VỀ QUỐC HIỆU ĐỜI NHÀ ĐINH – Nguyễn Tài Cẩn

Đại Việt hay Đại Cồ Viêt ?

VỀ QUỐC HIỆU ĐỜI NHÀ ĐINH

Nguyễn Tài Cẩn

Gần đây đã có những sự bàn bạc khá sôi nổi xung quanh vấn đề quốc hiệu đời nhà Đinh. Chúng tôi đã được một số bạn bè (1) gửi thư và bài đến hỏi ý kiến. Nhưng chúng tôi chưa có đủ điều kiện để giải quyết triệt để, vậy sơ bộ chỉ xin có mấy lời thưa lại như sau, về phương hướng nghiên cứu.

CÙ hay CỒ ?

Trước hết là về vấn đề chữ CỒ (âm Bạch thoại qú) trong Hán ngữ. Chữ này thuộc vận bộ NGU, nhiếp NGỘ. Theo thống kê của chúng tôi, vận bộ NGU, trong cách đọc Hán Việt, đã cho chúng ta 137 chữ đọc với U, 7 chữ đọc với Ô, 5 chữ đọc với O và 11 chữ đọc với ÂU (2).
Vậy đọc CÙ thì thuận theo đa số.
Nhưng Từ điển Hán-Việt Đào Duy Anh đọc là CỒ trong CỒ NHIÊN và Từ điển Phật học Hán Việt (Kim Cương Tử chủ biên, Hà Nội, 1992, tr.276) đọc là CỒ trong CỒ ĐÀM (Gautama) thì đó cũng là điều đã có tiền lệ. Và cũng dễ hiểu vì sao trước nay quốc hiệu đời nhà Đinh thường cũng được chúng ta quen gọi là ĐẠI CỒ VIỆT.
Trên đây là nói về cách đọc Hán Việt. Còn nói về cách đọc Nôm thì dùng một chữ Hán thuộc vận bộ NGU hay vận bộ MÔ để ghi Nôm vần U, vần Ô đều được cả. Ngay thế kỷ 17 chúng ta đã có những cách ghi như sau :
‒ Dùng vận bộ NGU
– ghi Ô như trong CỖ dùng thanh phù CỤ ;
– ghi U như trong RỦ dùng chữ LŨ ;
‒ Dùng vận bộ MÔ
– ghi Ô như trong NỔ dùng chữ NỖ ;
– ghi U như trong BÚ dùng thanh phù BỐ.

(ĐẠI CỒ) + VIỆT hay ĐẠI + (CỒ VIỆT) ?

Có lẽ nên phân tích ĐẠI CỒ VIỆT thành ĐẠI + (CỒ VIỆT) chứ không nên phân tich thành (ĐẠI CỒ) + VIỆT.
Xin nói rõ ba lí do như sau đi ngược chiều với (ĐẠI CỒ) + VIỆT :
‒ Nếu cho ĐẠI CỒ ghi nhầm từ một chữ CỒ đặt theo lối hình thanh, bao gồm nghĩa phù ĐẠI và thanh phù CỒ thì trong các bản Nôm càng cổ càng rất ít khi gặp mô hình cấu tạo ấy. Xưa phần lớn người ta thường dùng lối giả tá, mượn một chữ Hán để ghi một tiếng Nôm đồng âm hay có âm gần gũi. Không phải ngẫu nhiên mà cách viết CỒ = đại+cồ, tự điển chữ Nôm của viện Hán Nôm cũng chỉ mới tìm được trong thơ Tú Xương !
‒ Nếu cho ĐẠI CỒ là cách ghi một dạng cổ song tiết (kiểu như LA ĐÁ = đá ), hay có tổ hợp phụ âm ở đầu (kiểu như BA LẠI = blái > trái) thì hiện có quá ít tiền lệ về trường hợp Đ…K… ! Trong kinh Phật thuyết… có kỵ húy đời Trần, trên tổng số hơn 100 lần dùng kiểu chữ này cũng chỉ có một ví dụ Đ.. K….mà thôi : đó là cách dùng ĐA KỶ // CƠ ? để ghi tiếng GHE với nghĩa là “nhiều” .(3)
‒ Còn nếu cho ĐẠI CỒ là 2 chữ (một Hán Việt, một Nôm) đồng nghĩa với nhau thì tổ hợp đó cũng đã bị nhiều người phản bác, nghi ngờ.
Trong lúc đó cách phân tích thành ĐẠI + (CỒ VIỆT) có thuận lợi hơn nhiều. Ít nhất ‒ như dưới đây sẽ thấy ‒ sẽ có hai khả năng có thể đưa ra, ủng hộ nó.

GIẢ THUYẾT I : CỒ VIỆT = nước VIỆT hùng mạnh có vũ khí CỒ

1/ Giả thuyết này, nhìn chung, khá quen thuộc. Theo giả thuyết này thì :

‒ CỒ VIỆT đặt theo mô hình của LẠC VIỆT, ÂU VIỆT, NAM VIỆT, MÂN VIỆT v.v… Còn chữ ĐẠI là thêm vào sau để nhấn mạnh : CỒ VIỆT > ĐẠI CỒ VIỆT là một sự sáng tạo thuộc cùng một kiểu như ĐÔNG Á > ĐẠI ĐÔNG Á trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 vừa qua. Cách sáng tạo này xưa nay khá phổ biến, trong từ ngữ thông thường cũng như trong danh từ riêng. Trong cuốn TỪ HẢI có thể dẫn :
* những ví dụ như : bất kính // đại bất kính ; đa số // đại đa số, hòa thượng // đại hòa thượng…
* rất nhiều tên chỉ các chức vụ như : nguyên soái // đại nguyên soái, tư đồ // đại tư đồ, tư mã // đại tư mã…
* và cả những danh từ riêng như : Nhục Chi // Đại Nhục Chi (quốc danh ở Tây vực), Cô Đường // Đại Cô Đường (địa danh ở Giang Tây), Kim Xuyên // Đại Kim Xuyên (tên sông ở Tứ Xuyên), Thanh hà // Đại Thanh hà (tên sông ở Hà Bắc ) v.v.
2/ Nhưng chúng ta hiện có một số cứ liệu khá quan trọng : như cách gọi CỒ VIỆT trong 2 câu đối cổ, trong Việt sử… tứ tự ca, hay cách gọi tắt CỒ VIỆT thành CỒ trong CỒ KINH, CỒ ĐÔ v.v. ( dẫn theo bài của Nguyễn Anh Huy(4)).Vì vậy chúng ta nên xoáy sâu thêm vào tên gọi CỒ VIỆT này.
‒ Như mọi người đều biết, trước nay giới nghiên cứu thường nêu 2 cách hiểu chính :
* CỒ VIỆT = nước Việt to lớn ;
* CỒ VIỆT = nước Việt thờ CỒ ĐÀM, nước Việt theo Phật giáo ;
‒ Có lẽ, nếu đứng đơn thuần về mặt ngôn ngữ mà xét, thì ít nhiều cách hiểu nào cũng đều có thể gắng gượng bảo vệ được cả :
* Phản bác rằng kết hợp tiếng Nôm với tiếng Hán thì không nên, hay đặt tính từ trước danh từ là sai ngữ pháp thì có thể tạm cãi lại với những ví dụ đã có từ lâu như BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG, NHANH TRÍ, YẾU THẾ hay khả năng tạo từ đang xảy ra trước mắt như NHỚT KẾ, VÔI HÓA…
* Còn phản bác rằng CỒ trong CỒ ĐÀM là một tiếng ngoại lai, nói tắt từ Gautama, không thể đặt trước chữ VIỆT thì cũng có thể phản bác lại bằng cách dẫn khả năng tạo ra những kết cấu hiện có như ION HÓA hay GA PHÓ, KÍP TRƯỞNG…
‒ Nhưng dầu sao, cũng chưa cách hiểu nào trên đây được mọi người hoàn toàn nhất trí. Do vậy, Nguyễn Anh Huy mới đề xuất thêm một cách hiểu thứ ba (4) : CỒ VIỆT = nước Việt hùng mạnh có vũ khí CỒ (CỒ là cây giáo).
Nên chăng là dành ưu tiên cho cách hiểu mới mẻ này ? Bởi vì, với cách hiểu này, CỒ VIỆT không những tránh được các sự phản bác trên kia mà lại còn :
* vừa hợp với thời đại : theo Nam Hải dị nhân, Đinh Bộ Lĩnh có gươm, vậy thời đại nỏ thần đã chuyển sang thời đại gươm giáo ;
* vừa có sự ăn khớp với tinh thần thượng võ, tinh thần tự hào trong các tên gọi VẠN THẮNG VƯƠNG, ĐẠI THẮNG MINH HOÀNG ĐẾ ;
* vừa có sự ăn khớp với cả cấu trúc của tên gọi LẠC VIỆT xa xưa. Xin so sánh
+ LẠC VIỆT = vùng Việt có sản vật quí hiếm : có ruộng LẠC trồng lúa nước ? hay có chim LẠC thường về trú đông ? ;
+ CỒ VIỆT = vùng Việt hùng cường có vũ khí mạnh gọi là CỒ.

GIẢ THUYẾT II : CỒ VIỆT = dạng 2 âm tiết của VIỆT

Chúng tôi cũng xin gợi thêm một giả thuyết : phải chăng, khoảng giữa thế kỉ 10, ở vùng quê hương Đinh Bộ Lĩnh, chữ VIỆT còn được đọc thành Ku/WET nên ĐẠI + VIỆT mới được ghi thành ĐẠI + CỒ / VIỆT ? Giả thuyết này dựa trên lich sử diễn biến của ngôn ngữ nên, đáng lí ra, phải trình bày theo phong cách ngôn ngữ học. Nhưng để tránh quá rắc rối nên chúng tôi chỉ xin chọn vài điểm quan trọng nhất, và gắng viết ra một cách phổ thông, đơn giản nhất.
1/ Chữ VIỆT, cũng như các chữ VI (với nghĩa là “bao vây”), VINH (như trong “vinh quang”), VỰNG (chỉ “vầng khí sáng xung quanh mặt trăng mặt trời”) v.v…, theo giới Hán học, đều thuộc thanh mẫu VÂN. Vào khoảng Đường Tống, thanh mẫu VÂN đã tách ra khỏi thanh mẫu HẠP. HẠP xưa có phụ âm G (đọc theo Quốc ngữ ), còn VÂN thì có một âm H hút vào (5).
‒ Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi :
* có khoảng 10 trường hợp VÂN thuộc khai khẩu (không đứng trước W, không đọc tròn môi ) nên tạm ghi là H ;
* và khoảng 70 trường hợp thuộc hợp khẩu (đọc tròn môi và đứng trước vần mở đầu bằng W) nên tạm ghi là Hu(W).
‒ Với quy ước như trên, có thể nói ở giai đoạn tiếng Hán trung cổ :
* VIỆT có phát âm là HuWET ; VI // VÂY có phát âm là HuWI //. HuWEI
* Nhưng phụ âm Hu hút vào và tròn môi của thanh mẫu VÂN, theo S.A. Starostin, rất linh động, có khi rụng hẳn (6).Khi đó chúng ta chỉ còn lại WET, WI // WEI và chúng sẽ dẫn đến VIỆT, VI // VÂY.
Chuyện bỏ âm đầu, chỉ giữ lại phần sau như vậy đến sau thế kỉ 17 vẫn còn, ví dụ MLỜI bỏ M còn LỜI, TLÍU TLO bỏ T còn lại LÍU LO. Và hiện nay vẫn thế, ví du vay BLEU mà bỏ B, chỉ giữ lại LƠ trong XANH LƠ. Vậy chuyện HuWET đưa đến VIỆT, HuWI //HuWEI đưa đến VI // VÂY là chuyện của một truyền thống đã kéo dài hơn 1.000 năm.
‒ Nhưng Hu cũng có trường hợp không rụng, lại chuyển thành Ku, như trường hợp VÂY đưa đến QUÂY. Trường hợp VỰNG//VẦNG cũng vậy : chúng đưa đến QUẦNG như trong câu tục ngữ QUẦNG HẠN TÁN MƯA… Rõ ràng đã có quá trình KuWEI > KuEI, KuWẦNG >KuẦNG, xóa bỏ yếu tố W ở giữa. Thế kỉ 17, A. De Rhodes cũng cho thấy MLÁC có thể bỏ L, còn MÁC. Và hiện nay chúng ta cũng còn thấy có thể vay CRÈME, bỏ R, còn KEM. Vậy chuyện sản sinh ra QUÂY, QUẦNG cũng đã đi theo một truyền thống có mặt trên 10 thế kỉ.
2/ VIỆT cũng có trường hợp chuyển từ HuWET đến KuWET, nhưng VIỆT không đưa đến QUYỆT theo kiểu của VÂY//QUÂY, VẦNG// QUẦNG. Vì sao ? Đó là vì ‒ theo ngôn ngữ học ‒ chúng ta đã có QUYỆT trong QUỈ QUYỆT, nếu VIỆT còn cho thêm QUYỆT nữa thì gây thêm đồng âm, trở ngại cho việc giao tiếp.
‒ Để bù lại, KuWET sinh ra cách nói CỒ VIỆT. Tiếng CỒ là do phụ âm tròn môi Ku- của từ KuWET được âm tiết hóa mà thành (tức được tách riêng, ghi bằng 1 âm tiết)
‒ Cách làm này cũng giống như TRÔNG, TRỐNG thế kỉ 17 có TL nhưng xưa KL, nên phụ âm đầu K được ghi Nôm thành CÁ, thành CỔ (TRÔNG > CÁ LUNG ở Kinh Phật thuyết ; TRỐNG > CỔ LỘNG ở trên chuông đời Vĩnh Tộ vùng Yên Phong). Hay giống như gần đây, S trong Stalin, KH trong Khrusôp có hồi đã đưa đến hai âm tiết XÍT, KHỜ trong cách phiên âm thành XÍT-ta-lin và KHỜ-rút-sốp. Hoặc, để gần cuộc sống chúng ta hơn nữa, cũng có thể dẫn đến cả chuyện phụ âm C- trong CRÈME đã đưa đến tiếng CÀ trong cách nói CÀ REM mà Nguyễn Quang Sáng đã đưa vào trong tác phẩm “Vểnh râu” của mình. Rõ ràng chuyển Ku (trong KuWET) thành CỒ (trong CỒ VIỆT) là một cách làm cũng đã trở thành một mô hình được tuân thủ suốt từ đời nhà Đinh đến nay.
‒ Còn sự tồn tại song song, đồng thời của cả 2 cách nói VIỆT và CỒ VIỆT thì có gây phiền phức gì không ? Xin thưa rằng không ! Bởi vì :
* Nhìn chung, chuyện một chữ gốc Hán mà có đến 2 cách đọc vốn là chuyện bình thường. Hơn nữa chúng ta lại còn có thói quen ‒ còn phổ biến đến tận ngày nay ‒ là trong tiếng thuần Việt, vừa có thể nói CÃI NHÂY vừa có thể nói CÃI CÙ NHÂY, vừa có thể nói ĐI THỌT, vừa có thể nói ĐI CÀ THỌT v.v…
* Mà ở Việt Nam, lối biến một dạng đơn âm thành một dạng song âm như vậy cũng thấy có cả ở từ gốc Hán : trong phần dịch Nôm bản kinh PHẬT THUYẾT chúng ta vừa gặp cả XƯỚNG, XA, KÍNH, THUYẾT vừa gặp cả A XƯỚNG, KHẢ XA, XÁ KÍNH, XÁ THUYẾT ;
* Vậy có khác gì vừa nói cả VIỆT, vừa nói cả CỒ VIỆT !
3/ CHÚ THÍCH THÊM :
‒ Nếu so sánh XA với KHẢ XA, XƯỚNG với A XƯỚNG, KÍNH với XÁ KÍNH, THUYẾT với XÁ THUYẾT chúng ta thấy ở đâu tiền âm tiết cũng chỉ có giá trị ngữ âm : KHẢ ứng với KH // KHa // KHu… ; XÁ ứng với S // Sa // Su… (S đọc X theo Bắc Bộ và quốc tế) ; còn A ứng với một âm tắc thanh hầu ?A // ?U…. Nếu so với cả từ ngữ bản địa thì cũng vậy : VUI lúc ghi BÔI, lúc ghi TƯ BÔI, thêm TƯ chỉ là để phản ảnh âm tiết TA có trong cách đọc cổ TA PUI hiện còn giữ ở Rục. Vậy CỒ trong CỒ VIỆT chắc cũng chỉ có giá trị về ngữ âm như KHẢ, như A, như XÁ như TƯ vừa nói ở trên. Giải thích rằng CỒ có ý nghĩa này, ý nghĩa nọ chắc là chuyện tìm hiểu, phỏng đoán của đời sau.
‒ Chúng ta đã thấy những dạng song tiết được cấu tạo giống như kiểu CỒ VIỆT nhưng có vỏ ngữ âm không giống. Nếu nay muốn có những tiền lệ đọc lên nghe gần gũi hơn thì nên dẫn những ví dụ như :
* CÙ BẤT CÙ BƠ cùng nghĩa với VẤT VƠ. Về âm xin so sánh CÙ BẤT với VẤT ; CÙ BƠ với VƠ.
* Hay so sánh CÙ BÙNG với VỒNG (trong CẦU VỒNG) :
+ CÙ BÙNG có ở trong tục ngữ Sổ CÙ BÙNG lấy thùng mà đựng. SỔ trong A. De Rhodes có nghĩa là “cái mống”.
+ VỒNG có ở trong tục ngữ MỐNG đông VỒNG tây.
VỒNG vốn xuất phát từ chữ HỒNG, cùng một nghĩa như vậy, ở trong tiếng Hán. HỒNG thuộc thanh mẫu HẠP, vốn phát âm là GWONG, nhưng sau chắc cũng đã chuyển thành KuWONG. So sánh chuyện KuWONG (< GWONG ) mà đưa đến CÙ BÙNG // CẦU VỒNG với chuyện KuWET (< HuWET) mà đưa đến CỒ VIỆT thì thấy quả cũng gần gần như nhau ! Còn nếu đọc là CÙ VIỆT thì hai bên lại càng gần nhau hơn nữa !
4/ Nói tóm lại, ý kiến của chúng tôi là :
‒ Chữ VIỆT gốc Hán, vốn có vỏ ngữ âm là HuWET. Nhưng dưới tác động của lối nói năng trong xã hội của người bản địa, nó đã tách đôi đi theo 2 hướng diễn biến khác nhau, đưa đến hai kết quả khác nhau :
* Một hướng diễn biến xẩy ra chung với rất nhiều chữ khác nữa là để rụng mất phụ âm hút vào và tròn môi ở đầu (phụ âm Hu), chỉ còn lưu lại bộ phận WET ở sau. Trường hợp này ta có cách đọc đơn âm là VIỆT.
* Một hướng diễn biến nữa, rất cá biệt, là HuWET chuyển thành KuWET, rồi phụ âm Ku tách ra thành một âm tiết riêng là CỒ, vần WET còn lại vẫn đọc VIỆT. Trường hợp này ta có dạng song âm là CỒ VIỆT.
‒ Hai lối nói VIỆT và CỒ VIỆT không lọai trừ nhau. Thời Đinh Bộ Lĩnh chúng cùng song song tồn tại. Bởp vì xung quanh chúng nó người ta cũng đã có thói quen ‒ lưu đến tận mãi ngày nay ‒ là hay dùng những lối nói nước đôi như CÁI NGOÉO // CÁI CÙ NGOÉO hay như ví dụ CÃI NHÂY // CÃI CÙ NHÂY đã dẫn ở trên kia.
‒ Chắc Đinh Bộ Lĩnh thích lối nói 2 âm tiết nên triều đình ghi quốc hiệu là ĐẠI CỒ VIỆT. Nhưng lò gạch trong vùng vẫn thích nói gọn nên vẫn ghi là ĐẠI VIỆT(*).
‒ Về sau VIỆT càng ngày càng phổ biến, lấn át hẳn CỒ VIỆT.

Từ ĐẠI CỒ VIỆT đến CỒ VIỆT và đến CỒ…

Còn câu chuyện vì sao sau khi cách đọc đơn âm là VIỆT đã được phổ biến vẫn có tài liệu ghi là CỒ VIỆT hay thậm chí còn ghi tắt là CỒ thì có thể giải thích bằng 2 lí do như sau :
‒ cách viết trong văn tự bao giờ cũng có tính cách bảo thủ, lưu lại vết tích ảnh hưởng lâu dài hơn là cách đọc, cách phát âm ;
‒ và cách ghi của xã hội không phải bao giờ cũng là một cách ghi đơn giản, 100% nhất luật trong mọi hoàn cảnh.
1/ Ví dụ về tính bảo thủ của văn tự :
‒ Như hiện nay, ở phương ngữ miền Bắc chúng ta nói CON GIAI nhưng trong Quốc ngữ vẫn viết CON TRAI ; còn trong chữ Nôm TRAI vẫn viết NAM+LAI hay BA+LAI.
Vậy thì trước kia cũng thế : dầu đã có dạng đơn âm là VIỆT nhưng lúc viết, các thế hệ con cháu về sau có khi vẫn dùng lại dạng cổ song âm là CỒ VIỆT hay thậm chí có khi giữ lại chỉ còn một âm tiết CỒ ở đầu. Gọi tắt tên riêng là một truyền thống. Đầu thế kỉ 20, thời Đông Kinh nghĩa thục, sau khi đã đọc tân thư theo lối người Việt, đã làm quen với những tên xa lạ như MẠNH ĐỨC TƯ CƯU hay như LƯ THOA, các lớp nhà Nho chúng ta vẫn có thể nói đến chủ thuyết của các “ cụ LƯ, cụ MẠNH ”, hoàn toàn theo mẫu của CỒ trong CỒ ĐÔ, CỒ KINH thuở trước !
‒ Chúng ta không nên chê trách cách ghi của các nhà viết sử, các nhà làm câu đối hoặc làm thơ đời xưa.
2/ Ví dụ về cách ghi không đơn giản, nhất luật 100 % :
‒ Như trong cùng một bản giải âm kinh Phật thuyết…..chữ VUI khi ghi bằng BÔI (ví dụ ở trang 13/a), khi ghi bằng 2 chữ TƯ và BÔI viết rời nhau (ví dụ ở trang 46/a), khi ghi bằng cách cọng TƯ với BÔI thành một kí hiệu ghép (ví dụ ở trang 20/a).
‒ Hoặc như gần đây, trong cùng một thành phố, vừa dùng cả tên gọi mới vừa dùng cả tên gọi cũ : THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH // SÀI-GÒN. Các báo SÀI GÒN TIẾP THỊ, SÀI GÒN DOANH NHÂN sở dĩ vẫn giữ lại tên gọi cũ chắc là vì muốn tỏ ra tôn trọng thói quen của quần chúng, tôn trọng một truyền thống đã có từ lâu đời.
‒ Vậy chắc thế kỉ 15 cũng thế : rất có thể Ngô Sĩ Liên vừa viết ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ vừa vẫn tôn trọng tên gọi cũ ĐẠI CỒ VIỆT, tuân theo truyền thống cũ, được bảo toàn trong thư tịch cổ hay trong trí nhớ của dân gian.
3/ Và cũng tất nhiên,đứng trước các cách ghi cổ có khi đời sau đọc lên không thật hiểu và người ta thường đưa ra những cách giải thích khác : đó là giải thích theo cái giới Ngôn ngữ học gọi là từ nguyên thông tục.
Chúng ta hiện chưa biết đâu là cách giải thích đúng theo thực tế lịch sử, đâu là cách giải thích theo từ nguyên thông tục. Chúng ta đang cần phải có một sự dày công nghiên cứu nữa mới mong đưa ra được một ý kiến giải đáp thực sự chắc chắn.. Trước mắt, chỉ mới dám xin nêu lên một số hướng gợi ý, để cùng nhau suy nghĩ, cùng nhau tiếp tục tìm tòi mà thôi.

Nguyễn Tài Cẩn

(1) Chúng tôi đã nhận được bài và/hoặc thư của tiến sĩ Lê Thành Lân (Hà Nội), bác sĩ Nguyễn Anh Huy (Huế) và Phan Văn Thắng, tổng biên tập tạp chí Văn hóa Nghệ An (Vinh). Chúng tôi xin thành thật tỏ lòng biết ơn.
(2) Những cứ liệu thống kê sơ bộ này đều đã được in trong cuốn sách của chúng tôi : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, tái bản năm 2000.
(3) Xin xem Hoàng Thị Ngọ : Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Hà Nội,1999.
(4) Xin xem Nguyễn Anh Huy : 1) CỒ VIỆT chứ không phải ĐẠI CỒ VIỆT ; 2) Lộ trình của quốc hiệu CỒ VIỆT.
Bác sĩ Nguyễn Anh Huy đã chú thích đầy đủ về công trình các tác giả đi trước, nên chúng tôi chỉ xin dẫn lại từ bài của bác sĩ.
(5) Theo nhà Hán học nổi tiếng S. A. Starostin, thanh mẫu VÂN có phụ âm H – hút vào, phải ghi bằng kí hiệu khác H – bình thường. Nhưng để tiện cho các bạn đọc không cần đi sâu vào ngữ âm lịch sử, chúng tôi chỉ ghi đại khái, không thêm dấu móc chỉ sự hút vào ở trên kí hiệu h, hoặc tạm không phân biệt cách ghi U đọc theo tiếng Việt với cách ghi U đọc theo tiếng Pháp. Thay vì bảng ghi âm quốc tế, chúng tôi tạm dùng bảng chữ cái Quốc ngữ in hoa. Thanh điệu chúng tôi cũng xin tạm gác, không ghi.
(6) Cũng theo S. A. Starostin, ở thanh mẫu VÂN, trước vần có W, phụ âm rất linh động, có thể khi giữ khi không (Xin xem cuốn Phục nguyên hệ thống âm vị tiếng Hán thời thượng cổ, bản tiếng Nga, Moskva, 1989.
(*) Các cuộc khai quật ở Hoa Lư cho thấy các viên gạch xây dựng đều được làm tại chỗ và mang tên « Đại Việt quốc quân thành chuyên » (chú thích của Diễn Đàn).
Nguồn: Diễn Đàn Forum

Bàn về khái niệm từ Việt cổ (Nguyễn Đông Hưng)

Chữ Nôm là một sáng tạo độc đáo của dân tộc ta được chế tác trên chất liệu chữ Hán. Cứ liệu lịch sử cho thấy, những chữ Nôm đầu tiên chủ yếu được dùng để ghi tên người tên đất trong các bi kí, mộ chí, gia phả,… Sau đó, khi đã phát triển đến một mức độ tương đối hoàn thiện thì chữ Nôm được dùng để sáng tác văn học, ghi chép văn hóa dân gian, diễn âm các tác phẩm chữ Hán. Rõ ràng, chữ Nôm ra đời đáp ứng nhu cầu rất lớn của dân tộc ta về nhiều phương diện như ghi chép, giao tiếp, biểu đạt thái độ, tư tưởng, tình cảm,… Ngày nay, tuy chữ Nôm không còn được sử dụng rộng rãi như trước, nhưng vẫn không thể phủ nhận vai trò của nó, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân tộc. Vì thế, trước nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có tính chuyên sâu về chữ Nôm, trong đó, quyển Lí thuyết chữ Nôm văn Nôm(1) là một trong những công trình được xem là tương đối hoàn chỉnh, có hệ thống, đồng thời cũng có ý nghĩa(2) và giá trị rất cao!
Đương nhiên, bên cạnh giá trị và đóng góp, công trình nghiên cứu nào cũng có thể mắc một vài khuyết điểm cần sự bổ sung, sửa chữa của nhiều người. Lí thuyết chữ Nôm văn Nômcũng vậy, những ai đọc qua quyển sách ấy sẽ dễ dàng nhận thấy giá trị và đóng góp to lớn của nó, còn ở đây, chúng tôi với tư cách là độc giả tâm đắc của quyển sách, cũng là người có chút tâm đắc với thứ văn tự xa xưa của dân tộc, xin mạn phép trình bày đôi điều chưa thỏa đáng (theo chúng tôi) trong sách.
Những điều chúng tôi trình bày dưới đây xuất phát từ mục Các từ Việt cổ trong văn thơ Nômbắt đầu từ trang 348.
Trước tiên, xin xác định khái niệm từ cổ trong tiếng Việt và từ Việt cổ.
1. Khái niệm từ cổ trong tiếng Việt
Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992, mục cổ ngữ (tức từ cổ-NĐT): tiếng nói ngày xưa;
Hiện đại Hán ngữ từ điển, Lã Thúc Tương (chủ biên), Thương vụ ấn thư quán xuất bản, Trung Quốc, 1998, mục cổ ngữ: cổ đại đích từ ngữ (từ ngữ xưa);
Tác giả Nguyễn Ngọc San cũng đưa ra nhận định về từ cổ như sau: “Từ cổ theo quan niệm truyền thống không phải là những từ có lịch sử lâu đời nhất trong một ngôn ngữ, mà là những từ đã được lưu lại trong các văn bản viết cổ hay văn bản miệng cổ (ca dao, tục ngữ) mà hiện nay không còn được sử dụng nữa, và để hiểu được chúng, người ta phải dùng đến các loại từ điển từ nguyên và các từ điển điển cố…”(3)
Qua ba định nghĩa trên, chúng ta thấy từ cổ là những từ ngữ (hoặc tiếng nói) được sử dụng vào thời xưa trong ngôn ngữ của một dân tộc. Tuy nhiên, ba định nghĩa trên vẫn chưa xác định đầy đủ tiêu chí của khái niệm từ cổ. Trên thực tế, khái niệm này “vốn là một khái niệm không được rõ ràng”(4). Theo chúng tôi, từ cổ theo nghĩa chung phải là những từ được sử dụng vào thời xưa của một dân tộc, có nguồn gốc bản xứ hoặc vay mượn từ một / các ngôn ngữ khác (cùng hệ hoặc không cùng hệ) và hiện nay không còn được sử dụng trong ngôn ngữ của dân tộc đó. (Đúng là để hiểu được chúng, người thời nay “phải dùng đến các loại từ điển từ nguyên và từ điển điển cố”.)
Như vậy, từ cổ trong tiếng Việt là những từ được dân tộc ta sử dụng vào thời xưa, có nguồn gốc bản xứ hoặc vay mượn từ các nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer, Tày-Thái, Mường, Hán (có thể cả ngôn ngữ Châu Âu) và hiện nay không còn được sử dụng trong tiếng Việt.
2. Khái niệm từ Việt cổ
Từ khái niệm rộng về từ cổ trong tiếng Việt như trên, chúng ta dễ dàng đi đến xác định khái niệm hẹp về từ Việt cổ như sau, đó là những từ được dân tộc ta sử dụng vào thời xưa, có nguồn gốc bản xứ hoặc vay mượn từ các nhóm ngôn ngữ cùng hệ (Mon-Khmer, Tày-Thái, Mường) và hiện nay không còn được sử dụng trong tiếng Việt.
Hai khái niệm từ cổ trong tiếng Việt và từ Việt cổ không hoàn toàn trùng khớp với nhau. Chúng không phải là hai vòng tròn giao nhau mà là hai vòng tròn đồng tâm có đường kính khác nhau. Trong quyển sách của mình, Nguyễn Ngọc San đã đánh đồng hai khái niệm trên nên đưa ra danh sách các từ Việt cổ trong văn thơ Nôm nhầm với rất nhiều từ gốc Hán. Chúng tôi xin trình bày cụ thể như sau:
1. Mượn từ Hán Việt
Từ Hán Việt là bộ phận rất quan trọng trong từ vựng tiếng Việt. Theo nguyên tắc, mỗi chữ Hán đều có một hoặc vài âm Hán Việt, nhưng không phải âm Hán Việt nào cũng du nhập vào tiếng Việt trở thành từ Hán Việt. Tuy nhiên, trong các văn bản Nôm, bên cạnh hệ thống từ Hán Việt thông dụng, đôi khi cũng sử dụng cả một số âm / từ Hán Việt không thông dụng trong tiếng Việt hiện đại. Các từ Việt cổ trong văn thơ Nôm có cả hai trường hợp như thế.
1.1 Từ Hán Việt thông dụng:
– gián 諫  (can gián, khuyên can): Tính cương ai gián chẳng nghe mọi điều (tr. 391-392);
– kham 堪  (cam chịu, chịu đựng): Kham cười anh vũ mắc chưng lồng (tr. 398);
– loạn thường亂常  (làm rối loạn cương thường): Xây trồng ra thói trăng hoa loạn thường (tr. 408);
– nghiệt孽  (yêu nghiệt, tội ác): Chút còn dư nghiệt ngoài thành khoe khoang (tr. 429);…
1.2. Âm / từ Hán Việt không thông dụng:
– chủ quỹ主櫃  (người vợ cả): Hiềm trong chủ quỹ chưa hòa có ai (tr. 370);
– mâu眸 (con ngươi, tròng mắt): Mâu tử là đôi con mâu (tr. 371);
– na儺  (ôn dịch): Đốt trúc khuơ na dắng lỗ tai (tr. 420);
– tẫn mẫu牝牡 (cái và đực): Tẫn mẫu sấp ngửa sắp bày úp che (tr. 452),…
Ngoài ra, còn có thể kể ra nhiều từ khác như đàn hặctiên sàmgia nương,… đều là từ Hán Việt. Nhưng mỗi trường hợp chúng tôi chỉ nêu ra vài ví dụ minh họa. Những từ ngữ trên tuy xuất hiện trong văn bản Nôm nhưng không phải ghi từ Việt cổ mà là những đơn vị từ vựng được ghi bằng chữ Nôm vay mượn cả âm và nghĩa chữ Hán (từ gốc Hán). Những chữ này khi xuất hiện trong văn bản chữ Hán thì chúng hoàn toàn là chữ Hán. Chỉ khi nào chúng xuất hiện trong văn bản Nôm mới được gọi là chữ Nôm. Nếu liệt kê những từ ngữ trên vào danh sách từ Việt cổ thì có lẽ tất cả từ Hán Việt mà hiện nay tiếng Việt sử dụng cũng đều là từ Việt cổ.
2. Mượn từ Tiền Hán Việt
Từ Tiền Hán Việt cũng là một bộ phận của từ vựng tiếng Việt. Bộ phận này nếu không phân biệt kĩ sẽ dễ nhầm lẫn với từ Hán Việt Việt hóa và nghĩa của chữ. Các từ Việt cổ trong văn thơ Nôm không có sự nhầm lẫn như thế nhưng lại xem lớp từ này là từ Việt cổ.
– bượp (âm Hán Việt là phạp 乏: thiếu): Đời bượp văn chương uổng mỗ danh (tr. 362). Phạpvà bượp có mối quan hệ về ngữ âm, chúng biến đổi theo một quy luật ngữ âm nhất định. Chúng tôi xin đưa ra một vài ví dụ tương tự về sự biến đổi ngữ âm giữa từ Hán Việt – từ Tiền Hán Việt để chứng minh cho quy luật này như sau (mỗi từ phía dưới chúng tôi cũng làm giống như vậy):
nạp 納― nợp / nượp (nờm nợp / nườm nượp);
[lâmlạp [林]拉 ― [lườmlượp (đông đảo);
hạp 盒― hộp;
nam 南― nôm / nồm;…
– chiềng (âm Hán Việt là trình 呈: tâu trình, tuyên bố): Chiềng làng chiềng chạ thượng hạ tây đông (tr. 368). Ví dụ tương tự:
tỉnh 井― giếng;
kính 鏡― kiếng;
chinh 正― giêng;
chinh 鉦― chiêng;
thinh linh / thanh lanh 清靈 ―thiêng liêng;
thành 城清靈 ― thiềng;… – nàn (âm Hán Việt là nạn 難: điều rủi ro nguy hại): Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương (tr. 422). Ví dụ tương tự:
loạn 亂― loàn;
tự自 ― từ;
nguyện 願 ―nguyền;
dụng  dùng;
niệm 念 ― niềm;
vạn  vàn;
nệ   nề;
cộng  cùng;… – tày / tầy(5) (âm Hán Việt là tề : ngang bằng): Chúc thánh cho tày Nghiêu Thuấn nữa (tr. 451). Ví dụ tương tự:
tê (tê giác)  tây;
thế ― thay(6);
lễ  lạy;
phi  ¯ bay;
thi  thây;…
Các từ bượpchiềngnàntày rõ ràng không phải là từ Việt cổ vì chúng chẳng những có quan hệ về ngữ âm mà còn có quan hệ về ngữ nghĩa với các từ phạptrìnhnạntề trong tiếng Hán. Mặt khác, nếu đó là những từ Việt cổ thì tại sao hiện nay không ít từ vẫn còn được sử dụng trong tiếng Việt (như phàn nàntày trời, hay như đìa (ao hồ), cúng dàngxum vầy,… mà tác giả đã liệt kê trong sách)?
Theo chúng tôi, những từ Hán Việt và Tiền Hán Việt trên đây không phải là từ Việt cổ, riêng những từ hiện nay không còn sử dụng (natẫn mẫubượp,…) chỉ có thể gọi là từ cổ trong tiếng Việt.
3. Dịch nghĩa chữ Hán
Xét các mục từ được giải thích trong sách như sau:
– con tuyết: kĩ nữ: Cắp cầm con tuyết tình cờ đến (tr. 371);
– nhà tĩnh: nơi ở của các sư tăng: Không môn già lam, tĩnh xá:nhà tĩnh (tr. 429);
– nước trăng: kinh nguyệt: Tự nhiên phải khí dương âm, nước trăng tự ấy ai cầm chẳng ra (tr. 435);…
Chúng tôi thấy xếp các từ ấy vào dạng từ cổ là chưa thuyết phục. Vì: thứ nhất, chúng không thật sự khó hiểu đối với người hiện nay; thứ hai, chúng là những từ được chuyển dịch từ chữ Hán thì đúng hơn.
– con tuyết được dịch từ tuyết nhi雪兒(nhi là ‘con’), nghĩa là người con gái trẻ xoa kem trắng trên mặt, chỉ những cô gái làm việc trong lầu xanh(7).
– nhà tĩnh được dịch từ tĩnh xá 靜舍 hoặc tĩnh thất (xá là ‘ngôi nhà đơn sơ’, thất là ‘nhà ở’) nghĩa là ngôi nhà yên tĩnh để tu tập.
– Về từ nước trăng chúng tôi lí giải như sau: kinh nguyệt 經 月 là hiện tượng sinh lí của phụ nữ, có yếu tố nguyệt là trăng, tháng. Kinh nguyệt còn một từ đồng nghĩa là kinh thủy 經 水(8), có yếu tố thủy là nước. Vậy nước trăng là dịch kết hợp từ chữ thủy trong kinh thủy với chữnguyệt trong kinh nguyệtNước và trăng (cũng như thủy và nguyệt) đều là những từ thông dụng hiện nay, và nước trăng chỉ là một cách dịch chữ Hán của người xưa để chỉ kinh nguyệt chứ không phải là từ Việt cổ.
Bên cạnh đó, ngoài từ Hán Việt và Tiền Hán Việt đã nói trên, chúng tôi thấy sách còn thu nhận cả từ Hán Việt Việt hóa, đó là vỗ(9) (âm Hán Việt là phủ ) trong câu Đức muôn vỗ chúng ân ngàn trị dân (tr. 473).
Trên đây chúng tôi trình bày một vài thiển ý mong có thể phần nào làm sáng tỏ vấn đề từ Việt cổ và những từ đ?ợc cho là từ Việt cổ trong Lí thuyết chữ Nôm văn Nôm, nếu có gì sai sót xin quý vị độc giả chỉ giáo để chúng tôi có dịp học hỏi thêm.
Chú thích
(1) Nguyễn Ngọc San, Lí thuyết chữ Nôm văn Nôm, Nxb. Đại học Sư phạm, 2003.
(2) Quyển sách được in với sự tài trợ của quĩ hỗ trợ và phát triển văn hóa Việt Nam-Thụy Điển.
(3) Nguyễn Ngọc San, Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb. Đại học sư phạm, 2003.
(4) Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, sđd.
(5) Trong Tiếng nói nôm na (Nxb. Văn nghệ Tp. HCM, 1999), Lê Gia cho rằng chữ này có nguồn gốc từ chữ tài 裁 (cắt cho bằng), đó cũng là điều nhầm lẫn.
(6) Trong Tìm về cội nguồn chữ Hán (Nguyễn Văn Đổng dịch), Nxb. Thế Giới, 1997, Lý Lạc Nghị cho rằng thay là âm Hán Việt Việt hóa của thế.
(7) Trong Bắc mộng tỏa ngôn có ghi câu chuyện khác: Tuyết Nhi là vợ lẽ của Lý Mật, giỏi ca múa. Mỗi khi tân khách có văn chư?ng hay, Lý Mật đều bảo Tuyết Nhi hiệp âm luật để ca múa làm vui.
(8) Theo Từ nguyên, Thương vụ ấn thư quán, Đài Loan, 1963 và Từ hải, Trung Hoa thư cục ấn hành, 1967.
(9) Trong Tiếng nói nôm na, sđd, Lê Gia cho rằng vỗ (vỗ về) có nguồn gốc từ chữ vũ là múa. Theo chúng tôi, như vậy không đúng.
Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ  và Đời sống, số 11 năm 2006

(*) ThS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tp. HCM.

ĐIỂM QUA VỀ TÌNH HÌNH TỪ CỔ TRONG CUỐN TỪ ĐIỂN CHỈ NAM NGỌC ÂM GIẢI NGHĨA – Hoàng Thị Ngọ

48. Điểm qua về tình hình từ cổ trong cuốn từ điển CHỈ NAM NGỌC ÂM GIẢI NGHĨA (TBHNH 2001)
Cập nhật lúc 22h51, ngày 22/03/2007

ĐIỂM QUA VỀ TÌNH HÌNH TỪ CỔ TRONG CUỐN TỪ ĐIỂN CHỈ NAM NGỌC ÂM GIẢI NGHĨA

HOÀNG THỊ NGỌ

Tiến sĩ. Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Hiện nay, vấn đề từ ngữ cổ là một trong những vấn đề nan giải đối với người đọc, người học khi tiếp xúc, tìm hiểu các văn bản Hán Nôm. Không thể hiểu thấu đáo một văn bản nếu không hiểu hết được nghĩa của các từ cổ trong văn bản. Đặc biệt, với các văn bản Nôm càng cổ, vấn đề lại càng đặt ra bức thiết hơn. Cho đến nay, ngày càng có nhiều người quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu này. Nhưng các công trình hiện có chưa thể bao quát được toàn bộ từ cổ trong các văn bản Hán Nôm, cần phải có sự bổ sung, đóng góp công sức của nhiều người, nhiều thế hệ. Trong Hội nghị này, chúng tôi xin điểm qua kết quả tìm hiểu về từ cổ trong cuốn từ điển song ngữ cổ nhất hiện còn là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.
Trước hết xin nhắc lại về khái niệm từ cổ. Từ cổ là những từ ngữ từng được sử dụng trong lịch sử nhưng qua quá trình phát triển của ngôn ngữ đến nay không còn được sử dụng nữa, nó chỉ còn lưu lại dấu vết ở 3 trường hợp sau:
– Chỉ còn trong các văn bản cổ (ví dụ: áng (cha), nạ (mẹ), mựa (chớ, đừng)…
– Trong các tổ hợp song tiết đẳng lập nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ và chỉ được xác định giá trị, ý nghĩa trong mối tương quan với yếu tố kia (ví dụ: han trong hỏi han, nghê trong ngô nghê…).
– Nếu còn xuất hiện trong tiếng Việt hiện đại thì cũng đã có sự thay đổi về ngữ âm, ngữ nghĩa và khả năng kết hợp từ (ví dụ: Phủ phê –> phả phê; xấu thiết tha (chỉ mức độ xấu lắm) –> thiết tha (chỉ tình cảm gắn bó sâu sắc hoặc sự mong muốn, khẩn cầu); con (chỉ người: con bãi, con bợm, con chơi, con mày, con đòi trai… –> chỉ cả đồ vật, vật: con dao, con cá, con lươn…
Với những tiêu chí về từ cổ như trên, từ trước đến nay có thể tra tìm chúng trong một số từ điển như: Việt Bồ La của A. de Rhodes, 1651; Việt – Pháp Sài Gòn của M. Génibrel. 1898, Đại Nam quốc âm từ vị của Huỳnh Tịnh Của; Việt – La tinh của Pigneau de Behaie, 1772; Việt – La tinh của Taberd, 1838… Gần đây, năm 2001 mới thực sự có 2 cuốn từ điển từ cổ: Từ điển từ Việt cổ của hai tác giả Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện và Từ điển từ cổ của tác giả Vương Lộc. Nhưng thực sự các cuốn từ điển trên chưa thể bao quát được toàn bộ số từ cổ có trong các văn bản của kho thư tịch Hán Nôm. Hơn nữa các từ cổ này lại thường được ghi dưới dạng chữa Nôm, sau này một số được ghi bằng chữ quốc ngữ cổ nên việc phát hiện cũng không phải dễ dàng. Nó phải được phát hiện trong từng văn bản cụ thể và được xác định ý nghĩa trong càng nhiều ngữ cảnh càng tốt. Chúng tôi đã khai thác từ cổ trong một số tác phẩm thông qua sự rà xét chữ Nôm và lần này chúng tôi tiến hành trên văn bản Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa. Đây là một cuốn từ điển đối chiếu Hán Việt cổ nhất hiện còn, lần đầu tiên được Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm giới thiệu năm 1985. Trong phần khảo cứu, tác giả đã giới thiệu và phân tích, khẳng định một số từ cổ. Dựa vào kết quả phiên âm của Trần Xuân Ngọc Lan, các tác giả của hai cuốn Từ điển từ cổ in năm 2001 cũng đã tìm thêm được nhiều từ nữa. Trên cơ sở chữ Nôm có đối chiếu với phần chữ Hán tương ứng, có tham khảo bản phiên âm, chú thích của Trần Xuân Ngọc Lan, chúng tôi đã tìm được 218 từ cổ, xuất hiện với tổng số 496 lần trong văn bản. Từ đó, chúng tôi đã có một bảng thống kê đầy đủ theo thứ tự, âm đọc, chữ Nôm, nghĩa chữ, tần số xuất hiện, xuất xứ, ngữ cảnh. Trong bài này chúng tôi chỉ xin điểm qua như sau:
Trong CNNÂ có mặt tương đối đầy đủ những từ cổ thường gặp trong các bản Nôm như: áy, ghẽ, ghê, ghín, mựa, chỉn, chưng, đăm, chiêu, đề đa, hoà, kẻ chợ, ngõ ngang, nữa, óc, sốt, tạn, thuở,… những từ này được thống kê đầy đủ nhưng xin phép không đề cập đến ở đây.
Chúng tôi xin nêu những trường hợp chỉ thấy xuất hiện trong CNNÂ. Một số trường hợp tuy xuất hiện chỉ có một, hai ngữ cảnh nhưng ý nghĩa rõ ràng và số ít có ghi trong từ điển của A. de Rhodes.
* Dùng cáicon:
Dùng cái để gọi hầu hết những động vật nhỏ mà sau này được gọi là con như: Cái ba ba, cái bạng, cái bọ hung, cái cáy, cái chả khoang, cái chích choè, cái chim công, cái còng, cái cua, cái cua càng, cái cuốc, cái da, cái dạm, cái dế, cái don, cái dơi, cái dơi vàng, cái đỉa, cái đười ươi, cái giá, cái giun, cái hà đồ, cái hến, cái lươn, cái mại, cái mối, cái muỗi, cái ngan, cái ngao, cái nhặng, cái rùa, cái ruồi, cái sam, cái sắc, cái sên, cái sò, cái sứa, cái tê tê, cái tò vò, cái tôi tôi, cái tôm vàng, cái trai, cái trạch, cái vích, cái vịt.
* Dùng từ con chưa có sự phân biệt rõ tính chất, giới tính, cách gọi rất khác ngày nay, có thể thấy như:
con bợm: con hát nói chung (11 – 11b)
con bãi, con chơi: gái mãi dâm (9 -11b,10 -11b)
con đòi trai: người hầu, người ở là con trai (5 -11b, 13b)
con đòi gái: người hầu, người ở là con gái (12 – 10b)
người con chèo: người lái đò (13 – 31)
con mắt cá tay: mắt cá tay (16 – 15b)
hai chân con ngươi: hai mắt cá chân (4 – 16a)
con sâu: con ngươi trong mắt (7 – 15a)
Từ con đã được dùng để gọi những động vật lớn như:
Trường nhĩ hiệu là con lừa (1 – 58b)
Ninh dương, đồng dương con dê (1 – 58b)
Hoàng mi hiệu óc con nai (2 – 58b)
Chương kinh chỉn thực con mang (7 – 58b)
Nhưng trong loại Mao trùng lại thấy ghi cái đười ươi.
* Dùng từ song tiết để gọi một số các động thực vật như:
bà cắt: chim cắt (9 – 56a)
bồ cắt: chim cắt (10 – 57b)
bồ cò: con cò (8 – 56a, 57b)
bồ cóc: con cóc (13 – 63a)
bệnh rết: con rết (7 – 66a)
bồ đài: mo cau (10 – 71b)
bồ nâu: củ nâu (7 – 71b)
bồ ngưu: hoa bồ ngưu (5 – 69a)
bồ nông: chim bồ nông (10 – 56b)
bồ cu: chim cu (5 -56b)
lồ mướp: mướp (7 – 77a)
lồ vừng: vừng (7 – 76a)
la đá: đá (6,7 – 6a)
* Dùng những từ rất khác ngày nay để gọi các bộ phận trong cơ thể người, ngoài các trường hợp đã nêu trên như con mắt cá tay, con ngươi (mắt cá chân), con sâu (con ngươi trong mắt), còn có các trường hợp như:
càng hàm : xương quai hàm
cằm ấn đường : xương bên trên chỗ hai lông mày giáp nhau
trái tay: bắp tay (7 – 17a)
trái chân: bắp chân (8 – 16a)
trái trôn: mông (12 – 17a)
* Chỉ các đồ vật:
cang la: cái thúng có quai đeo (13 – 44a)
cũi bát: chạn bát (9 – 44a)
dao tu rích: gươm ngắn (15 – 45a)
đầu lốc: hòn đá chườm (14 – 79b)
lù và: tù và (3 – 53a)
mặt mả: mặt nạ (3 – 55a)
miệt: giầy, dép (16 – 23b)
ống: súng (1 – 52a, 3 – 51a)
* Chỉ cỏ cây, mầu sắc:
gian: mầu, nhiều màu sắc (16 – 22b, 6 – 22a)
mùi tui: rau mùi, rau ngổ (12 – 72a)
cải lú bú: cải củ (9 – 76a, 12 – 78a)
nang: cau (12 – 41b)
nếp ác: nếp đen(12 – 34a)
nếp vang: nếp đỏ (12 – 34a) (12 – 34a)
nghệ máu: nghệ đỏ (11 – 77b)
lòm: đỏ(11 – 75a)
xanh mò: xanh sậm, xanh đen (12 – 66a, 16 – 64b)
* Chỉ mức độ, tính chất, tính cách, tâm lý:
song: lắm (5 – 50b, 1 – 522a)
mèn: nhỏ (6 – 53a)
chan: nhiều (2 – 74b)
hèo: hiệu nghiệm(5,16 – 74a; 8, 11- 79a)
tít: thít, thắt (13 – 70b)
dịu dàng: mịn màng (3 – 24b)
đang dạ: ưa thích (16 – 20a)
yêu đang: yêu đương (6 – 15a, 13 – 69a)
Điểm qua một số các từ ngữ cổ thấy trong CNNÂ, ít thấy trong các văn bản khác, chúng tôi sơ bộ có một số nhận xét sau:
– Với số lượng 218 từ ngữ cổ trong CNNÂ, có thể nói đó là sự bổ sung, góp mặt đáng kể vào các từ điển từ cổ, để từ đó làm cơ sở giải mã những tồn nghi hoặc xác định lại các từ đã bị thay thế khi phiên âm các văn bản từ Nôm ra quốc ngữ. Cũng có thể nói đây là một trong số rất ít những văn bản có sự đậm đặc nhất về từ ngữ cổ. Nhiều từ cổ thấy trong các văn bản: Khoá hư lục, Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập… thì cũng được tìm thấy trong CNNÂ. Có nhiều từ ngữ cổ chỉ thấy xuất hiện trong CNNÂ như chúng tôi trình bày ở phần trên.
– Trong CNNÂ có nhiều từ cổ chỉ xuất hiện 1 lần nhưng qua chữ Nôm và đối chiếu với phần chữ Hán tương ứng nên có thể xác định được mặt nghĩa, còn âm đọc thì phải có thêm cứ liệu để khẳng định.
– Những từ ngữ cổ trong CNNÂ đã phản ánh được khá rõ tình hình ngôn ngữ tiếng Việt ở thời điểm văn bản ra đời. Đó là nguồn cứ liệu vô cùng quý giá cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu và là một trong những giá trị lớn của cuốn từ điển cổ nhất này.
Chúng tôi đã sơ bộ điểm qua tình hình từ cổ trong văn bản CNNÂ, xin được trở lại vấn đề này kỹ hơn trong một dịp khác.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.404-410

Vang Bóng là gì? – Nguyễn Tuấn Cường

“VANG BÓNG” là gì?

Ghi thêm của tác giả:
Bài viết này đã đăng tại Tạp chí Ngôn ngữ, số 6/2011, tr. 46-55.
Ban Biên tập Tạp chí Ngôn ngữ đã sửa chữa cách dẫn nguồn tài liệu trong bài viết theo quy định củaTạp chí, đây cũng chính là quy định trích dẫn rất oái ăm của Bộ Giáo dục và Đào tạo áp dụng cho Luận văn, Luận án. Trong bài này, tôi trích dẫn theo “kiểu Mĩ”, tức là dẫn “(tên tác giả, năm xuất bản, trang)”, ví dụ: (An Chi, 2005, tr. 81), nếu đã nói tên tác giả rồi thì chỉ dẫn năm xuất bản và số trang. Ban Biên tập sửa theo “kiểu Nga cũ”, tức là “[số thứ tự tài liệu, trang]”, ví dụ: [1, 81], mà cũng không sửa hết cho thống nhất, nên chỗ sửa chỗ không, dẫn đến tình trạng lộn xộn, “số” chú thích trong phần chính văn không tương ứng với “số” trong phần chú thích. Tác giả bài viết không được thông báo trước về sự sửa chữa này.
Trong bản đăng ở blog này, do có một số chữ Nôm có thể không hiển thị được trên nhiều máy tính không có font chữ, nên những đoạn có chữ Nôm sẽ được cắt ra dưới dạng ảnh, click vào ảnh để phóng to. Toàn bản PDF: http://www.mediafire.com/?zceomr9b1du9x79. Bản điện tử này là bản chính thức. 

Chân thành cảm ơn học giả An Chi và bạn Cao Việt Dũng đã đọc góp ý bản thảo bài viết! Dù cho một số quan điểm trong bài viết này mâu thuẫn với quan điểm của học giả An Chi, nhưng nếu không được gợi ý từ những bài viết của Ông, thì cũng không thể có bài viết này.

Hà Nội, 8/8/2011
NTC
————-


TIẾNG VANG VÀ CÁI BÓNG:
KHẢO LUẬN NHAN ĐỀ “VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA NGUYỄN TUÂN
(qua ngữ liệu chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ)[i]
ThS. Nguyễn Tuấn Cường
(GV. Khoa Văn học, Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia Hà Nội)
I. Nhìn lại các quan điểm về “vang bóng”
Tác phẩm Vang bóng một thời (1940) của Nguyễn Tuân (1910-1987) khiến người ta phải chú ý từ cái nhan đề trở đi. Chẳng vậy mà đã có nhiều lời bàn đi luận lại lại về cách hiểu nhan đề này, tập trung chủ yếu vào giải nghĩa từ tổ “vang bóng”. Tựu trung có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: “vang bóng” là từ tổ danh từ ghép đẳng lập giữa hai danh từ “vang” (tiếng vang) và “bóng” (cái bóng). Nhiều độc giả của Nguyễn Tuân giữ quan điểm này, như trong các câu hỏi của độc giả cho mục “Chuyện Đông chuyện Tây” trên tờ Kiến thức ngày nay (An Chi, 2005).
Xin lưu ý, ngoài trường hợp mà Nguyễn Tuân dùng “vang bóng” làm nhan đề tác phẩm, còn ít nhất ba trường hợp khác cũng dùng “vang, bóng” mà nhiều người đã chỉ ra: Nguyễn Tuân viết “vang và bóng ngày kí vãng” (Một chuyến đi, 1938); Vũ Ngọc Phan viết: “cái tiếng vang của thời đã qua, cái bóng của thời đã qua” (Nhà văn hiện đại, 1942-1945); Vương Trí Nhàn viết: “tìm lại vang và bóng” (Vang và bóng, biết tìm đâu, 1997)[ii]. Ba trường hợp trên đây đều sử dụng “vang” và “bóng” với tư cách danh từ, tất nhiên trong hai trường hợp dưới thì Vũ Ngọc Phan và Vương Trí Nhàn đều chịu ảnh hưởng của cách dùng từ của Nguyễn Tuân.
Quan điểm thứ hai: “vang bóng” là từ tổ vị từ (động từ) ghép chính phụ giữa một vị từ (vang) và một danh từ (bóng), về mặt thành phần cú pháp thì “vang bóng” cũng có cấu trúc giống hệt “nổi tiếng”. Học giả An Chi là người chủ trương quan điểm này một cách riết róng. Quan điểm của An Chi được đăng trên mục “Chuyện Đông chuyện Tây” của tờ Kiến thức ngày nay (rải rác các năm 1997-1998)[iii] trong tư thế tranh luận với các độc giả chủ trương quan điểm thứ nhất kể trên, sau đó cuộc tranh luận này được in lại trong cuốn Chuyện Đông chuyện Tây (tập III, NXB Trẻ, 2005)[iv]. Xin trích lược một số đoạn quan trọng trong các lập luận của An Chi:
– “Từ ‘vang’ chưa bao giờ là một danh từ”, “Vả lại khi nói đến ‘vang bóng’, người ta vẫn cảm nhận được rằng ‘vang’ là từ chính – và là một vị từ – còn ‘bóng’ là từ phụ thêm nghĩa cho nó để tạo ra một từ tổ vị từ, và rằng về mặt thành phần cú pháp thì vang bóng cũng có cấu trúc giống hệt nổi tiếng” (2005, tr. 62).
– “Nhưng như đã nói ở trên, ‘vang’ chưa bao giờ là danh từ, vì vậy mà tất nhiên trong ‘vang bóng’ nó cũng không thể là danh từ được. Do đó không thể xem ‘vang bóng’ là một từ tổ ghép đẳng lập” (2005, tr. 115).
– “Còn sự thật thì bóng dứt khoát là danh từ chứ không phải động từ, cũng như vang dứt khoát là động từ chứ không phải danh từ cho nên vang bóng chỉ có thể là một từ tổ động từ, nghĩa là một từ tổ vị từ mà thôi” (2005, tr. 115-116).
– “Dù biệt tài sử dụng từ ngữ của Nguyễn Tuân có cao siêu đến đâu, nhà văn này cũng không thể nào tạo ra một từ tổ ‘đẳng lập’ mà lại gồm có một vị từ (vang) và một danh từ (bóng), nghĩa là gồm có hai tiếng thuộc hai từ loại khác nhau vì hiện tượng này trái hẳn với quy tắc của tiếng Việt” (2005, tr. 81).
– “Vậy chẳng có lẽ Nguyễn Tuân lại không có quyền nói ‘vang bóng’ để dùng vị từ vang theo ẩn dụ mà chỉ sự diễn tiến kéo dài và lan rộng của sự việc này sự việc khác trong thời gian và trong không gian, nhất là khi mà ông lại là nhà văn nổi tiếng về cách dùng từ độc đáo” (2005, tr. 63).
– “Xin thưa rằng lỗi ở đây không tại người đọc mà tại chính nhà văn vì ông đã dùng từ ngữ không đúng với quy tắc của ngữ pháp”. “… chỉ xin nhấn mạnh rằng riêng trong trường hợp này[v] thì Nguyễn Tuân đã viết sai ngữ pháp còn Vũ Ngọc Phan thì lại bất chấp ngữ pháp khi diễn ý như trên[vi]” (2005, tr. 116).
– “Vậy vang bóng một thời là đã từng có một thời vàng son huy hoàng nay đã qua đi” (2005, tr. 117).
Phần trích dẫn trên có lẽ hơi dài dòng, nhưng mục đích là để nhấn mạnh tới những lập luận rành mạch và cả quyết của tác giả An Chi. Tóm lại, quan điểm của An Chi có thể lược thuật như sau:
– “Vang bóng” là sáng tạo của Nguyễn Tuân về cách dùng từ tiếng Việt. Đây thật ra là một quan điểm chung của nhiều người, chứ không riêng gì An Chi.
– “Vang bóng” là từ tổ vị từ + danh từ, “vang” chưa bao giờ là danh từ.
– “Vang bóng một thời” nghĩa là đã từng có một thời vàng son huy hoàng nay đã qua đi.
Hai bên tranh luận hầu như chỉ dựa vào cảm nhận ngôn ngữ của người ngày nay để luận giải nhan đề Vang bóng một thời, tác phẩm tính đến nay đã có 70 năm tuổi đời; thảng hoặc cũng có người trích được đôi ba văn cảnh của bản thân Nguyễn Tuân hay một vài người cùng hoặc sau thời ông (Vũ Ngọc Phan, Vương Trí Nhàn) có sử dụng “vang, bóng” nhưng dường như còn chưa đủ để giải nghĩa nhan đề này, bởi trong lập luận của họ, tính lịch sử của ngôn ngữ đã không được coi trọng đúng mức.
Bài viết này chủ trương khảo nguồn ngữ liệu tiếng Việt xưa nay có liên quan đến “vang bóng”, đặc biệt là nguồn ngữ liệu trước thời và cùng thời Nguyễn Tuân viết Vang bóng một thời (1940), để từ đó luận về những vấn đề sau:
– Về ngữ nguyên: có phải Nguyễn Tuân là người đầu tiên tạo ra từ tổ “vang bóng”?
– Về ngữ pháp: cấu tạo từ của “vang bóng” như thế nào?
– Về ngữ nghĩa: nghĩa của “vang bóng” và “vang bóng một thời” là gì?
II. Khảo cứu ngữ liệu chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ
Ngoài những ngữ liệu mà các bên tranh luận đã đưa ra như trên, bài viết này sẽ cung cấp thêm ngữ liệu hữu quan từ 9 văn bản, trong đó có 4 văn bản chữ Hán – Nôm niên đại từ khoảng thế kỉ XVI đến thế kỉ XX, và 5 văn bản chữ Quốc ngữ ở giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, tức là 9 văn bản này đều nằm trước và trong bối cảnh mà Nguyễn Tuân viết tác phẩm Vang bóng một thời (1940) nổi tiếng của mình. Riêng các tư liệu chữ Hán Nôm sẽ được chụp ảnh nguyên bản để minh họa.
1. Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú 傳奇漫錄增補解音集注
            Tư liệu đầu tiên là một bản dịch cổ từ Hán sang Nôm, cuốn Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chúmà giới nghiên cứu vẫn quen gọi là Truyền kì mạn lục giải âm. Văn bản chữ Hán Nôm mà tôi dựa theo là văn bản được in kèm cuối bản phiên âm Quốc ngữ của Nguyễn Quang Hồng (2001). Bản giải âm này có kí hiệu sách HN.257 và HN.258 tại Thư viện Viện Văn học (Hà Nội), ván khắc năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774), nhưng theo phỏng đoán của Nguyễn Quang Hồng thì bản dịch Nôm này có thể có niên đại sớm hơn, khoảng từ cuối thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XVII (2001, tr. 11), điều đó có nghĩa là ngôn ngữ được ghi lại bằng chữ Nôm trong văn bản này phản ánh tiếng Việt quãng thế kỉ XVI-XVII, tức là cách ngày nay trên dưới 400 năm. Theo sở kiến, đây là cứ liệu sớm nhất xuất hiện “bóng vang” (mà biến thể hoán vị của nó là vang bóng”, như sẽ chứng minh ở phần sau) trong tiếng Việt, nó được dùng để dịch từ tổ “ảnh hưởng” trong Hán văn. Ngoài ra, trong văn bản còn có 2 lần dịch từ “hưởng” thành “tiếng vang”:


5. Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị (tập 1), 1895,  tr. 14, cột 1:
Ảnh hưởng: Hình bóng, tiếng vang. Phiêu phiêu ảnh hưởng thì là không thấy tăm dạng”.
6. Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển1931, tr. 7, cột 2:
Ảnh hưởng: Chính nghĩa là vang bóng. Bởi câu: Ảnh tùy hình, hưởng ứng thanh: Bóng theo hình, vang thuận tiếng. Nghĩa bóng là nói cái gì vô hình mà chuyển động biến hóa đến cái khác: Người Việt Nam vẫn chịu cái ảnh hưởng văn minh của Tàu
7. Đào Duy Anh, Giản yếu Hán Việt từ điển (quyển thượng), 1932, tr. 11, cột 1:
Ảnh hưởng: Bóng và tiếng vang. Hình sinh ra ảnh, thanh sinh ra hưởng – Nch Quan liên với nhau, cảm ứng với nhau – Không có thực tại, hư không. Vd. ảnh hưởng chi đàm”[vii].
8. Ngô Quang Châu, Phải bạo dùng tiếng Việt, 1946, tr. 20-24:
Ảnh hưởng. – Ảnh nghĩa là bóng, hình; Hưởng nghĩa là tiếng vang. Nói: ‘Ảnh hưởng của công cuộc cải cách xã hội’, nói vậy cũng tức như nói: ‘Vang bóng của công cuộc cải cách xã hội’”.
9. Hoàng Thúc Trâm, Hán Việt tân từ điển1951, tr. 22, cột 1:
Ảnh hưởng: (Ngch) Bóng và vang (bóng theo hình, vang theo tiếng. (Ngr) Việc dấy lên ở một chỗ, rồi ba cập đến cả xung quanh. Ảnh hưởng văn hóa Đông phương[viii].
III. Luận giải về “vang bóng”
Từ những ngữ liệu trưng dẫn trên, sau đây xin từng bước cắt nghĩa “vang bóng” từ các bình diện ngữ nguyên, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
1. Về ngữ nguyên: Những ngữ liệu trên cho thấy một sự thực đã kéo dài trên dưới 400 năm qua trong tiếng Việt: từ tổ “bóng vang” (mà biến thể hoán vị là “vang bóng”) trong tiếng Việt được dùng để dịch từ “ảnh hưởng” () trong Hán văn. “Bóng vang” đã tồn tại liên tục trong tiếng Việt suốt từ thời Truyền kì mạn lục giải âm cho tới khoảng đầu thế kỉ XX. Đến năm 1931, tức 9 năm trước Vang bóng một thời (1940), trong từ điển của hội Khai Trí Tiến Đức chúng ta đã sớm thấy xuất hiện dạng hoán vị (thay đổi trật tự) của “bóng vang” là “vang bóng. Từ đó chẳng khó khăn gì cũng có thể suy ra: Nguyễn Tuân hoàn toàn không phải là người sáng tạo ra cách dùng “vang bóng” trong tiếng Việt, mà ông chỉ có công làm cho nó trở nên nổi tiếng qua việc dùng nó để định danh tác phẩm văn chương của mình.
Về mối quan hệ giữa “vang bóng” với “ảnh hưởng”, trước đây cũng đã có một độc giả của mục “Chuyện Đông chuyện Tây”[ix] phỏng đoán rằng: “Trong vốn từ chữ Hoa chúng ta tìm gặp từ ‘ảnh hưởng’, có nghĩa là ‘vang bóng’, nghĩa là sự vang dội làm cho mắt phải thấy, tai phải nghe; nó dùng để chỉ sự nổi tiếng, sự thành danh, có tiếng tăm… đã được nhiều người biết đến” (An Chi, 2005, tr. 79). Đằng sau sự phỏng đoán này có hai điều đáng tiếc: một là độc giả này không đưa ra được một ngữ liệu thực tế tiếng Việt nào cho thấy mối liên hệ giữa “vang bóng” với “ảnh hưởng”; hai là An Chi trong phần trả lời độc giả của mình lại không hề lưu tâm tới cái nguyên ngữ đó (An Chi, 2005, tr. 81).
2. Về ngữ pháp: Mặc dù học giả An Chi đã dồn rất nhiều tâm lực để chứng minh rằng: cấu tạo từ của “vang bóng” là từ tổ vị từ (động từ), tức là “vang” là vị từ còn “bóng” là danh từ; nhưng với những dẫn liệu trên, thiết nghĩ quan điểm của An Chi cần được xem xét lại. Cấu tạo từ của “ảnh hưởng” trong những văn cảnh của Truyền kì mạn lục giải âmĐại học giảng nghĩaPhải bạo dùng tiếng Việt (đã dẫn) đều là danh ngữ ghép đẳng lập, vậy không có cớ gì để ép chúng ta phải hiểu “vang bóng” (vốn được dịch từ “ảnh hưởng”) là từ tổ vị từ.
Chính cái khả năng linh động về trật tự từ giữa “bóng vang” với “vang bóng” cũng góp phần chứng tỏ “vang bóng” và tất nhiên là cả “bóng vang” không thể là từ tổ vị từ ghép chính phụ, mà chỉ có thể là từ tổ danh từ ghép đẳng lập, bởi theo nhiều nhà ngữ pháp học tiếng Việt, nếu là từ tổ vị từ ghép chính phụ thì không thể thay đổi trật tự từ, còn ghép đẳng lập thì nhiều trường hợp có thể thay đổi trật tự từ[x]. Có thể kể ra rất nhiều ví dụ về hiện tượng hoán vị trong từ ghép đẳng lập: nhà cửa – cửa nhà, vàng bạc – bạc vàng, bạn bè – bè bạn, trời đất – đất trời, thề hẹn – hẹn thề, than thở – thở than, mắng nhiếc – nhiếc mắng, đấu tranh – tranh đấu, đón đưa – đưa đón, khờ dại – dại khờ, giản đơn – đơn giản, mạnh khỏe – khỏe mạnh… Những trường hợp này xét về bình diện thay đổi trật tự từ thì không khác gì vang bóng – bóng vang.
Cái kết luận của An Chi rằng “từ ‘vang’ chưa bao giờ là một danh từ” thật ra đã đúng… một nửa, bởi các ngữ liệu trong Truyền kì mạn lục giải âmĐại học giảng nghĩaPhải bạo dùng tiếng Việt đã chỉ ra một ngoại lệ của kết luận ấy: “vang” sẽ là danh từ nếu nó đi cùng với “bóng”! Còn bản thân người viết bài này cho đến nay cũng chưa tìm được trường hợp nào dùng “vang” (độc lập với “bóng”) mà lại có từ loại là danh từ, ngay cả những ngữ liệu trong Truyền kì mạn lục giải âm cũng dịch “hưởng” (khi dùng độc lập với “ảnh”) thành “tiếng vang” (đã dẫn) chứ không phải “vang”. Tuy nhiên, “vang bóng” nếu đi kèm với nhau thì luôn là từ tổ danh từ ghép đẳng lập giữa hai danh từ “vang” (tiếng vang) và “bóng” (cái bóng).
3. Về ngữ nghĩa: Ngôn ngữ có tính lịch sử của nó, và điều này cần được tôn trọng, nhất là khi hậu nhân đã có một độ lùi lịch sử đủ xa để có thể dễ dàng hiểu sai lệch cách dùng từ của tiền nhân. Đối với tiếng Việt, từ đầu thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI mặc dù thời gian mới có khoảng 100 năm, nhưng mức độ thay đổi của ngôn ngữ thì không thể xem nhẹ. Nếu đọc toàn bộ tác phẩm Vang bóng một thời (1940) thì có thể thấy không chỉ chủ đề tác phẩm mà cả phạm vi ngôn ngữ của Nguyễn Tuân trong tác phẩm này cũng có thiên hướng “hoài cổ”, “ôn cố” hơn là “tri tân”, và cái nhan đề ấy cũng nằm trong phạm vi “ôn cố” này. Vậy thì để hiểu cái nhan đề ấy, việc cần làm là phải tìm cái gốc gác của “vang bóng” (tức là tìm nguyên ngữ của nó), và xem thời bấy giờ người ta hiểu “vang bóng” là gì.
Phần trình bày tư liệu trên đã chứng tỏ nguyên ngữ của “vang bóng” là từ “ảnh hưởng” trong Hán văn. Vậy muốn lí giải nghĩa của từ tổ “vang bóng” thì không có con đường nào tốt hơn là phải lí giải ý nghĩa của nguyên ngữ của nó là “ảnh hưởng”. “Ảnh” là cái bóng, “hưởng” là tiếng vang. “Vang bóng một thời” tức là “ảnh hưởng một thời”, lập luận như vậy cũng giống cái cách mà Ngô Quang Châu cho rằng “ảnh hưởng của công cuộc cải cách xã hội” cũng tức là “vang bóng của công cuộc cải cách xã hội” (đã dẫn). Vậy thì “ảnh hưởng” ở đây liệu có nên hiểu theo cách cắt nghĩa trong cuốn từ điển tiếng Việt hiện đại rất phổ biến hiện nay do Hoàng Phê chủ biên:
Ảnh hưởng. 1. Tác động có thể để lại kết quả ở sự vật hoặc người nào đó. Ảnh hưởng của khí hậu đối với cây cối. Ảnh hưởng của gia đình. Tranh giành ảnh hưởng. 2. Có ảnh hưởng đến. Sự giáo dục của gia đình ảnh hưởng tốt đến các em” (Hoàng Phê, 2002, tr. 7, cột 2).
hoặc theo cách giải nghĩa trong một cuốn từ điển sớm hơn một chút nhưng vẫn là từ điển tiếng Việt hiện đại do Văn Tân chủ biên:
Ảnh hưởng. 1. Tác dụng của vật nọ đối với vật kia làm cho vật thứ hai ít nhiều chịu sự chi phối của vật thứ nhất: Thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc có ảnh hưởng đến phong trào giải phóng ở châu Á. 2. Uy tín và thế lực: Ảnh hưởng các Đảng Cộng sản mỗi ngày một lớn. 3. Những quyền lợi kinh tế, chính trị và văn hóa của nước nọ ở nước kia: Đế quốc Mĩ đã mất hết ảnh hưởng ở Trung Quốc” (Văn Tân, 1967, tr. 18, cột 2).
Hai cuốn từ điển tiếng Việt hiện đại này đã cắt nghĩa “ảnh hưởng” theo kiểu mới, “hàn lâm” hơn, tách khỏi truyền thống lí giải xưa (ảnh = bóng, hưởng vang) như trong các tư liệu đã dẫn (Tam thiên tự giải âm, Tam thiên tự giải dịch quốc ngữ, Huỳnh Tịnh Của, hội Khai Trí Tiến Đức, Đào Duy Anh, Ngô Quang Châu, Hoàng Thúc Trâm). Đây chính là nguyên nhân khiến cho độc giả ngày nay của Nguyễn Tuân khó mà tưởng tưởng ra mối liên hệ giữa “vang bóng” với “ảnh hưởng”, ngay cả hai nhóm chuyên gia biên soạn từ điển tiếng Việt hiện đại trên có thể cũng không chú ý đến mối quan liên giữa “ảnh hưởng” với “vang bóng” để dẫn giải trong từ điển của họ.
Tóm lại, về mặt ngữ nghĩa, để hiểu cách nói “vang bóng” của Nguyễn Tuân, thiết nghĩ cần phải căn cứ vào cách lí giải của những người cùng thời với ông, cùng sử dụng vốn từ chung như ông, cần xem họ cắt nghĩa “ảnh hưởng” hoặc “vang bóng” thế nào. Những người cùng thời ấy chính là Đào Duy Anh, Ngô Quang Châu, Hoàng Thúc Trâm và hội Khai Trí Tiến Đức (đã dẫn). Qua cách cắt nghĩa của họ, đặc biệt là của nhà từ điển học Đào Duy Anh, có thể hình dung rằng: từ tổ danh từ ghép đẳng lập “vang bóng” có nguyên ngữ Hán văn là “ảnh hưởng” (), “ảnh” nghĩa là cái bóng, “hưởng” nghĩa là tiếng vang. “Vang bóng một thời” tức là “ảnh hưởng một thời”, nghĩa đen là “tiếng vang và cái bóng của một thời”, nghĩa bóng là sự nối dài về cả thời gian (đặc điểm của vang) và không gian (đặc điểm của bóng), hay sự cảm ứng lan tỏa từ quá khứ tới hiện tại thể hiện qua những dấu ấn văn hóa của ngày xưa còn đọng lại với ngày nay như một niềm “hoài cổ” và “ôn cố” của một bậc thức giả sống trong thời kì văn hóa dân tộc đang chuyển hình từ cổ đại sang hiện đại(*).
Hà Nội, nóng tháng 6/2010
Nguyễn Tuấn Cường

DANH MỤC TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1.        An Chi, Chuyện Đông chuyện Tây (tập III), NXB Trẻ, 2005.
2.        Đại học giảng nghĩa 大學講義 (sách chép tay không ghi niên đại, ước đoán cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX), kí hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm AB.277.
3.        Đái Xuân Ninh, Hoạt động của từ tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, 1978.
4.        Đào Duy Anh, Giản yếu Hán Việt từ điển (quyển thượng), Imprimerie TIENG DAN, Huế, 1932.
5.        Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2002 (in lần thứ 8, có sửa chữa, đợt 2).
6.        Hoàng Thúc Trâm, Hán Việt tân từ điển, Nhà sách Vĩnh Bảo Sài Gòn, 1951.
7.        Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển, Hanoi Imprimerie Trung Bac Tan Van, 1931.
8.        Huình Tịnh Paulus Của, Đại Nam quấc âm tự vị (tập 1), Saigon Imprimerie REY, CURIOL & CIE, 1895.
9.        Ngô Quang Châu, Phải bạo dùng tiếng Việt, in trong tạp chí Tiên Phong (tạp chí của Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam), số 8 ra ngày 1/4/1946, tr. 20-24; dẫn lại theo: Lại Nguyên Ân và Hữu Nhuận sưu tầm,Sưu tập trọn bộ Tạp chí Tiên Phong (1945-1946), NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1996, tr. 348-352 (phần giải nghĩa mục từ ảnh hưởng tại trang 348, cột 2).
10.    Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 (tái bản lần thứ 6, in lần đầu năm 1975).
11.    Tam thiên tự giải âm 三千字解音, Hoàng triều Tân Mão niên (1831), Phú Văn đường tàng bản, kí hiệu Thư viện Quốc gia R.468.
12.    Tam thiên tự giải dịch quốc ngữ 三千字解譯國語, Duy Tân Kỉ Mão niên (1915), Liễu Văn đường tàng bản, kí hiệu Thư viện Quốc gia R.1667.
13.    Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú 傳奇漫錄增補解音集注, bản in tại Liễu Chàng năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774), kí hiệu Thư viện Viện Văn học HN.257 và HN.258; văn bản được in kèm trong: Nguyễn Quang Hồng (phiên âm và chú giải), Truyền kì mạn lục giải âm, NXB Khoa học Xã hội, 2001.
14.    Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, 1983.
15.    Văn Tân (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, 1967.


CHÚ THÍCH
[i] Bài viết nhân kỉ niệm 100 năm sinh Nguyễn Tuân và 70 năm ra đời Vang bóng một thời.
[ii] Cả ba trường hợp này đều dẫn theo: An Chi, 2005, tr. 114, 116, 118.
[iii] Kiến thức ngày nay số 247 (ra ngày 1/6/1997), số 251 (10/7/1997), số 258 (20/9/1997), số 273 (1/3/1998).
[iv] An Chi, Chuyện Đông chuyện Tây (tập III), NXB Trẻ, 2005, tr. 62-63, 79-83, 113-118, 198-204.
[v] Tức trường hợp Nguyễn Tuân viết “vang và bóng ngày kí vãng” trong Một chuyến đi, 1938.
[vi] Tức trường hợp Vũ Ngọc Phan viết “cái tiếng vang của thời đã qua, cái bóng của thời đã qua” trong Nhà văn hiện đại, 1942-1945.
[vii] Kí hiệu viết tắt theo nguyên bản: Nch = Như chữ, Vd = Ví dụ.
[viii] Kí hiệu viết tắt theo nguyên bản: Ngch = Nghĩa chính, Ngr = Nghĩa rộng.
[ix] Kiến thức ngày nay, số ra ngày 10/7/1997.
[x] Xin xem: Nguyễn Tài Cẩn, 2004, tr. 92-93; Đái Xuân Ninh, 1978, tr. 167, 171-172; Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, 1983, tr. 57, 59. Trong các tài liệu này, ghép “đẳng lập” còn được gọi là ghép “song song” hoặc ghép “láy nghĩa”; ghép “chính phụ” còn được gọi là ghép “phụ nghĩa”.
(*) Bài viết này được hoàn thành với sự tài trợ của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Việt Nam (NAFOSTED).

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHỮ NGHĨA – Nguyễn Đăng Na

TB

Bình Ngô đại cáo là tác phẩm văn học chức năng hành chính quan trọng không chỉ đối với lịch sử dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển văn học sử Việt Nam. Trong tác phẩm này, tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển giữa tính chân xác lịch sử với chất sử thi anh hùng ca qua lối văn biền ngẫu mẫu mực của một ngọn bút tài hoa uyên thâm Hán học. Chính vì thế, Bình Ngô đại cáo đã trở thành tác phẩm cổ điển sớm đi vào sách giáo khoa từ trung học cơ sở đến phổ thông trung học và được giảng dạy ở tất cả các trường cao đẳng, đại học ngành khoa học xã hội – nhân văn. Với vị trí như vậy, Bình Ngô đại cáo (BNĐC) cần được nghiên cứu một cách thấu đáo từ văn bản, dịch bản đến chú giải. Mặc dù suốt thế kỉ XX các nhà nghiên cứu đã đổ khá nhiều công sức vào nghiên cứu BNĐC, nhưng tới nay, không phải chẳng còn gì để bàn. Trong hai bài trước(1), chúng tôi đã giải quyết ba vấn đề:
1- Bài Bình Ngô đại cáo trong Bản kỉ thực lục sách Đại Việt sử kí toàn thư(2) là văn bản có độ tin cậy nhất. Tại văn bản này, không có câu “Đại Thiên Hành Hóa hoàng thượng nhược vân”. Câu “Đại Thiên… nhược vân” là lời mào đầu của viên hoạn quan, nói trước khi truyền chỉ.
2- Bốn chữ “Đại Thiên Hành Hóa” [代 天 行 化 ] là hiệu của Lê Lợi do các tướng sĩ tôn xưng ngài sau chiến thắng Tân Bình – Thuận Hóa năm Ất Tị 1425. Theo Toàn thư , tôn hiệu trên được dùng cho tới tháng 12 năm Đinh Mùi 1427 khi quân ta đại thắng giặc Minh. Sau đấy, Lê Lợi lên ngôi, không dùng tôn hiệu đó nữa, mà thay bằng niên hiệu Thuận Thiên [ 順 天 ].
3- Bản mà lâu nay các sách như Tổng tập văn học Việt Nam, Tuyển tập văn học Việt Nam, sách giáo khoa Văn học 9, Văn học 10… vẫn ghi là Bùi Kỉ dịch, thực ra không phải. Đấy là bản Trần Trọng Kim dịch, in trong Việt Nam sử lược từ năm 1919. Nguyên nhân có sự nhầm lẫn này là, Dương Quảng Hàm hiểu lầm ghi chú của Bùi Kỉ in trong Quốc văn cụ thể (3) năm 1932.
Trên cơ sở hai bài viết trước, ở bài này chúng tôi sẽ đề cập tới vấn đề khác: một số chữ nghĩa trong BNĐC. Về chữ nghĩa bài BNĐC quả là còn nhiều việc phải làm. Trong khuôn khổ một bài viết, chúng tôi chỉ đề cập tới cách hiểu nhan đề bài cáo và cụm từ máu chảy trôi chày. Những chữ còn lại, xin để dịp khác.
1/ Cách hiểu nhan đề Bình Ngô đại cáo
BNĐC là tác phẩm văn học chức năng hành chính. Một quy tắc tuy không thành văn nhưng người cầm bút nào cũng phải tuân thủ là, ngay trong nhan đề phải ghi rõ loại hình thể loại của chúng. Nguyên tắc này dường như bất di bất dịch đối với tất cả tác phẩm văn học chức năng (hành chính và lễ nghi). Ta có thể lấy một số tên tác phẩm văn học chức năng hành chính Việt Nam thế kỉ X – XIV làm ví dụ. Chẳng hạn các tác phẩm Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn, Dụ chư tì tướng hịch văn của Trần Quốc Tuấn, Thất trảm sớ của Chu An… Những chữ đứng cuối tác phẩm đã chỉ cho người đọc biết thể loại của chúng, như: ‘chiếu’ [ 詔 ], ‘hịch văn’ [ 檄 文 ], ‘sớ’ [疏]… Nhan đề bài Bình Ngô đại cáo cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Cho nên, hai chữ “đại cáo” sẽ là thể loại tác phẩm của Nguyễn Trãi
Vậy “đại cáo” là gì ?
Các nhà biên soạn sách giáo khoa hiện hành(4) có hai cách giải thích khác nhau. Soạn giả Văn học 10 cho rằng, Bình Ngô đại cáo “dịch cho sát nghĩa là: tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô”; rồi bổ sung thêm: “bài này viết theo thể cáo”(5). Cách giải thích trên cho thấy, “đại cáo” là một cụm từ, trong đó ‘đại’ là “rộng rãi”, còn ‘cáo’ là “tuyên cáo” – nó vừa là động từ, vừa là danh từ chỉ thể loại tác phẩm. Soạn giả Văn học 9 thì giải thích khác: “ Bình Ngô đại cáo là bài cáo có quy mô lớn, nói việc dẹp yên giặc Ngô”(6). Như vậy, “đại cáo” vẫn là một cụm từ, ở đó, ‘cáo’ là danh từ chỉ thể loại, ‘đại’ phản ánh “quy mô” tác phẩm: lớn.
Thế thì, “đại cáo” trong BNĐC thực chất là cụm từ hay một từ ? Nếu là cụm từ, chúng thuộc cụm danh từ hay cụm động từ ? Và, ‘đại’ dùng để nói về tính phổ biến “rộng rãi” hay “quy mô” tác phẩm?
Trong Hán ngữ có hai chữ ‘cáo’: một chữ không bộ ngôn [告] và một chữ có bộ ngôn [ 誥 ]
Chữ ‘cáo’ không bộ ngôn [告] dùng cho kẻ dưới trình lên bề trên và thường làm động từ; chữ ‘cáo’ có bộ ngôn [誥] dùng để bề trên ban xuống kẻ dưới và thường làm danh từ. Tuy nhiên, không phải lúc nào người viết cũng phân biệt rạch ròi như vậy, trừ những văn bản văn học chức năng hành chính hoặc lễ nghi. Hơn nữa, cả hai chữ ‘cáo’ nói trên đều có thể đứng sau chữ ‘đại’ để thành “đại cáo”. Chẳng hạn, thiên Vũ Thành trong Kinh Thư có đoạn: “Việt tam nhật Canh Tuất, Sài Vọng, đại cáo [大 告] vũ thành” – “sau ba ngày là ngày Canh Tuất, làm lễ Sài, lễ Vọng, kính cáo (đại cáo) việc võ đã thành công”(7). Hai chữ “đại cáo” ở câu trên, Thẩm Quỳnh dịch là “kính cáo”(7), còn Nhượng Tống dịch là “cả tâu.”(8) Trong trường hợp này, hai ông đều hiểu ‘cáo’ [告] là động từ, ‘đại’ [大]làm trạng ngữ.
Chữ ‘cáo’ có bộ ngôn [ 誥 ] thường dùng để chỉ thể loại văn học, khi kết hợp với ‘đại’ sẽ thành “đại cáo” [ 大 誥 ]. Nguyễn Trãi dùng hai chữ đại cáo [大 誥] này để chỉ thể loại tác phẩm của mình. Các sách Toàn thư, Hoàng Việt văn tuyển(9)… đều xác nhận như vậy và ghi : 平 吳 大 誥 (Bình Ngô đại cáo).
Vậy “đại cáo” [大 誥] là thể loại gì và ý nghĩa của nó ?
Hán ngữ đại từ điển giải thích: “đại cáo [ 大 誥 ] là tên một thiên trong sách Thượng Thư. Lời tựa thiên Đại cáo có đoạn: ‘Vũ vương mất, Tam Giám cùng Hoài di làm phản. Chu Công giúp Thành Vương trừ bỏ nhà Ân, viết Đại cáo’. Khổng truyện rằng, ‘Trình bày đại đạo [大 道] để cáo [誥] với thiên hạ (trần đại đạo dĩ cáo thiên hạ), nên lấy làm tên thiên’, sau dùng để phiếm xưng những bài văn có tính chất điển cáo [典 誥 ].”(10) Như vậy, ban đầu, “đại cáo” [大 誥] do hai chữ mang ý nghĩa quan trọng nhất trong mệnh ”trần ‘đại’ đạo dĩ ‘cáo’ thiên hạ” ghép lại, dùng để gọi tên một thiên trong Kinh Thư, rồi thành từ cố định chỉ loại đặc biệt của thể cáo.
Đấy là nghĩa thứ nhất gắn với thời Tây Chu của Trung Hoa cổ đại.
“Đại cáo” còn có nghĩa thứ hai gắn với đương đại thời Minh. Nghĩa này cũng không kém phần quan trọng: “Văn kiện pháp luật ban bố năm Hồng Vũ thứ 18 thời Minh”(11) gọi là Đại cáo. Hồng Vũ [ 洪 武 ] là niên hiệu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương [ 朱 元 璋 ] – người khai sáng ra nhà Minh, làm Hoàng đế Trung Hoa những năm 1368 – 1398.
Dựa vào hai nghĩa mà Hán ngữ đại từ điển đã nêu ra, chúng ta hãy xem, Nguyễn Trãi dùng hai chữ “đại cáo” đặt trong nhan đề tác phẩm của mình nhằm mục đích gì và có ý nghĩa như thế nào?
Thứ nhất, chiến thắng giặc Minh là sự kiện quan trọng, là bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Nó không chỉ đánh dấu sự thất bại thảm hại của các thế lực hung tàn và cường bạo, mà còn khẳng định sự tất thắng của một dân tộc biết lấy đại nghĩa và chí nhân làm nền tảng tư tưởng. Vì thế, Nguyễn Trãi muốn nhân dịp này, bày tỏ để nhân loại thấy cái, “đại đạo” [大 道] – đạo lí lớn nhất của Việt Nam là, “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, đúng như lời ghi trong Khổng truyện: “trần đại đạo dĩ cáo thiên hạ”. Đây vừa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, vừa là mục đích mà thiên Đại cáo ở sách Thượng Thư – một trong năm bộ “kinh” ( Ngũ Kinh) của Trung Hoa cổ đại hằng dương cao. Xa rời mục đích ấy, ta không thể hiểu thấu đáo tư tưởng chủ đạo bài cáo của Nguyễn Trãi. Khi đi đánh Vũ Canh, Chu Thành Vương truyền Đại cáo; bình xong giặc Ngô, Lê Lợi cũng tuyên Đại cáo. Tác giả muốn sánh Lê Lợi với Chu Thành Vương, quân sư của Lê Lợi với Chu Công Đán và muốn bài cáo bình Ngô của thời đại ông mang ý nghĩa ngang tầm với thiên Đại cáo đánh Vũ Canh thời Tây Chu của Trung Hoa cổ đại.
Vì sao Chu Thành Vương phải đánh Vũ Canh ? Bởi, y là tên phản chủ, kẻ phản phúc ! Sách Kinh Thư kể rằng, sau khi diệt xong Thương Vương Trụ tàn bạo, Chu Vũ Vương – cha của Chu Thành Vương vẫn thương tình, phong cho con trai Trụ Vương là Vũ Canh làm vua nước Ân. Khi Vũ Vương qua đời, con nối ngôi là Chu Thành Vương còn nhỏ. Trước hoàn cảnh đó, Tam giám gồm, Quản Thúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc nổi loạn. Vũ Canh bèn liên kết với các tộc Di ở phía đông, hùa theo Tam Giám, đem quân đánh Thành Vương, phản lại nhà Chu. Cuộc bình Ngô của Lê Lợi cũng mang ý nghĩa như việc Thành Vương diệt Vũ Canh. Đấy là ý thứ nhất của hai chữ “đại cáo” mà Nguyễn Trãi dùng cho bài bình Ngô ở thời đại ông.
Thứ hai, Nguyễn Trãi viết bài Cáo bình Ngô khoảng cuối năm 1427 – đầu 1428, sau văn kiện pháp luật mà Minh Thái Tổ ban bố năm Hồng Vũ 18 (1365) tới hơn bốn mươi năm. Điều đó cho thấy, khi viết bài cáo, Nguyễn Trãi hoàn toàn biết có sự kiện Chu Nguyên Chương ban bố Đại cáo. Minh sử ghi: “Minh Thái Tổ đã định xong ‘luật lệnh’, các quan hữu ti tuân thủ thi hành. Nhưng những kẻ phạm pháp ngày càng nhiều, bèn lệnh cho thu thập các sai phạm của quan và dân, chia ra từng điều, làm thành Đại cáo, gồm 10 mục. Tháng 10 năm Hồng Vũ thứ 18, Đại cáo hoàn thành, gồm 74 điều. Lệnh ban xuống cho các trường học phải đem ra để dạy sĩ tử; còn ở làng quê thì đặt các trường tư, thuê thầy dạy”. Không những vậy, Chu Nguyên Chương còn khuyến khích mọi người đọc, học Đại cáo bằng lệnh: “Những ai đang bị tù đày mà đọc được Đại cáo thì sẽ giảm tội”. Năm sau – 1386, Chu Nguyên Chương lại ban Đại cáo tục biên, gồm 87 điều, Đại cáo tam biên 43 điều. Như vậy là, trong hai năm liền, Minh Thái Tổ đã liên tiếp ba lần ban Đại cáo, tổng cộng 204 điều. Tiếp theo, năm sau – Hồng Vũ thứ 20 (1387), Minh Thái Tổ lại ban Đại cáo vũ thần. Xem thế đủ biết, “Đại cáo” chính biên, tục biên, tam biên vũ thần của ông Thái Tổ nhà Minh cực kì quan trọng thật! Ông bắt tất cả mọi người, từ thành thị tới nông thôn, từ quan đến dân, từ văn đến võ, từ sĩ tử tới “phó thường dân”…, ai ai cũng phải đọc, phải học, phải thấm nhuần và quán triệt tinh thần của Đại cáo. Lớp học Đại cáo mở tới tận làng quê, thậm chí, biết đọc Đại cáo là tiêu chuẩn xét giảm án và ân xá cho các phạm nhân. Thế mà, nay Nguyễn Trãi gọi bài “bình Ngô” do mình soạn thảo là “Đại cáo”! Rõ ràng, ông muốn người đọc thấy rằng, bài cáo mà mình thay mặt dân tộc viết ra, chính là một văn kiện mang tính pháp luật, có ý nghĩa trọng đại, ngang với văn kiện pháp luật mà Minh Thái Tổ ban bố ròng rã suốt ba năm: Hồng Vũ 18, Hồng Vũ 19, Hồng Vũ 20. Đặt pháp luật Đại cáo để thống nhất đất nước, để cai trị nhân dân, để diệt trừ tội ác… Lẽ ra, văn kiện pháp luật Đại cáo của người sáng lập nhà Minh phải tượng trưng cho uy quyền và là công cụ bảo vệ nhà Minh. Nhưng, ở Việt Nam, ngược lại, nó dùng để “bình Ngô”!
Ngô là ai ? Dụng ý của Nguyễn Trãi khi dùng hai chữ “bình Ngô” ?
Không nên hiểu ‘Ngô’ theo hai cách như soạn giả Văn học 10 đã nêu ra(12). Ngô là nước Ngô, người Ngô, giặc Ngô! Vâng ! Nhưng nguồn gốc của chữ ‘Ngô’ từ đâu ra ?
Chu Nguyên Chương gốc người Hào Châu [ 濠 州 ](13) mà, Hào Châu xưa, thuộc đất Ngô. Vì thế, ‘Ngô’ chính là quê cha đất tổ của người sáng lập ra nhà Đại Minh: Thái Tổ Chu Nguyên Chương ! Hơn nữa, khi sự nghiệp đang trên đà thắng lợi (chiếm xong lộ Tập Khánh), năm 1356, Chu Nguyên Chương xưng Ngô Quốc công [ 吳 國 公 ], ý muốn nhắc tới nguồn gốc của mình: người đất Ngô. Tám năm sau, khi sự nghiệp sắp thành công, ông cải xưng là Ngô Vương [ 吳 王 ], ý muốn hồi cố và ước mơ sự nghiệp của mình sánh với nước Ngô thời cực thịnh dưới quyền Ngô Vương Hạp Lư đánh tan nước Sở hùng mạnh, truyền ngôi cho con là Ngô Vương Phù Sai; Phù Sai lại diệt nước Việt, cầm tù Việt Vương Câu Tiễn…
Bởi vậy, Ngô ở đây vừa là tước hiệu của Minh Thái Tổ khi chưa lên ngôi: Ngô Quốc công, Ngô Vương; vừa là nguồn gốc, quê cha đất tổ của người khai sáng ra nhà Đại Minh: Chu Nguyên Chương! “Bình Ngô” là “bình” tận gốc rễ họ Chu – Thái Tổ nhà Minh. Ba đời vua Minh xâm lược nước ta là, Thành Tổ Chu Đệ, Nhân Tông Chu Cao Xí, Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ Tuyên Đức. Nếu kể từ thái Tổ Chu Nguyên Chương, Tuyên Đức là đời vua Minh thứ năm. Hai chữ “Đại cáo” nói riêng, nhan đề Bình Ngô đại cáo [平 吳 大 誥] nói chung, mang ý nghĩa thâm thúy và sâu sắc như vậy. Nắm được ý nghĩa nhan đề BNĐC là nắm được tư tưởng cốt lõi của tác phẩm.
2/ Máu chảy trôi chày
Tôi còn nhớ, khoảng trên dưới mười năm về trước có cuộc thảo luận khá sôi nổi và kéo dài về cách hiểu bốn chữ “máu chảy trôi chày”. Mọi người dường như thống nhất với nhau rằng, ‘chày’ được dịch từ chữ ‘chử’. Trong Hán ngữ, về cơ bản, ‘chử’ [杵] có nghĩa là cái chày. Nhưng là cái chày gì, dùng để giã gạo, hay cái chày nói chung như, chày đập vải, chày giã thuốc, giã trầu, hoặc một loại vũ khí thời xưa giống hình cái chày…, thì quả thực, mọi người chưa hoàn toàn nhất chí. Ngay cả khi đã là cái chày rồi, cuộc thảo luận vẫn chưa chấm dứt bởi, người thì bảo nó là cái chày giã gạo bằng chân; người lại nói, là cái chày giã gạo bằng nước ở miền núi… Cuối cùng, khi làm sách giáo khoa, soạn giả Văn 10 chú giải cho học sinh như sau: Máu chảy trôi chày là, “máu đổ ra nhiều quá thành suối khiến cái chày (giã gạo) nổi lên trôi đi”(14). Có đúng như thế không? Để hiểu đầy đủ vấn đề, chúng tôi thiết nghĩ, trước hết phải đọc lại văn bản BNĐC, đặng từ đó, bám vào chữ nghĩa của Nguyễn Trãi mà bàn, mà phân tích !
Đoạn có cụm từ được dịch là ‘máu chảy trôi chày’ của BNĐC trong Toàn thư Hoàng Việt văn tuyển đều thống nhất ghi:

“Lãnh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết;
Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng(15).”

Hai vế đối nhau chỉnh chệ. Năm 1919 trong Việt Nam sử lược, quyển Thượng, Trần Trọng Kim dịch là:

Suối máu Lãnh Câu, nước sông rền rĩ
Thành xương Đan Xá, cỏ nội đầm đìa(16).

Khi đem BNĐC in lại vào sách Quốc văn cụ thể(17) năm 1932, Bùi Kỉ vẫn giữ nguyên lời dịch của ông Trần. Đến lượt mình, lúc sử dụng lại bản dịch của Trần Trọng Kim in ở sách của Bùi Kỉ, năm 1943 trong Việt Nam văn học sử yếu(18), Dương Quảng Hàm cũng không đổi thay gì hết. Vậy là, bản dịch của ông Trần được các thế hệ sau dùng tới hơn 40 năm kể từ ngày nó ra đời năm 1919 cho tới những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ XX. Có lẽ, vì muốn giữ theo cấu trúc thể tứ lục, khi dịch, ông Trần đã lược mỗi vế mất hai chữ “vị chi” và dịch thoát ý các chữ “chử phiêu”, “sơn tích”. Phải chăng vì nhận thấy lời văn dịch của ông Trần chưa thật sự lột tả hết ý của Nguyễn Trãi, nên năm 1962 khi Nhà xuất bản Văn Hóa cho ra mắt độc giả bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập II: Văn học Việt Nam thế kỉ X – XVII, các soạn giả đã chỉnh lí lại thành:

Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen (19).

Rồi chú: “máu chảy trôi chày”: do chữ “huyết lưu phiêu chử” ở Kinh Thư. Ý nói giặc bị chết nhiều” (20). Từ đó, câu có cụm từ “máu chảy trôi chày” được thay thế lời dịch của ông Trần và thản nhiên bước vào sách giáo khoa trong nhà trường. Rồi cứ thế, một số người đã bám vào bốn chữ “máu chảy trôi chày” trong bản dịch và lời chú “huyết lưu phiêu chử” mà trao đổi, mà tranh luận một cách hùng hồn, sôi nổi, hào hứng và kéo dài, chẳng cần biết Nguyễn Trãi đã viết như thế nào nữa. Bây giờ nhìn lại, tôi thực sự lấy làm ngạc nhiên. Đúng là, một thời đã qua !
Như trên đã trình bày, Nguyễn Trãi chỉ viết “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu”, chứ đâu có viết “huyết lưu phiêu chử” mà bỗng dưng thành “máu chảy trôi chày” để tranh luận, để trao đổi ? Mà, giả sử, nguyên văn chữ Hán, cụ viết “huyết lưu phiêu chử”, cũng chẳng thể dịch là “máu chảy trôi chày” được! Soạn giả Hợp tuyển chỉ đúng khi cho biết xuất xứ cụm từ “huyết lưu phiêu chử” từ Kinh Thư mà thôi. Nguyên văn đoạn có “huyết lưu phiêu chử” trong Kinh Thư như sau, xin dẫn ra để bạn đọc tham khảo: “Giáp Tí muội sảng, Thụ xuất kì lữ nhược lâm, hội vu Mục Dã, võng hữu địch vu ngã sư; tiền đồ đảo qua công vu hậu dĩ bắc, huyết lưu phiêu chử”. Nghĩa là, “ngày Giáp Tí, lúc rạng đông, vua Thụ kéo quân đông như rừng, họp ở cánh đồng Mục Dã. Các binh sĩ không ai chống lại quân ta, toán tiền phong ngược cả dáo lại đánh toán quân đi sau rồi chạy(21), ‘huyết lưu phiêu chử’.” Ta thử hình dung xem, quân của Thụ (Trụ) dù bị giết nhiều vô vàn đi chăng nữa (vì chúng đông “như rừng”), nhưng làm sao máu đổ ra có thể “thành suối” để đến đỗi, “khiến cái chày (giã gạo) nổi lên trôi đi”, dù diễn đạt theo kiểu tu từ ? Thật không thể hình dung nổi ! Vậy, mấu chốt vấn đề ở chỗ nào? Có hai việc cần giải quyết.
Thứ nhất, cách hiểu chữ ‘chử’.
Trong Hán ngữ, ‘chử’ [杵] có 6 nghĩa. Ngoài nghĩa thông dụng là “cái chày” dùng để giã đập các vật, ‘chử’ còn thông nghĩa với ‘lỗ’ [櫓]. Hán ngữ đại từ điển giải thích, ‘chử’ thông nghĩa với ‘lỗ’ và: ‘lỗ’ [櫓], cổ đại vũ khí trung đích thuẫn [ 古 代 武 器 中 的 盾 ]”(22) – ‘lỗ’ là cái ‘mộc’, loại vũ khí thời xưa. Một thú vị nữa là, chính các soạn giả từ điển lại lấy ngay Kinh Thư, nơi có cụm từ “huyết lưu phiêu chử” để minh họa cho cách cắt nghĩa của mình. Các soạn giả viết: “Thư, Vũ Thành: ‘Thụ xuất kì lữ nhược lâm, hội ư Mục Dã… huyết lưu phiêu chử’”. Rồi, các soạn giả dùng sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, mục “bộ ‘mộc’ [木]” để giải nghĩa: “ ‘lỗ’, đại thuẫn dã [ 櫓,大 盾 也 ]. Thanh, Đoàn Ngọc Tài chú: ‘lỗ’, hoặc giả ‘chử’ vi chi; ‘huyết lưu phiêu chử’, tức ‘huyết lưu phiêu lỗ’ dã”(22). Đoạn văn trên cho biết, ‘lỗ’ [櫓] là cái mộc lớn. Ông Đoàn Ngọc Tài thời Thanh chú rằng, ‘lỗ’ do mượn chữ ‘chử’; ‘huyết lưu phiêu chử’ là ‘huyết lưu phiêu lỗ’.
Thế là đã rõ! Mộc – một loại vũ khí thời xưa, dùng để đỡ dáo đâm hoặc tên bắn. Mộc thì nhẹ, được làm bằng gỗ hoặc da thú, có hình tròn, hình bầu dục, hình lưỡi mác hoặc hình chữ nhật…, mặt quay ra phía ngoài để đỡ gươm đao, đỡ tên bắn có cấu tạo cong như mặt đáy chảo. Với chất liệu nhẹ và cấu tạo như vậy, ‘lỗ’ có thể nổi trôi theo dòng nước trong đó có máu của đối phương bị giết chảy ra. Điều này dễ hiểu và phù hợp với thực tế.
Thứ hai, Nguyễn Trãi viết:

Lãnh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết;
Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng.

Hai vế đối nhau từng chữ rất chỉnh. Mỗi vế gồm 12 âm tiết, chia thành hai: nửa đầu (6 âm tiết) chỉ nguyên nhân, nửa sau (cũng 6 âm tiết) chỉ kết quả. Ta có thể diễn giải như sau: Bởi “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu” khiến “giang thủy vị chi ô yết”; do “Đan Xá chi thi sơn tích” khiến “dã thảo vị chi ân hồng”. Nửa đầu của mỗi vế (6 âm tiết) lại theo cấu trúc 4 – 2: bốn âm tiết đầu làm chủ ngữ, hai âm tiết sau làm vị ngữ. Chủ ngữ của‘chử phiêu’ là ‘Lãnh Câu chi huyết’; chủ ngữ của‘sơn tích’ là ‘Đan Xá chi thi’. Lại nữa, trong ‘Lãnh Câu chi huyết’ thì, ‘huyết’ là trung tâm ngữ; cũng như vậy, ‘thi’ làm trung tâm ngữ cho ‘Đan Xá chi thi’. Nên lưu ý, “Lãnh Câu chi huyết” là máu (giặc Minh) trong dòng nước Lãnh Câu; “Đan Xá chi thi” là xác (giặc Minh chết) ở Đan Xá. ‘Sơn tích’ [山 積] là, tích lại như núi; ‘chử phiêu’ [杵 漂] là làm trôi cái ‘chử’. Xác giặc ở Đan Xá chất lại như núi; máu giặc đổ xuống Lãnh Câu làm cho trôi cái ‘chử’. Điều lạ là, ý tứ câu văn của Nguyễn Trãi rõ ràng, nhưng lời dịch đọc lên nghe mâu thuẫn. Xin đọc: “ Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc”. Vậy, Lãnh Câu là suối hay sông ? Đã đành rằng, ‘câu’ [ 溝 ] là suối, nhưng ở đây nó là địa danh! Vả chăng, Nguyễn Trãi cũng nói rõ ‘giang thủy’ [ 江 水 ] – nước sông, chứ đâu phải ‘câu thủy’ [ 溝 水 ] – nước suối. Hai âm ‘giang’ [江] và ‘câu’ [溝] đều thanh bằng, do đó không phải vì thanh điệu mà Nguyễn Trãi phải thay ‘câu’ bằng ‘giang’; hơn nữa, chúng lại không nằm ở vị trí gieo vần, nên càng không phải vì ép vần hoặc ép thanh mà đổi ‘câu’ (suối) thành ‘giang’ (sông). Trong một mệnh đề thôi, lúc thì ‘suối’, lúc lại ‘sông’, thế mà, ta cứ thản nhiên nhồi vào đầu bao thế hệ học sinh từ 1962 đến giờ. Thật tội nghiệp! Vế sau cũng thế: “ Thành Đan Xá thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen”. Làm gì có ‘thành’ nào ở đây ? Xác chết ở Đan Xá tích lại thành núi, vì việc đó mà cỏ ở ngoài đồng – dã thảo [野草] bị thẫm đỏ. Các chữ ‘Xá’ và ‘dã’ cũng tương tự trường hợp ‘câu’và ‘giang’ đã trình bày trên kia. Thì ra, đây là hai trận chiến: một ở sông (giang) Lãnh Câu, một ở đồng (dã) Đan Xá, hoặc một trận chiến phối hợp thủy lục: sông Lãnh Câu, đồng Đan Xá.
Vì sao xẩy ra hiện tượng dịch như vậy ? Có lẽ vì soạn giả Hợp tuyển hiểu lầm văn của ông Trần ? Ông dịch: “Suối máu Lãnh Câu” và “Thành xương Đan Xá”, thật là tuyệt vời. Phải chăng bởi nhận thấy dịch ‘chử phiêu’ là ‘trôi chày’ hoặc ‘chày trôi’ chưa thật thỏa đáng, nên ông Trần muốn lẩn đi, dịch thoát, cốt giữ ý: ‘Suối máu Lãnh Câu’. ‘Suối máu Lãnh Câu’ là máu ở Lãnh Câu nhiều tựa suối. Như vậy, Lãnh Câu đâu phải suối ! ‘Thành xương Đan Xá’ là xương giặc nhiều, chất lại tựa thành ở Đan Xá. Như vậy, Đan Xá đâu phải thành. Có điều, ông đã thay chữ ‘thi’ (xác chết) bằng chữ ‘xương’. Do dịch thoát ý, hai chữ ‘suối’ và ‘thành’ của ông Trần bị soạn giả Hợp tuyển hiểu nhầm, biến thành “ suối Lãnh Câu”, “ thành Đan Xá”, khiến câu văn vừa sai lạc ý nghĩa của Nguyễn Trãi và vừa mâu thuẫn. Bây giờ đến chữ ‘ô yết’ và ‘ân hồng’.
Dịch ‘Ô yết’ là ‘rền rĩ’ hoặc ‘nghẹn ngào’ đều được. Song, ‘Ô yết’ [ 嗚 咽 ] có hai nghĩa: một, chỉ tiếng khóc buồn đau; hai, chỉ âm thanh bi thương trầm lắng. Nếu dịch ‘ô yết’ là ‘nghẹn ngào tiếng khóc’ thì hơi quá vì đã gộp cả nghĩa một và hai của chúng lại. Trong văn cảnh, Nguyễn Trãi chủ yếu miêu tả nước chảy làm cho những cái mộc bị trôi nổi va đập vào nhau phát ra âm thanh trầm lắng, nghe thấy bi thương. “Ân hồng” dịch là “đầm đìa” thì chưa rõ, nhưng dịch thành “Đầm đìa máu đen” lại hơi quá. Ân hồng [殷 紅] dùng để chỉ màu đỏ thẫm, trong màu đỏ có pha sắc đen. ‘Ô yết’ và ‘ân hồng’ đối nhau: một từ chỉ âm thanh, một từ chỉ màu sắc, tạo nên khung cảnh thảm đạm của giặc Minh. Hơn nữa, nếu dịch “giang thủy vị chi ô yết” và “dã thảo vị chi ân hồng” là “nước sông nghẹn ngào tiếng khóc” và “cỏ nội đầm đìa máu đen” thì không những thái quá như chúng tôi đã phân tích, mà mỗi vế bị bỏ mất hai chữ rất quan trọng: “vị chi” [為之] – vì việc đó mà… Chữ ‘chi’ [之] là đại từ thay cho cả mệnh đề sáu chữ đứng trước: “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu”, “Đan Xá chi thi sơn tích”. Chúng là những nguyên nhân khiến cho nước sông ‘ô yết’, cỏ đồng ‘ân hồng’. Dĩ nhiên, dịch vừa sát nghĩa, vừa bảo đảm âm luật của thể loại là một việc cực kì khó. Chúng tôi luôn biết rằng, nói bao giờ cũng dễ hơn làm rất nhiều, nhưng chẳng phải vì vậy mà lặng im.
Khi viết BNĐC, Nguyễn Trãi dựa vào hiện thực cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược. Ông có thể sử dụng nhiều mẫu chất liệu có sẵn trong nền văn hóa Trung Hoa cổ đại, nhưng ông chỉ dùng những gì diễn tả đúng nhất với hiện thực cuộc kháng chiến lúc bấy giờ. “Lãnh Câu chi huyết chử phiêu” không phải là “suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày”, càng chẳng phải máu “đổ ra nhiều quá thành suối khiến cái chày (giã gạo) nổi lên trôi đi” và ‘chử’ là cái ‘mộc’. Chỉ có những cái mộc bị trôi, chẳng có cái chày giã gạo nào “nổi lên trôi đi” cả ! Thế mới biết, hiểu cho thấu đáo một câu văn của cổ nhân khó thật !
Trên đây, chúng tôi mới nêu hai trường hợp: nhan đề “Bình Ngô đại cáo” và cụm từ “máu chảy trôi chày” mà đã có bấy nhiêu chuyện, huống cả bài Cáo thì, còn biết bao vấn đề nữa để bàn. Chỉ mong rằng, các nhà đang biên soạn sách giáo khoa mới, làm sao có được một bài BNĐC chuẩn xác từ văn bản đến chú thích, xứng đáng với tầm vóc bản “thiên cổ hùng văn” và thế hệ trẻ không phải học những điều chẳng có trong văn bản như ở thế kỉ trước !

N.Đ.N
CHÚ THÍCH:

(1) Xem Nguyễn Đăng Na:
a. Bình Ngô đại cáo: một số vấn đề về văn bản, Tạp chí Hán Nôm số 4/ 2002.
b. Bình Ngô đại cáo: vấn đề dịch giả và dịch bản, Tạp chí Hán Nôm số 5/ 2002.
(2) Từ đây gọi tắt là Toàn thư.
(3) Năm 1919 trong Việt Nam sử lược , trước bản dịch, Trần Trọng Kim cho in nguyên văn chữ Hán BNĐC và giới thiệu: “Tờ BNĐC này… theo nguyên văn ở trong tập Hoàng Việt văn tuyển …” (tr.204). Khi in lại bản dịch của ông Trần vào Quốc văn cụ thể (Tân Việt Nam thư xã) năm 1932, Bùi Kỉ nhắc lại lời ông Trần: “Bài này dịch theo bài chữ nho ở bộ Hoàng Việt văn tuyển. ” (tr.96). Đọc lời ghi chú đó, Dương Quảng Hàm lại ngỡ Bùi Kỉ bảo mình dịch, nên lúc tuyển BNĐC vào Việt Nam văn học sử yếu năm 1943, Dương Quảng Hàm chua: “Bùi Kỉ dịch, Quốc văn cụ thể, Tân Việt Nam thư xã Hà Nội” (tr.262). Từ đấy, mọi người đều ghi theo lời chua của ông Dương.
(4) Trong bài này, chúng tôi chưa đề cập tới sách giáo khoa thí điểm.
(5) Văn học 10, sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000, Tập một, Nxb. Giáo dục, tr.117.
(6) Văn học 9, Tập một, tái bản lần thứ 11, Nxb. Giáo dục, 2001, tr.21.
(7) Kinh Thư, Trung tâm học liệu, in lần thứ hai, Sài Gòn, 1973, tr.217.
(8) Thượng Thư, Văn Học, H. 2001, tr.112.
(9) Bùi Huy Bích: Hoàng Việt văn tuyển, Hi Văn Đường, Minh Mệnh 6 (1825). Tồn Am gia tàng bản.
(10) Hán ngữ đại từ điển, tập 2, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, Thượng Hải, in lần thứ 3, 1988, tr.1388.
(11) Hán ngữ đại từ điển, tập 2, Sđd, tr.1388.
(12) Soạn giả Văn học 10 viết: “Có hai cách hiểu chữ Ngô: các vua nhà Minh quê ở đất Ngô; đời Ngô (thời Tam Quốc), bọn người sang cai trị nước ta đều rất tàn ác, từ đó, dân ta gọi người phương Bắc là người Ngô với ý khinh ghét”. Sđd, tr.124.
(13) Hào Châu [ 濠 州 ] thuộc đất Ngô thời Xuân Thu, bao gồm các huyện An Huy, Hoài Viễn, Định Viễn, Phượng Dương, Gia Sơn ngày nay; lị sở là Chung Li thuộc đất phía đông Phượng Dương.
(14) Văn học 10, Sđd, tr.126.
(15) Hoàng Việt văn tuyển, Sđd; ĐVSKTT, tập IV, KHXH, H. 1993, tờ 51 a, b.
(16) Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, quyển Thượng, H. in lần thứ hai, 1928, tr.212.
(17) Bùi Kỉ: Quốc văn cụ thể, Tân Việt Nam thư xã, H. 1932, tr.100.
(18) Dương Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu, Nha học chính Đông Pháp, H. 1943, tr.261.
(19) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập II, Nxb. Văn Hóa, H. 1962, tr.257. Từ đây gọi tắt là Hợp tuyển.
(20) Hợp tuyển, tập II, Sđd, tr.260.
(21) Kinh Thư, Sđd, tr.215. Trong bản này, Thẩm Quỳnh dịch “huyết lưu phiêu chử” là “Máu người chảy trôi cả cái chày giã gạo”.
(22) Hán ngữ đại từ điển, tập 4, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, Thượng Hải, in lần thứ tư, 1994, tr.855./.

Hai tiếng thổ mộ trong xe thổ mộ do đâu mà ra? (An Chi – Bách Khoa Tri Thức)

An Chi: Có ý kiến cho rằng thổ mộ là do tiếng Pháp tombereau mà ra. Ý kiến này không đúng vì người Pháp ở Sài Gòn và Nam kỳ trước đây chỉ gọi xe thổ mộ là boîte d’allumettes (= hộp quẹt) hoặc tac-à-tac, “có lẽ vì khi chạy, vó ngựa chạm mặt đường trải đá nghe (…) “tắc tắc” (tách tách)”, như Vương Hồng Sến đã cho biết trong Tự vị tiếng Việt miền Nam (Nxb Văn hóa, 1993). Họ không bao giờ gọi xe thổ mộ là “tombereau”.
Lại có ý kiến cho rằng thổ mộ là do thảo mã mà ra vì đây là xe chở cỏ cho ngựa ăn (ở đồn Tây) thời trước. Ý kiến này cũng lạ: người ta khó mà biết được tại sao thảo mã lại có thể trở thành “thổ mộ”. Huống chi, bản thân hai tiếng thảo mã đã là tiếng Việt, dù là đọc theo âm Hán Việt. Hay là người đề xướng cách giải thích này muốn liên hệ đến âm Quảng Đông của hai tiếng thảo mã là tshổu mạ chăng? Thổ mộ quả có na ná với tshổu mạ trong tiếng Quảng Đông nhưng dân Quảng Đông thì có liên quan gì với sự hoạt động ở các đồn Tây thời trước? Huống chi tshổu mạ (- thảo mã) chỉ có nghĩa là con ngựa bằng cỏ hoặc con “ngựa cỏ” tức ngựa hoang (?) chứ đâu phải là “xe chở cỏ cho ngựa ăn”.
Chỉ có cách hiểu thổ mộ là ngôi mộ bằng đất thì mới thật sự phù hợp để giải thích nguồn gốc của hai tiếng thổ mộ trong xe thổ mộ mà thôi: cái thùng xe thổ mộ với cái mui khum khum của nó rất giống với hình một nấm mộ bằng đất.

Chuyện tào lao về (xe) thổ mộ – An Chi (Huệ Thiên)

Bạn đọc : Có người nói rằng thổ mộ là cách đọc Việt hóa của từ “t’ủ mỏ”, tức độc mã (một ngựa), đọc theo âm Hoa Hán giọng Quảng Đông. Xe thổ mộ tức xe (một) ngựa. Xin cho biết có đúng không.
An Chi Chúng tôi không biết “t’ủ mỏ” là cái thứ tiếng gì nhưng chắc chắn đó không phải là âm Quảng Đông của hai chữ   độc mã, mà chữ Hán là 獨馬 Âm Quảng Đông của hai chữ này là:
– dug6 ma5 (Nhiêu Bỉnh Tài chủ biên, Quảng Châu âm tự điển, Quảng Đông Nhân dân xuất bản xã, in lần thứ 26, 1997, tr.232 & 260);
        – duk ͵ma (Hoàng Tích Lăng, Việt âm vận vựng [A Chinese Syllabary Pronounced According to the Dialect of Canton], Trung Hoa thư cục, trùng bản, 1973, tr.1 & 49);
        – tục mạ (Hà Thủ Văn, Việt Quảng ngữ đối chiếu, Chin-Hoa, Chợ Lớn, 1965, tr.53 & 105).
Tuy cách phiên âm của mỗi sách một khác nhưng âm được phiên thì hoàn toàn thống nhất : tục mạ, theo cách dễ đọc nhất cho người bình thường của Hà Thủ Văn trong Việt Quảng ngữ đối chiếu. Và cứ như trên thì người kia đã sai ở ba điểm căn bản : – một, phụ âm đầu của chữ 獨 là [t] (viết bằng “t”) chứ không phải [t’] (viết bằng “th”); – hai, cách đọc thành “t’ủ” của người đó không có âm cuối vần trong khi chữ 獨 có âm cuối vần là [k]; – và ba, nguyên âm chính của chữ 馬 là [a], một nguyên âm không tròn môi chứ không phải “o”, là một nguyên âm tròn môi.
Cứ theo ba điểm hoàn toàn chắc chắn trên đây thì ta có thể  dứt khoát khẳng định : – “t’ủ mỏ” không phải là âm Quảng Đông của hai chữ độc mã 獨馬; – do đó, thổ mộ tuyệt đối chẳng có dây mơ rễ má gì về mặt từ nguyên vói hai chữ mà âm Quảng Đông đã bị “chế biến” như trên. Huống chi có phải chỉ có xe thổ mộ mới do một con ngựa kéo đâu! Bởi vậy tác giả Cao Tự Thanh mới nói rằng thứ từ nguyên dân gian ấy dùng để tào lao thì được chứ nếu tưởng là học vấn thì chỉ làm cho con cháu ngu đi mà thôi.
Đây là mả của mọi người chạy trên đường.

Từ đầu cánh đến ngầu pín _ An Chi (RCMCN cho số 75, 25-6-2010)

Trong quyển 1575 thành ngữ tục ngữ cần bàn thêm (Nxb Văn nghệ, 2009), tác giả Lê Gia đã cách cái mạng của  câu Nhất phao câu, nhì đầu cánh thành Nhất phao câu, nhì gầu cánh. Ông giải thích:
        “ Gầu, cũng nói là ngầu, thí dụ ngầu pín, tiếng Quảng Đông. Do chữ ngẫu là thịt gân, thịt xương ở đầu cánh tay. Phở tái gầu: Món phở thịt bò tái mà có thêm thịt gân. Nghĩa câu: Ăn thịt gà ngon nhất là miếng phao câu, nơi có mỡ béo và xương mềm; thứ nhì là thịt chỗ khớp xương cánh nối vào thân mình, nơi đây vừa béo vừa có xương sụn mềm.”
        Quả là tác giả Lê Gia đã trình làng một cách giải thích tân kỳ. Nhưng với tính cách là một từ của tiếng Việt, gầu không bao giờ nói thành ngầu, mà cũng không hề có nghĩa là “thịt gân, thịt xương ở đầu cánh tay”, như ông đã “phát hiện”, nên tất nhiên cũng chẳng dính dáng gì đến chữ ngẫu do ông đưa ra.
        Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (ấn bản 2003) giảng gầu là “thịt có lẫn mỡ ở ngực bò”. Làm thế nào mà từ cái nghĩa “thịt có lẫn mỡ ở ngực bò”, gầu lại có thể nhảy phốc sang cái nghĩa “thịt gân, thịt xương ở đầu cánh tay” của ông Lê Gia? Rồi lại còn có thể nói thành ngầu! Nhưng táo bạo và thú vị nhất là ông Lê Gia lại còn gắn từ gầu, cũng nói ngầu của ông với từ ngầutrong ngầu pín của tiếng Quảng Đông, cứ ngỡ rằng trong thứ tiếng này thì ngầu là một bộ phận trong cơ thể của động vật. Thưa rằng ông đã nhầm to vì ngầu 牛 (âm Hán Việt là ngưu) ở đây có nghĩa là bò. Còn pín 鞭 ( âm Hán Việt là tiên) mới là bộ phận cơ thể, mà lại là một bộ phận đặc biệt. Quảng Châu thoại phương ngôn từ điển của Nhiêu Bỉnh Tài, Âu Dương Giác Á và Chu Vô Kỵ (Thương vụ ấn thư quán, Hong Kong, 2001) giảng pín 鞭 là “hùng tính động vật đích sinh thực khí (uyển từ)” nghĩa là “bộ phận sinh dục của động vật giống đực (uyển ngữ)”. Rồi quyển từ điển này cho hai thí dụ: 牛鞭 (ngầu pín) và 三鞭酒 (xám pín chẩu). Xám pín chẩu là một loại rượu (chẩu = rượu) đặc sản của Trung Quốc, bào chế với nhiều nguyên liệu cao cấp như nhân sâm, lộc nhung, v.v., trong đó có ba thứ dương vật (xám = ba; pín = dương vật) không thể thiếu là: của hươu, của hải cẩu và của … chó; còn ngầu pín là dương vật của bò , dĩ nhiên là bò đực. Phở ngầu pín là món phở mà người Quảng Đông chế biến với dương vật bò (đực). Vậy biến đầu cánh thành “gầu cánh” rồi đánh đồng nó với dương vật của bò thì chẳng tội nghiệp cho cái món số hai truyền thống của các cụ nhà ta lắm sao?
      Vậy xin trả lại cái mạng cũ cho câu tục ngữ đang xét mà tiếp tục đọc nó là Nhất phao câu, nhì đầu cánh. Nhưng đầu cánh là gì?  Tác giả Nguyễn Dư khẳng định:“ Đầu cánh là cái đầu và cái cánh chứ không phải là cái đầu (ngọn) của cái cánh. Để tránh hiểu lầm, nên thêm dấu phẩy giữa chữ đầu và chữcánh.” Tác giả này dựa vào bài “ Nghệ thuật băm thịt gà” của Ngô Tất Tố mà giải thích như sau:
        “ Thứ nhất phao câu nghĩa là chiếc phao câu được dành cho chiếu thứ nhất. Làng nào có tiên chỉ thì ông tiên chỉ, một mình một cỗ, được hưởng cả cái phao câu. Không có tiên chỉ thì những người được ngồi chiếu nhất cùng hưởng. Làng thằng Mới có bốn người ngồi chiếu nhất nên chiếc phao câu được chia làm bốn phần. Thứ nhì đầu cánh nghĩa là chiếu thứ nhì chia nhau cái đầu gà. Làng nào có nhiều người ngồi chiếu nhì thì hết đầu gà có thể dùng thêm cánh gà bù vào.”
Xin thưa rằng cách giải thích trên đây hoàn toàn sai với đặc trưng hình thức – ngôn từ của câu tục ngữ. Văn học dân gian Việt Nam có hàng chục, hàng chục câu tục ngữ có cấu trúc “ Nhất (…), nhì(…), v. v.” hoặc “Thứ nhất (…), thứ nhì (…), thứ ba (…), v. v.”, mà nội dung là một sự sắp xếp  thứ hạng về chất lượng, về vai trò, v. v.. Trong tất cả các câu đó, các từ chỉ thứ tự nhấtnhìba, v. v., luôn luôn trực tiếp đánh giá cái chủ thể được biểu hiện bằng từ/ngữ đi liền ngay sau nó, chứ dứt khoát không phải bất cứ một/những đối tượng nào không được nói đến trong câu tục ngữ. Vì vậy nên chiếu trên, chiếu dưới, chiếu nhất, chiếu nhì, v.v., là những thứ tuyệt đối chẳng liên quan gì đến câu tục ngữ của chúng ta. Câu này chỉ trực tiếp nói đến hai bộ phận trên thân thể con gà mà thôi. Thứ nhất là phao câu thì đã rõ nhưng thứ nhì, đầu cánh thì đích xác là chỗ nào?
        Xin quan sát hai mặt của cái cánh gà trong H.1. Nó cũng có ba phần như tay người: cánh tay, bắp tay, bàn tay. Tương đương với cánh tay là phần cánh gà tính từ chỗ đầu xương giáp với vai cho đến khuỷu cánh thứ nhất tính từ trong ra. Phần này của cánh, tiếng Anh gọi là drumette, tiếng Pháp làmanchon còn tiếng Hoa là chìtuǐ 翅腿 (âm Hán Việt là xí thối ), nghĩa là đùi cánh. Đùi cánh chính là cái bộ phận được tô màu vàng trong H.2, cũng là cả cái bộ phận mà ta thấy trong H.3.  Có người gọi nó làbầu cánh. Nó giống với cái đùi nhưng nếu nhìn theo tỷ lệ toàn thể thì nó thô hơn, ngắn hơn. Chỗ đầy thịt no tròn của đùi cánh, nơi nó dính vào vai, chính là đầu cánh, đối với phần nhọn phía ngoài cùng là cái chót cánh (Xin x. lại H.1).
        Vì ngon vào hàng nhất nhì trong cả con gà nên đùi cánh có một vị thế quan trọng trong việc chế biến thức ăn. Nó có thể được để nguyên để chiên (rán), quay, v. v., như có thể thấy trong H.4. Nhưng nó cũng có thể được chế biến cầu kỳ hơn bằng cách lóc bỏ da thịt của phần giáp với khuỷu cánh mà làm cho cái đùi cánh trở thành một khối thịt tròn, để lộ ra một khúc xương, như một cái que để cầm (H.5). Trong trường hợp này cái đùi cánh trông giống như một quả chuỳ. Vì vậy nên tiếng Pháp mới gọi nó là pilonnet hoặc pilonnette (chày nhỏ); còn tiếng Anh thì ví với hình dạng của cây kẹo mút mà gọi nó là chicken lollipop.
        Tóm lại, đầu cánh chính là cái phần đầy thịt no tròn của đùi cánh, đối với phần ngoài cùng là cái chót cánh. Trong H.3, đầu cánh chính là cái phần no tròn đã xẻ ra (trên) hoặc còn nguyên (dưới);  phần  còn lại sẽ trở thành cái que cầm cho chicken lollipop. Thịt đầu cánh rất ngon; có người cho rằng nó còn ngon hơn cả thịt đùi nữa.
Hình 1
Hình 2
Hình 3
Hình 4
Hình 5

Ngầu pín (Cao Tự Thanh)

Ngầu pín

Buổi tối đang đau đầu vì những Độ mở kinh tế, Đo lường mức độ thương mại trong quyển Một trăm câu hỏi đáp về Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh thì Trần Hữu Quang bên Viện Khoa học xã hội Thành phố phone qua hỏi Ngầu pín là gì? Thật là điên ruột khi biết y đang nhậu với một đám, nhậu ngầu pín, rồi no pín rửng chữ, rồi thảo luận xem ngầu pín là gì, rồi không có trọng tài bèn cử y phone qua hỏi, còn nói nhã là tra từ điển hộ. Trời ạ, bản nhân đang cày lòi cả thủy tinh thể, các người thì rảnh rỗi đàn đúm ăn nhậu hưởng lạc phi vô sản, mà chỉ nghĩ tới bản nhân như một thứ từ điển sống thế này thôi à! Thật là tình đời đen bạc. Nhưng đúng là từ này bản nhân chưa có dịp tra, thôi thì một công đôi việc. Cúp máy đi tao gọi lại. Ừ mau lên nhé. Y mà ở đây thì chắc được ăn từ điển chứ không phải nhậu ngầu pín đâu. 
Ra rồi nghe đây. Ngầu là ngưu, tức con bò (thủy ngưu mới là con trâu), pín là âm Hoa Hán giọng Quảng Đông, giọng Quan thoại cũng thế vì đây thuộc mảng từ vựng cơ bản, âm Việt Hán là tiện, làm động từ là lái ể nhưng đây là danh từ, chắc là một biệt danh kiểu tiếng lóng để chỉ công cụ tác nghiệp trong đó có li lái của con đực. Ngầu là ngưu thì phải rồi, nhưng mày có chắc pín là tiện không. Phụ âm đầu t thời Đường chuyển thành phụ âm đầu p và b thời Minh Thanh rất nhiều, như tỳ bà thành pípá, tân khách thành bìnkè, có thể nói là một quy luật ngữ âm, về cả ý nghĩa lẫn âm thanh thì chữ tiện đều hợp lý, còn đúng hay không để tao hỏi lại mấy cô bạn người Tàu. OK cảm ơn tiên sinh nhiều nhiều, chào nhé. Quả thật bọn người nhậu ngầu pín này rất có tác phong cắc bụp mau lẹ trong các hoạt động giao lưu.

Bực mình xong lại buồn cười, may là tôi tra ra, không thì nếu chẳng may họ pín vào lời ra suy diễn tào lao lại gây nhiễu kiến thức ngôn ngữ của người thiên hạ. Còn nhớ có một đại nhân vật lên cả tivi giải thích thổ là đất, mộ là nấm mộ, xe thổ mộ tức cái xe như nấm mộ lùm lùm chạy trên đường. Nguyễn Văn Huệ bên Đại học Tổng hợp thành phố thấy vô lý bèn chửi đổng “Mả cha mày chạy chứ mả ai chạy!”. Thứ từ nguyên học dân gian ấy dùng để tào lao thì được còn nếu tưởng là học vấn thì chỉ làm em cháu ngu đi. Thổ mộ là cách đọc Việt hóa của từ t’ủ mỏ, tức độc mã (một ngựa) đọc theo âm Hoa Hán giọng Quảng Đông. Xe thổ mộ tức xe (một) ngựa.

Thêm một ví dụ về sự suy diễn tào lao. Cái áo trường sam (áo vạt dài, tức áo dài) của người Hoa đọc theo âm Hoa Hán giọng Quảng Đông là sường sám, các tiệm may hiện nay không hiểu bèn cải biên thành sườn xám, có lẽ định gán cho nó một ý nghĩa (cái sườn màu xám?) trong tiếng Việt, cũng chẳng chết ai nhưng dễ dãi với ngôn ngữ sẽ dẫn tới đại khái về tư duy rồi vô nguyên tắc trong hành vi.

Nói thế không phải quá lời đâu, vì ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, nếu dễ dãi về ngôn ngữ rất dễ phạm lỗi dù là vô tình trong ứng xử. Sự đại khái về tư duy ngôn ngữ vì thế có hại hơn nhiều người tưởng. Ngày xưa người ta viết bằng bút lông, để ngòi bút khô lâu sẽ giòn gãy rụng lông (Câu Trúc se ngọn thỏ… trong Truyện Kiều là chỉ chuyện này) nên thỉnh thoảng phải nhúng nước. Vì thế các báo chí, nhà xuất bản ở Trung Quốc trả tiền thù lao cho tác giả đều gọi nhã là tiền nhuận bút (thấm ướt ngòi bút). Về sau viết bài bằng bút sắt rồi bút bi, máy đánh chữ và thậm chí hiện nay viết trên máy tính cũng được gọi là trả tiền nhuận bút, thôi thì cũng được đi, có điều vụ tiền nhuận ảnh (đăng báo) mới là đại kỳ quái, thậm phi lý, không lẽ là làm ướt máy ảnh! Tương tự, nhiều vị thuộc chính giới và báo giới hiện nay gọi Hùng Vương là Quốc tổ, nhưng lại gọi Âu Cơ mẹ Hùng Vương đầu tiên là Quốc mẫu. Mẹ lại sinh ra được ông nội à?

Tháng 6. 1975 tôi từ Hà Nội về tới Sài Gòn, đổi được ít tiền miền Nam bèn đi chơi, thấy xe bò bía bèn sấn vào gọi mấy cuốn. Thấy chỉ có lạp xưởng, tép khô với rau, liền hỏi sao không có thịt bò, cô nhỏ bán hàng thấy tôi mặc áo bộ đội liền cười nói cái này đâu có bò chú. Tôi hỏi không có bò sao gọi là bò bía, cô ta đáp người ta kêu sao con kêu vậy chứ con biết gì đâu. Hơn mười năm sau gặp anh Tăng Văn Hỷ tác giả nhiều quyển từ điển Hán Việt sực nghĩ ra, hỏi anh người bang nào, anh đáp là Triều Châu, tôi hỏi hai chữ bò bía không phải giọng Quảng Đông, có phải giọng Triều Châu không. Anh cười nói chú hỏi đúng người rồi, chú biết chữ Hán nên tôi không cần nói nhiều, rồi viết ra hai chữ Hán bạc bính. Té ra nó là bánh mỏng (bánh tráng), đọc theo âm Hoa Hán giọng Triều Châu, sau khi từ pò pía chuyển thành bò bía cho phù hợp với ngữ âm và từ vựng tiếng Việt thì được dùng để đại diện cho cái món bánh tráng cuốn lạp xưởng tép khô với rau. Một loại bánh ngọt có nhân đậu xanh, sầu riêng, dừa vân vân ở Sóc Trăng được gọi là bánh bía cũng là theo nguyên tắc đại diện này, tức bía đã trở thành danh từ riêng, chứ pía vốn là bánh nói chung.

Chuyện đại diện về từ vựng – ngôn ngữ này còn lồng vào nhiều chuyện khác về văn hóa và giao lưu văn hóa. Một lần tôi đi dự hội nghị chữ Nôm quốc tế ở Siam Riep, trong bữa ăn gặp mặt đầu tiên ở một nhà hàng tự chọn, thấy menu có món soup de Vietnam, nhìn cái hình thì là món lẩu. Anh Nguyễn Văn Lịch bên Đại học Tổng hợp thành phố nói với đám khách hội nghị người nước ngoài đó vốn là món lẩu của Tàu. Họ hỏi riết tới, tôi phải giải thích (anh Lịch dịch) rằng lẩu là âm Hoa Hán giọng Quảng Đông, âm Việt Hán là lô tức cái bếp lò, đây chỉ một loại nồi đặc biệt gắn liền với lò, rất tiết kiệm năng lượng mà người Việt ngày trước gọi
là cái cù lao. Vật dùng này vốn của người Mông Cổ trước cả thời Thành Cát Tư hãn, quân kỵ Mông Cổ hành quân thường mỗi người hai ngựa, một con chở người, một con chở lương thực và trang bị khác, trong đó có một cái túi đựng phân ngựa. Ngựa ăn cỏ nên phân nhiều xenluylô, phơi khô cháy rất đượm, họ dùng phân ấy làm chất đốt kết hợp với cái lò tiết kiệm năng lượng kia nên khi hành quân vẫn được ăn nóng, giữ được sức chiến đấu. Sau khi nhà Nguyên chiếm Trung Quốc, loại nồi gắn lò (hay lò gắn nồi) này truyền tới Giang Nam rất được giới thương nhân ngư dân và cả bọn thủy khấu hải tặc đi sông đi biển hoan nghênh vì tiện dùng ở những nơi gió lớn, từ đó nó có tên Tàu. Đến khi nhà Thanh chiếm Trung Quốc, nó lại theo thuyền các di thần phản Thanh phục Minh Hoa Nam trôi qua Việt Nam mà đặc biệt là Đàng Trong. Trên nguyên tắc nó là cái lò nhưng được dùng để gọi chung các món canh nhiều mỡ cần ăn nóng, Việt Nam vẫn gọi theo tên Tàu là lẩu, bây giờ theo chân người Việt lên biên giới Campuchia – Thái Lan lại có hộ chiếu mang tên lai Pháp. Nhưng gọi là soup de Vietnam cũng đáng, vì nó đã được Việt hóa trăm phần trăm, chẳng hạn nhà hàng ấy có cả lẩu mắm, gần giống lẩu mắm ở vùng Đồng Tháp Mười, rất nhiều loại rau dại, có điều tôm cá toàn là thứ đông lạnh.

Tào lao thêm một chút. Tại nhà hàng ấy, tôi còn đọc thấy trong menu món beef luk lak, ngẩn ra xong thì phì cười, vì nó là một cách dịch ra tiếng Pháp (hay Anh) rất sáng tạo mà trung thành về âm điệu từ bò lúc lắc ở Việt Nam. May mà anh Lịch không nói tới món ấy, chứ mấy người nước ngoài kia mà truy nguyên luk lak là gì, chắc tôi cũng chỉ đành cười gượng lak đầu mà nói know die immediate.
26. 7. 2007
Ghi thêm. Định post entry Từ nguyên 2 giải thích nguồn gốc một số từ Hoa Hán, nhưng xem lại những comment trong entry Từ nguyên 1 thấy nên post lại bài Ngầu pín này (vốn là một entry có liên quan tới vấn đề từ Hoa Hán trong blog bị xóa lần truớc) để không phải lặp lại một số điều mà có thể nhiều người đã biết. Không ngờ dài quá, định cắt bớt thì đã có người vào comment, đành phải để thành một entry riêng.

Thật ra lối giải thích pín là tiện trên đây chỉ là một cách suy đoán, chẳng hạn cũng có thể suy đoán đó là bính (mộc + bính) có nghĩa là cái cán, cái cuống, nhưng tôi chưa có dịp hỏi lại. Chính vì chỗ chưa chắc chắn ấy mà tôi không đưa lại entry này vào số Một số entry trong blog cũ. Thật ra chuyện này cũng dễ, cứ ra quán ngầu pín nào đó của người Hoa gọi môt dĩa rồi hỏi nhỏ ông chủ một tiếng là xong, nếu y viết ra chữ cho lại càng chắc ăn, nhưng chính vì dễ nên tôi chưa làm, nay thấy cần nhiều luận điểm trong bài nảy nên đành post lại, nếu sai mong các vị tha lỗi.
Tháng 3. 2008
Hôm qua anh Nguyễn Ngọc Giao có hỏi tôi lấy bài Ngầu pín đưa lên Diễn đàn Forum. Và quả nhiên như tôi đã lo, cách giải thích ngầu pín là ngưu tiện trên đây là không đúng. Khuya hôm nay tôi nhận được thư anh Giao, nguyên văn như sau:
Bài Ngầu pín vừa đưa lên mạng đã có hồi âm của một bạn đọc, xin chuyển ngay để anh biết:

Cám ơn BBT ZD đã đưa bài Ngầu pín của CTT, cho em được dịp học hỏi thêm gốc gác từ nguyên một số chữ Hán Việt rất thú vị… tuy nhiên hình như ông CTT dẫn gốc của ngầu pín là ngưu tiện có vẻ chưa được thuyết phục lắm… có người bảo đúng ra nó có gốc từ chữ Ngưu tiên (牛 鞭) mà người mình học đọc theo âm Quảng Đông thành Ngầu pín. Em thử nhờ cụ Gật Gù kiểm tra hộ lại trên mạng thì thấy trên nhiều trang tiếng Hoa cũng quảng bá đến món Ngưu tiên nàyCó lẽ đấy là tên gọi cho cơ phận của chú Bớp mà người Tàu đã dùng làm roi khi phơi khô thành một hình cụ, mà tiếng Việt mình gọi nôm na là “roi c… bò” thay cho ma-trắc, ngày xưa nhưng đồng thời cũng với tư duy hư cấu sáng tạo đầy phong phú của người Tàu qua âm dương ngũ hành… cái “roi” này cũng đã biến thành một món ăn “bổ dưỡng”… 
Ý kiến của bạn đọc nói trên là chính xác. Tôi nhờ anh Giao chuyển giúp lời cảm ơn của tôi tới anh ấy, và xin đính chính theo cách hiểu pín là tiên (“roi”) này. Từ cách hiểu này, còn có thể thấy Yàng pín là Dương tiên tức “roi” dê, Thố pín là Thố tiên tức “roi” thỏ…

8. 3. 2008

Từ ghêm có tội tình gì?


Một số người di ứng rất mạnh với từ ghêm. Viết là game lại càng nặng tội hơn. Theo họ, ghêm/game hoàn toàn có thể được thay bằng trò chơi.
Người khác lại bảo rằng không phải trò chơi nào cũnglà ghêm. Mà giả sử như ghêm với trò chơi là một thì đã sao? Có thể nhân danh điềugì để ép mọi người chỉ được dùng từ ngữ này, không được dùng từ ngữ kia để chỉmột hiện thực duy nhất?
Tình hình càng phức tạp hơn khi ghêm tham gia cấu tạo từ ngữ mới: ghêm truyền hình (tiếng Anh:TV game show), ghêm thủ (tiếng Anh:gamer), ghêm thủ cao cấp (tiếngAnh: advanced gamer), cây chơi ghêm (tiếng Anh: PC gaming case)…  Chấp nhận ghêmthì không có lý do gì để gạt bỏ ghêm sô (tiếngAnh: game show), ghêm mờ (tiếng Anh: gamer).Lại phát sinh thêm xung đột đồng nghĩa (ghêmmờ/ghêm thủ, ghêm sô/ghêm truyền hình…).
Loạn, nhưng sao không ai đứng ra dẹp?
Thực ra thỉnh thoảng vẫn có một vài nhà chính trị, nhàngôn ngữ học, nhà biên soạn từ điển, nhà giáo, nhà văn… lên tiếng nhưng tiếngnói của họ dường như không tạo được hiệu quả mong muốn.  Ký ức về một thời chưa xa khiến người dân hiệnnay thấy thà loạn thế mà được tự do nói năng theo ý mình vẫn hơn là bị gò ép tuânthủ quy định, khuôn mẫu của người khác. Nhà chính trị một mặt biết rằng khôngthể tiếp tục cai trị như xưa, mặt khác cũng sợ bản thân mình có ngày trở thànhnạn nhân của cái chính sách ngôn ngữ có tham vọng quy hoạch xã hội như một trạilính. Vì vậy, ai thích nói gì cứ nói, ai thích nghe gì cứ nghe, nhưng Nhà Nướcsẽ không có một hành động nào tạo điều kiện cho bất kỳ phe nhóm lợi ích nào ngoilên.