kết hợp giữa một yếu tố phi Hán Việt (xa) với một yếu tố Hán Việt (hoàng) là hoàn toàn chấp nhận được (như các tổ hợp ngói hóa, mặn hóa, môi hóa, lành mạnh hóa…). Lý giải như vậy là do không biết hoặc đã quên rằng Sa Hoàng vốn là hàng nhập khẩu trực tiếp từ Trung Quốc chứ không phải sản phẩm nội địa.

“Tàu” và “thâm như Tàu” (Năng Lượng Mới số 28 ,16 – 6 – 2011).

Bạn đọc : Thưa ông An Chi! Tại sao người Việt Nam ngày xưa hay gọi người Trung Quốc là người Tàu? Và tại sao lại nói thâm như Tàu? (Trần Hà Trang).
An Chi : Cách đây 18 năm, trên Kiến Thức Ngày Nay số 103 (ngày 01-3-1993), chúng tôi đã viết như sau :
“Đã có nhiều người liên hệ tên gọi này với từ tàu trong tàu bè. Xin chép Huình-Tịnh Paulus Của làm dẫn chứng: “Người An nam thấy tàu khách qua lại nhiều, lấy đó mà gọi là nước Tàu, người Tàu” (Đại Nam quấc âm tự vị, t.II, Saigon, 1896, tr.346).
Có nhiều tìm tòi hơn là ý kiến của Vương Duy Trinh cho rằng Tàu là biến thể ngữ âm của Tào, là tiếng mà từ đời Tam quốc, người Việt đã dùng để gọi nước Ngụy của Tào Tháo (Xin x. Thanh-hóa quan phong, Nguyễn Duy Tiếu phiên diễn, Sài Gòn, 1973, tr.97). Nhưng nước ta, lúc bấy giờ là quận Giao Chỉ và một phần quận Cửu Chân – chúng tôi cho là chỉ một phần thôi – lại thuộc về Đông Ngô chứ không thuộc về Bắc Ngụy (Chính vì thế mà bấy giờ người Việt đã gọi người Trung Hoa là người Ngô như vẫn còn thấy trong mấy tiếng “thằng Ngô con đĩ”) cho nên cách giải thích của Vương Duy Trinh xem ra vẫn chưa thỏa đáng. Vả lại, tại sao người ta không gọi thẳng bằng tên nước là Ngụy mà phải dùng họ Tào để gọi?
Hồi 1993, chúng tôi đã viết như thế. Sau đó nhiều năm, có độc giả đã lần giở trang sách cũ, thấy An Chi nói vô lý, bèn gửi thư đến tòa soạn giảng giải rằng lai lịch của cái tên “Tàu” là ở những cuộc vượt biển sang Đại Việt để tránh sự cai trị của bọn Mãn Thanh. Họ sang bằng thuyền (= tàu); do đó có tên là “Tàu”. Mà lại đi trên ba chiếc, nên còn được gọi là “Ba Tàu”. Vị độc giả kia đã quên (hay không hề biết?) rằng việc Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đưa người sang xin làm thần dân nước Đại Việt là chuyện năm Kỷ Mùi 1679 mà “đồng bào” của họ thì đã được ta gọi là “Tàu” tự bao giờ. Bằng chứng trên giấy trắng mực đen là cái thứ mực mãi về sau mới được Vũ Đình Liên nhắc đến trong khổ thơ đầu bài “Ông đồ” :
Mi năm hoa đào n 
Li thy ông đ già
Bày mc tàu giy đ 
Bên ph đông người qua,
cái thứ mực đó đã được ghi nhận trong Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes, xuất bản ở Roma từ năm 1651 (Xin x. mục “tàu, mực tàu”), trước khi họ Trần và họ Dương dẫn đầu đoàn tị nạn của họ sang Đại Việt đến gần 30 năm. Còn chính những người vượt biển kia thì đã được dân sở tại, nghĩa là người Việt Nam, gọi là người Minh Hương, nghĩa là người mà quê hương gốc là nước Minh. Đây mới thật là danh xưng chính thức và chính xác mà người Việt đã dành cho đoàn di dân của hai nhân vật Dương, Trần.
Còn lần này thì chúng tôi xin phản biện thêm như sau. Bất cứ nhà Hán ngữ học nào biết rõ tiếng Việt cũng thừa nhận rằng ngôn ngữ này còn lưu giữ trong lòng nó nhiều yếu tố của tiếng Hán thượng cổ. Với chúng tôi thì “tàu” là một trong những yếu tố đó, và, trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt, thì nó còn có nghĩa là “xe”. Tàu (trong tàu bè) là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 艚, mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa là “thuyền”. Chữ tào 艚 này cũng thông với chữ tào 漕, mà theo biện luận của Lưu Quân Kiệt 刘鈞杰 trong Đồng nguyên tự điển tái bổ (Ngữ văn xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999) thì đều còn có nghĩa là “xe” (Xin x. mục “dzu 漕 : dzu 艚”, tr.55). Cái nghĩa “xe” của tàuvẫn còn trong tiếng Việt. Cứ so sánh tiếng Bắc tiếng Nam thì thấy ngay. Cái mà trong Nam gọi là tàuthì ngoài Bắc gọi là thuyền. Ngoài Bắc gọi là tàu hỏa thì trong Nam gọi là xe lửa. Thế là cái nghĩa “xe” đã thấp thoáng trong danh ngữ tàu hỏa. Rồi ngược lên đầu thế kỷ XX, cả trong Nam ngoài Bắc đều gọi là tàu bay cái mà bây giờ cả nước đều gọi là máy bay. Thế là cái nghĩa “xe”, mở rộng là “phương tiện chuyên chở”, đã nằm ngay trong danh ngữ tàu bay. Cho nên trong thành ngữ tàu bay tàu bò thì cả hai thứ tàu này chẳng qua đều cùng là “xe”! Vậy thì có lẽ ta sẽ biện luận rằng vì ngày xưa họ sang ta bằng xe nên tổ tiên ta đã gọi họ là “Tàu” chăng? Nên nhớ rằng họ đã sang ta từ xưa và sang thành nhiều đợt, lẻ tẻ có, thành đoàn có và đây là cả một câu chuyện dài.
Thực ra, phần  lớn tình tiết ly kỳ, hấp dẫn đưa ra làm lời giảng cho lai lịch của từ ngữ lại thuộc về từ nguyên dân gian (folk etymology), chứ từ nguyên học đích thực  , nghĩa là khoa học thì nhiều khi lại khô khan hơn. Chúng tôi hoàn toàn tán thành Vương Duy Trinh ở chỗ là, theo tâm thức của ông thì “Tàu” là một từ rất xưa, cụ thể là đã ra đời tự thời Tam Quốc. Và chúng tôi vẫn bảo lưu ý kiến sau đây của mình trên Kiến Thức Ngày Nay trước đây:
“ Chúng tôi cho rằng Tàu là âm cổ Hán Việt của từ ghi bằng 曹 mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa rộng là “quan”. Trong thời kỳ Bắc thuộc, nói chung quan cai trị là người Trung Hoa cho nên dân chúng đã quan niệm rằng người Trung Hoa là “tàu”, nghĩa là quan. Nếu cho rằng đây là một nếp nghĩ vô lý thì xin nhớ lại chuyện đã xảy ra hồi tháng 8, tháng 9 năm 1945 tại Sài Gòn: dân Việt Nam đã đánh bất cứ người Pháp nào mà họ gặp ngoài đường vì hễ là người Pháp thì đều là “thực dân”. Do quan niệm trên mà về sau tất cả mọi người Trung Hoa dù không làm quan – đây là tuyệt đại đa số – cũng được “vinh dự” gọi là Tàu.”
Thế là cái danh xưng “Tàu” có một lịch sử đặc biệt và nét đặc biệt này gắn liền với sự cai trị của bọn phong kiến phương Băc đối với dân ta, nước ta. Chẳng thế mà từ xưa đến nay, nó luôn luôn mang tính xấu nghĩa (pejorative) và đã có mặt trong những thành ngữ thâm như (thằng) Tàuquân tử Tàu, v.v.. Thâm là nham hiểm một cách kín đáo khó lường, mà về mặt này thì Tàu thuộc hạng hoàn cầu đệ nhất. Bụng chúng thì toàn những đế quốc, bành trướng, xâm lược, bá quyền mà mồm chúng thì toàn những mật những đường để lừa bịp thiên hạ. Chuyện thì nhiều mà nhiều người cũng đã biết.  Ta phải hết sức cảnh giác trước những âm mưu thủ đoạn của chúng.
Ấy khi cần thâm thì rất hiểm nhưng khi cần ra mặt tác oai tác quái thì vô cùng trắng trợn, như trong chuyện đường lưỡi bò và mới nhất là chuyện tàu Hải giám của chúng cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 ngay trong lãnh hải Việt Nam. Trong các cuộc hội nghị thì chúng lên giọng quân tử nhưng trong thực tế thì chúng hành xử đâu có khác gì bọn cướp biển Somalia. Người Việt Nam có lạ gì cái kiểu quân tử Tàu. Quân tử Tàu chỉ là nguỵ quân tử mà thôi!