TỪ HÁN VIỆT GỐC NHẬT TRONG TIẾNG VIỆT – Trần Đình Sử

55. Từ Hán Việt gốc Nhật trong tiếng Việt (TBHNH 1997)
Cập nhật lúc 22h42, ngày 01/10/2007

TRẦN ĐÌNH SỬ
Đại học Sư phạm Hà Nội
1. Tiếng Việt có một vốn từ Hán – Việt rất lớn. Tuy chưa có con số thống kê xác định, song các nhà ngôn ngữ ước lượng số từ đó chiếm từ 60-80% từ vựng tiếng Việt. Trong số từ Hán Việt tiếp thu được từ thư tịch Hán cổ, từ Hán ngữ hiện đại, có một loạt từ Hán Việt, tuy tiếp thu chủ yếu qua con đường từ sách báo Trung Quốc nhưng lại có nguồn gốc Nhật Bản, chính người Trung Quốc cũng xem là từ ngoại lai có nguồn gốc Nhật Bản của họ. Có thể có cả từ gốc Nhật người Nhật trực tiếp đem đến Việt Nam hoặc người Việt trực tiếp vay mượn.
2. Dựa vào Từ điển từ ngoại lai của tiếng Hán do các tác giả Lưu Chính Đàm, Cao Danh Khải, Mạch Vĩnh Càn, Sử Hữu Vi biên soạn từ năm 1958, hoàn thành vào năm 1978, xuất bản năm 1984(1) có thể nhặt ra khoảng trên 350 từ gốc Nhật mà ngày nay vẫn được sử dụng trong tiếng Việt, chắc chắn là tiếp thu qua sách báo Trung Quốc.
Các từ đó là:
a- Về chính trị, xã hội có:
Quốc lập, quốc thể, Cơ quan, kiên trì, độc tài, độc chiếm, thừa nhận, thành viên, xuất phát điểm, bối cảnh, nguyên tắc, trọng điểm, xã giao, thi hành, lao động, nghị viện, nghị quyết, chính sách, chính đảng, tổ chức, phương châm, hiến pháp, mục tiêu, nội các, tuyển cử, tuyên truyền, hiệp hội, hiệp định, nhân quyền, xã hội, nhân văn chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, giai cấp, vô sản, quyền uy, lập hiến, lập trường, lãnh thổ, đặc quyền, đặc vụ, đồng tình, thị trường, biểu quyết, hiến binh, nghĩa vụ, tư bản, tự do, chỉ thị, chỉ đạo, trung tướng, thiếu tướng, thiếu úy, nguyên soái, trọng tài, công dân, cách mạng, cao trào, quan điểm, quốc tế, công nhận, công bố, cộng hòa, cương lĩnh, cán bộ, chi bộ, tập trung, tập đoàn, giải phóng, câu lạc bộ, quân nhu, quan hậu, hội đàm, động viên, đại biểu, đại bản doanh, pháp luật, phản đối, kháng nghị, phản động, đại cục, đề kháng, tổng lãnh sự, tổng động viên, thẩm phán, thẩm vấn, bồi thẩm viên, thời sự, thực quyền, xâm phạm, tuyên chiến, dân chủ, tư pháp, phán quyết, phục vụ, phủ quyết, phần tử, thủ tiêu, tiến triển, lý tưởng, đăng kí, đơn vị, quốc giáo, hàng không mẫu hạm, Cơ đốc giáo, chiến tuyến.
b- Về thương nghiệp, kinh tế có:
Động sản, bất động sản, dự toán, ngân hàng, tài phiệt, xuất khẩu, nhập khẩu, nhập siêu, xuất siêu, kinh doanh, tối huệ quốc, tín dụng, hiệu quả, tiêu phí, bảo hiểm, sinh sản, thương nghiệp, thống kê, đầu tư, đầu cơ, thực nghiệp, công nghiệp, kinh tế, kế hoạch, giao thông, giám định, cố định, quảng cáo, qui phạm, thi công, quốc khố.
c- Về triết học có:
Triết học, hư vô chủ nghĩa, hình nhi thượng, tri thức, nội tại, ngoại tại, hữu tượng, khánh thể, chủ thể, khách quan, chủ quan, chủ động, ngẫu nhiên, tất nhiên, hiện tượng, bản chất, tất yếu, hiện thực, khẳng định, phủ nhận, phủ định, nguyên tố, yếu tố, tương đối, tuyệt đối, tích cực, tiêu cực, bi quan, nội dung, quan niệm, năng động, tính năng, ý thức, vật chất, lí trí, lí tính, lí luận, khái niệm, phạm trù, tư tưởng, tư trào, không gian, thời gian, mệnh đề, biểu tượng, nguyên lí, kinh nghiệm, mục đích, động cơ, phân tích, phân giải, ấn tượng, tưởng tượng, ám thị, tổng hợp, diễn dịch, trực tiếp, gián tiếp, trực quan, trực giác, qui nạp, khái quát, định nghĩa, tinh thần, pháp tắc, tiến hóa, tiến hóa luận, thoái hóa, năng lực, phương thức, chủ nghĩa, biện chứng pháp, nguyên động lực, duy vật luận, duy tâm luận, thế giới quan, luận chiến, chất lượng, giao tế, giám định, cơ chất, quá độ, hoàn cảnh, đơn thuần, tín hiệu, dị vật, kí hiệu.
d- Về khoa học, giáo dục có:
Khoa học, khoa mục, khóa trình, lũy tiến, chân không, chỉ số, diễn tập, thể dục, thể thao, học hội, kim cương, truyền nhiễm, kích thích, loại hình, xã hội học, luận lí học, tâm lí học, sinh lí học, ngữ nguyên học, địa chất học, động lực học, lượng tử, bán kính, dương cực, âm cực, thám hiểm, nhân cách, vật lí, hóa học, tiêu hóa, ôn độ, khuếch tán, bão hòa, giáo dục học, giáo khoa thư, lực học, tĩnh mạch, động mạch, thần kinh, thôi miên, tế bào, thăng hoa, hệ thống, đức dục, địa chất, kiến tập, phản ứng, phản xạ, mẫn cảm, huyết sắc tố, phóng xạ, bức xạ, phương án, phương trình, thôi miên, cơ giới, phát minh, thần kinh giao cảm, giả định, vận động, tổ hợp, din dưỡng, di truyền, y học, giải phẫu, ý nghĩa, bạch kim, nguyên tử, tiêu bản, thành phần, trường hợp, thường thức, quan trắc, học vị, nghiệp vụ, bác sĩ, giảng sư, quan tuyến, hóa thạch, giáo thụ.
e- Về văn hóa, nghệ thuật có:
Bi kịch, mĩ thuật, mĩ cảm, mĩ hóa, văn học, kịch trường, vũ đài, đạo cụ, sáng tác, giao hưởng, kiến trúc, ca kịch, nguyên tắc, diễn xuất, diễn thuyết, nghệ thuật, diễn tấu, đăng tải, xuất bản, tham quan, tạp chí, chủ bút, tân văn, kí giả, tư liệu, tác phẩm, tác giả, tọa đàm, chế bản, mạn đàm, văn hóa, văn minh, hội thoại, quảng trường, kị sĩ, kỉ lục, triển lãm.
3. Số từ Hán Việt gốc Nhật trên đây được tiếp nhận từ Hán gốc Nhật trong một thời gian dài. Có nhiều từ như cách mạng, thực nghiệp, nghị viện tiếp thu từ đầu thế kỉ. Các từ giai cấp, vô sản, lập trường… tiếp thu từ những năm 20. Các danh từ khoa học giáo dục thì muộn hơn, các từ như chế bản có lẽ là du nhập gần đây.
4. Không phải mọi từ Hán gốc Nhật đều chuyển thành từ Hán Việt gốc Nhật. Chẳng hạn từ Hán gốc Nhật “Nhân lực xe” – người Việt có từ xe tay, xe kéo cho nên không vay mượn nữa. Từ Hán gốc Nhật có bi kịch, hỉ kịch, lãnh thổ, lãnh không, lãnh hải… nhưng người Việt chỉ tiếp thu từ bi kịch, còn hỉ kịch thì gọi băng hài kịch, người Việt không dùng các từ lãnh hải, lãnh không mà dùng từ vùng biển, vùng trời. Từ Hán gốc Nhật còn nhiều từ nữa mà không trở thành từ Hán Việt gốc Nhật.
5. Các từ Hán Việt gốc Nhật có hai loại chủ yếu:
a, Một loại gồm các từ do người Nhật sử dụng yếu tố Hán để tạo ra từ của mình nhằm phiên dịch, diễn đạt các khái niệm mới về khoa học, giáo dục, chính trị, xã hội như các từ: chính đảng, giai cấp, tuyên truyền, công dân, dân chủ, xã hội chủ nghĩa, hư vô chủ nghĩa, tế bào, chân không… Loại này đều mang một hàm nghĩa hiện đại xác định, không gây nhầm lẫn hiểu lầm nào.
b, Loại thứ hai gồm các từ người Nhật vay mượn từ của Trung Quốc từ nguồn thư tịch cổ, rồi phú cho nó một ý nghĩa mới, như: văn minh, văn hóa, cách mạng, văn học, tưởng tượng, tinh thần, pháp luật, phân tích, phân phối, pháp tắc… Những từ này đối với người Trung Quốc, cũng như đối với người Việt Nam, chúng vừa quen lại vừa lạ, và do đó nhiều khi không nhận ra cái nghĩa ngoại nhập mới mẻ của nó.
Ví dụ: hai chữ “cách mạng”, trong Kinh Dịch có câu: “Thiên địa cách nhi tứ thời thành, Thang Vũ cách mạng, thuận hồ thiên ứng hồ nhân” – nghĩa là Trời đất đổi thay mà thành bốn mùa, Thang Vũ đổi thay mệnh, thuận theo trời mà ứng theo người”. Nhưng cách mạng trong ý nghĩa hiện đại hoàn toàn khác: đó là một cuộc đổi thay lớn, trọng đại trong công cuộc cải tạo xã hội và thiên nhiên, một cuộc nhảy vọt từ chất cũ sang chất mới, chứ không phải đổi thay thông thường, như mùa này thay mùa kia. Đây là người Nhật dùng để dịch ý từ tiếng Anh revolution.
Lại ví dụ từ “văn hóa”, trong tiếng Hán cổ chỉ việc “văn trị, giáo hóa”. Người Nhật dùng từ này để dịch ý từ tiếng Anh culture tức là chỉ toàn bộ các giá trị tinh thần và vật chất mà con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình. Ông Đặng Thai Mai đã nói về cảm nhận quen mà lạ đối với từ này như sau: “Danh từ “văn hóa” chúng ta đã mượn ở tiếng Tàu – người Tàu lấy hai chữ này ở sách cổ – bộ Kinh Dịch để phô diễn một khái niệm mới của khoa học hiện đại… Vậy muốn có ý niệm xác đáng, ta phải công nhận cho chữ “văn hóa” hiện thời một nghĩa mới, nguồn gốc tự Tây phương”(1).
Từ Văn học lại càng thú vị. Đây là từ người Nhật dùng để dịch ý từ tiếng Anh literature: với hàm nghĩa là chỉ các tác phẩm dùng ngôn ngữ, văn tự làm công cụ để biểu hiện một cách hình tượng đời sống con người, bao gồm thơ ca, tiểu thuyết, tản văn, kịch, kí. Trong Luận ngữ có câu: Văn học Tử Du Tử Hạ” thì văn học được dùng với nghĩa là học vấn uyên bác, biết nhiều về văn hiến, không dính dáng gì với ý nghĩa hiện đaij. Lương Khải Siêu từng ở Nhật, hapá thu từ văn học của Nhật, cho nên trong trước tác của ông hai chữ văn học khi thì chỉ học vấn, khi thì chỉ văn học bao gồm tiểu thuyết và kịch, một ý nghĩa mà người Trung Quốc xưa không bao giờ nghĩ đến. Nhà nghiên cứu Nhật, Tá Đằng Nhất Lang cho rằng đó là ảnh hưởng Nhật(2).
Ở Việt Nam có lẽ ông Võ Liên Sơn là sớm nhất nhận ra cái nghĩa mới của từ đó. Năm 1927, ông viết; “danh từ văn học bây giờ người Tàu, người Nhật chỉ dùng theo nghĩa mới, nghĩa hẹp, cũng như hai chữ mĩ văn (belles lettres), nhưng từ thứ văn có tình cảm, mĩ cảm, thuộc về phạm vi nghệ thuật, chứ không gồm cả bao nhiêu văn tự kĩ thuật khác, nó thuộc về phạm vi khoa học”(3) và các tác giả đương thời sử dụng hai chữ này theo nghĩa mới một cách tự nhiên. Ví dụ Phạm Quỳnh viết Văn học nước Pháp (1921), Phan Khôi viết: Tục ngữ, phong dao và địa vị của nó trong văn học (1939). Nguyễn Thị Kiên viết Nữ lưu với văn học (1932). Các tập văn học sử của các tác giả đồng thời dùng hai từ văn học. Ông Đặng Thai Mai cũng viết: Dưới ảnh hưởng của tư triều Âu, Mỹ, hai chữ văn học ngày nay đã bao hàm một ý nghĩa khác hẳn nghĩa đen ngày xưa của nó(4).
Loại từ thứ hai này chỉ là một lối vay mượn từ có sẵn từ xưa để định nghĩa một từ mới của các nước, đó là một ước lệ, thiết nghĩ nên hiểu theo nghĩa mới đó trong dòng chảy của từ vựng.
Từ Hán Việt gốc Nhật là một phạm vi từ rất đặc biệt. Nó phản ánh các mối quan hệ văn hóa đặc thù của các nước Châu Á trong tư triều Âu Mỹ hiện đại. Nhật chịu ảnh hưởng văn hóa Hán và đã tác động trở lại tiếng Hán. Người Việt qua sách vở Trung Quốc mà tiếp thu từ mới của Nhật và qua đó mà tiếp thu văn hóa phương Tây. Việc xác lập các từ có nguồn gốc Nhật và sẽ góp phần để xác lập các từ Hán Việt gốc Việt, do người Việt sáng tạo ra. Nhưng đó sẽ là một vấn đề khác.
Chú thích:
1. Đặng Thai Mai, Nguyễn Hữu Đang: Định nghĩa hai chữ văn hóa/ Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam (1900-1945), T5, H.Văn học, 1997, tr.327.
2. Tá Đằng Nhất Lang: Trung Quốc văn chương luận, Thượng Hải cổ tịch, 1996, tr.250.
3. Võ Liêm Sơn, Văn học và xã hội/ Thơ văn Võ Liêm Sơn, Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh, Vinh 1993, tr.135.
4. Văn học khái luận, 1994/ Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học 1900 – 1945, T.5. Nxb Văn học, Hà Nội, 1997. tr.288.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.552-559)

KHẢO VỀ “ĐẠI CỒ VIỆT” (NƯỚC VIỆT – NƯỚC PHẬT GIÁO) – Trần Trọng Dương

Trần Trọng Dương Khảo về “Đại Cồ Việt” (nước Việt – nước Phật giáo) (Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 53 – 75)
Cập nhật lúc 17h25, ngày 16/11/2010

ThS. TRẦN TRỌNG DƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Quốc hiệu Đại Cồ Việt 大瞿越 do vua Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968 (SCN). Đại Cồ Việt là quốc hiệu đầu tiên, được dùng trong 8 đời vua của 3 triều Đinh, Tiền Lê, Lý, với quãng thời gian dài 86 năm (từ 968 – 1054). Tức là mãi đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6 (1054), vua Lý Thái Tông mới đặt lại quốc hiệu là Đại Việt(1). Nội dung của ba chữ “Đại Cồ Việt” đã được một số học giả quan tâm nghiên cứu. Sở dĩ, nó được chú ý đến như vậy bởi lẽ đây là quốc hiệu chính thức đầu tiên của người Việt sau khi đánh đuổi người phương Bắc, kết thúc giai đoạn một ngàn năm mà cương vực của người Việt chịu sự cai quản của thiên triều. Quốc hiệu Đại Cồ Việt đương nhiên chứa trong đó tư tưởng chính trị và xu hướng tôn giáo của người cầm quyền, tuy nhiên trước nay đây vẫn luôn là một bài toán khó giải. Rất nhiều ý kiến đã đưa ra, nhưng vẫn chỉ được coi như là những giả thuyết. Giả thuyết được đồng thuận nhiều nhất được một số học giả hàng đầu của thế kỷ XX đưa ra, giả thuyết này coi CỒ (lớn) là một từ Việt cổ. Bài viết này viết ra với mục đích tổng thuật, đánh giá về các giả thuyết trước đây, cũng như khảo luận về quốc hiệu đầu tiên này, từ đó đưa ra cách nhận định riêng trên cơ sở những thành quả của các ngành lịch sử, tôn giáo (Phật học), văn bản học, văn tự học v.v.
I. Giả thuyết coi CỒ là từ Việt cổ
2.1. CỒ là một từ Việt cổ?
Những học giả như Sở Cuồng Lê Dư (1932)(2), Bửu Cầm (1960)(3), Thúc Ngọc Trần Văn Giáp (1969)(4), Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1971)(5), Lê Văn Quán (1981, 1982, 2007)(6), Trần Quốc Vượng (1960, 2000)(7)v.v…đều cho rằng chữ “”, âm Hán – Việt đọc là “cù”, thực tế thường được đọc là CỒ nghĩa là “to, lớn”. Năm 1975,Đào Duy Anh viết như sau: “Cồ nghĩa là lớn: mến đức cồ, kinh bùi ngọt. Trong Sử ký thấy dùng từ CỒ trong tên nước ở thời nhà Đinh là Đại Cồ Việt. Ngày nay ta cũng còn thấy dùng chữ kép đại cồ lồ. Song từ Quốc âm thi tập về sau thì không thấy từ cồ được dùng riêng”(8). Sở dĩ ông coi CỒ là một từ cổ vì ông tra được chữ này trong từ điển của Alexandre de Rhodes (1651), P. P. de Béhaine (1772 – 1773) , L. J. Taberd (1838), Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895), J.F.M. Génibrel (1898), G.Hue (1937). Nhưng từ này không phải là từ cổ mà vẫn đang hiện dụng trong tiếng Việt hiện nay. Thực tế, trong suốt lịch sử tiếng Việt, từ tố Cồ chưa từng đứng độc lập làm thành phần trong câu. Giai đoạn cổ – trung đại, tiếng Việt đã có từ CẢ, CÁI để trỏ nghĩa “lớn”, đến giờ là từ LỚN, BỰ, TO. Từ CỒ trong suốt lịch sử, chỉ làm một từ tố trong các từ song tiết như gà cồ, vịt cồ, cồ cộ mà thôi. Sắc thái của nó không chỉ có nghĩa là “to” mà đôi khi còn có nghĩa là “ngố, ngờ nghệch.” như câu: lóng ngóng như gà cồ/ tồ, Nữ kê tác quái –gà mái đá gà cồ. “Gà cồ” còn có nghĩa là gà đực, gà chọi, như gà cồ sớt chó sói… Đồng dao có câu: Sáo đen là em gà cồ. Gà cồ là cô sáo sậu. Sáo sậu là cậu chim ri…; Vè nói ngược có câu: …lên non đặt lờ/ xuống sông bửa củi/ gà cồ hay ủi/ heo nái hay bươi… Tục ngữ còn có câu: gà cồ ăn quẩn cối xay (tk XIX), nay chuyển sang nói gà què ăn quẩn cối xay, lại có câu ca dao: Gà cồ lẩn quẩn cối xay/ Ai cho muối ớt xé phay gà cồ. Câu đố dân gian có câu: Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, đụng phải gà cồ cõng mẹ chạy vô…Từ tố CỒ hiện vẫn đang còn dùng trong một số địa phương. Ví dụ: vùng Sơn Tây, gọi anh nào to cao ngồ ngộ gọi là CỒ, như Thắng Cồ. Hay gọi loài ve sầu to và đen hơn loại ve sầu thường là con “cồ cộ”. Chữ “cồ cộ” ở một số nơi khác còn để chỉ loại châu chấu cỡ lớn. Xin xem các từ điển từ xưa đến nay(9). Có thể đi đến nhận định, chữ CỒ là một từ tố không có khả năng đứng độc lập, vì phải nhường chỗ cho các từ đồng nghĩa khác; quan trọng nhất, nó chỉ chuyên dùng cho các đối tượng là động vật mà thôi. Cho nên, khó có khả năng kết hợp là “đức cồ” được (TTD nhấn mạnh). Việc coi CỒ trong ĐẠI CỒ VIỆT như một từ cổ là kết luận được hình thành từ cảm thức tiếng Việt hiện đại thông qua tra cứu các từ điển cổ mà thôi.
Về mặt cấu trúc của ngữ danh từ, đây là một cấu trúc của Hán văn. Trong đó, trung tâm ngữ là từ “Việt” đứng ở sau cùng, hai từ “đại” và “cồ” đứng trước để tu sức cho “Việt”. Cấu trúc này có lẽ không phải bàn luận nhiều. Nếu theo giả thuyết CỒ là một chữ Nôm, thì cấu trúc này sẽ có trật tự khá bất ổn như sau: [từ Hán (đại) + từ Nôm (cồ: lớn) + từ Hán]. Mối quan hệ giữa “đại” và “cồ” là mối quan hệ đẳng lập, nhưng “cồ” lại là yếu tố chức năng để chua nghĩa cho “đại”. Điểm bất ổn ở chỗ, cố gắng chua nghĩa cho một từ quá đơn giản. Cho nên, nói như học giả An Chi: “Đối với chữ Cồ trong Đại Cồ Việt mà nói rằng đây là một yếu tố Nôm có nghĩa là “to, lớn” thì thật chẳng còn gì nhẹ dạ cho bằng. Với cách hiểu quá đỗi hời hợt này, người ta đã gây ra trong 3 tiếng Đại Cồ Việt một cái lỗi quá thô thiển về trùng ngôn (pleonasm): đã “đại” mà lại còn “cồ”. Chẳng những thế, cách hiểu rất ít chiều sâu đó còn biến ba tiếng Đại Cồ Việt thành một thứ ngôn ngữ “ba rọi” (vừa Tàu vừa ta) không thể chấp nhận được cho một quốc hiệu nghiêm túc và đáng kính trọng v.v…”(10) Hiện tượng từ Nôm được dùng như là một thành phần của một ngữ danh từ tiếng Hán không phải là không có. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Trang thì trong số 4000 vị thần thì có khoảng 10% tên các vị có yếu tố Nôm, như Bến Nước Đại vương, Cửa Ngòi Công chúa, Đống Đá Hiển ứng Chiêu cảm Đại vương(11) v.v… Có thể thấy yếu tố Nôm ở đây chỉ là danh từ riêng, và cấu trúc của các ngữ này chỉ là [từ Nôm + từ Hán]. Giả thuyết coi CỒ chua nghĩa cho ĐẠI là bất ổn cả về ngữ nghĩa lẫn cấu trúc.
2.2. Hệ quả của giả thuyết coi CỒ là một từ Việt cổ. Dựa trên giả thuyết coi CỒ là chữ Nôm để ghi từ Việt cổ của các học giả vừa nêu, năm 1984, Keith Weller Taylor đi đến nhận xét rằng: “đại cồ” là một dạng ghép “phản ánh sự phát triển sáng tạo của ngôn ngữ bản địa khi nó được sử dụng cho vấn đề chính trị”(12) trong giai đoạn tự chủ mới.
Năm 1992, nhà nghiên cứu văn tự học Trung Quốc, La Trường Sơn cũng viết: “năm 968, triều Đinh bắt đầu kiến lập nhà nước phong kiến tự chủ, chữ CỒ trong quốc hiệu lại là một chữ Nôm, nhưng ý nghĩa của chữ Nôm này vốn đã nằm trong nghĩa của chữ “đại” rồi. Đó là dấu vết chữ Nôm xuất hiện đầu tiên trong thế kỷ X”(13).
Theo chúng tôi, đây là giả thuyết thuần túy văn tự theo chiều hướng có lợi cho dân tộc của các nhà Nôm học trong thế kỷ XX, từ đó dẫn đến những ý kiến đồng thuận của các nhà sử học trong nước và các nhà nghiên cứu nước ngoài (những người phi bản địa). CỒ được coi là một từ Nôm để chứng minh ba điểm:
1. Chữ Nôm đã ra đời từ thế kỷ X;
2. Khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc thông qua sự tự ý thức của người cầm quyền về ngôn ngữ dân tộc.
3. Độc lập dân tộc là kế thừa truyền thống tộc Việt từ thời Hùng Vương, Âu Lạc, Lạc Việt, với những thành tựu văn hóa như nỏ thần kim quy!
Một giả thuyết khoa học đứng trên rung động tình cảm dân tộc là một điều có thể hiểu được vào một số thập kỷ của thế kỷ trước (thế kỉ XX) khi hoàn cảnh lịch sử của đất nước còn chưa được ổn định. Nhưng, kể cả chữ CỒ là một từ Nôm đi chăng nữa thì cũng không thể khẳng định rằng chữ Nôm đã ra đời với tư cách là một hệ thống văn tự dùng để ghi một chuỗi ngôn từ thuần Việt(14).
2.3. Chữ CỒ từ bối cảnh văn hóa thời đại. Thêm nữa, qua các tài liệu lịch sử, thì ba đời vua (13 năm) nhà Đinh chưa có ý thức về “ngôn ngữ bản địa”. Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là Vạn Thắng Vương 萬聖王(15). Quần thần tôn là Đại Thắng Minh Hoàng đế 大勝明皇帝(đế hiệu thuần Hán)(16). Rồi ngay sau khi lên cầm quyền, vua Đinh phong cho con là Đinh Liễn tước là Nam Việt Vương 南越王(17), rồi sai Đinh Liễn đi sứ để triều cống và xin sự công nhận của thiên triều. Nhà Tống mới lập, còn bận nhiều việc chưa đem quân đến chinh phạt, nên năm 973 Tống Thái Tổ bèn ban bài chế công nhận Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận vương, Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư,Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ檢校太師靜海軍節度使(18). Năm 970, đổi niên hiệu là Thái Bình太平. Đến niên hiệu Thái Bình thứ 3, vua phong Đinh Tuệ là Vệ Vương衛王, lập con thứ là Hạng Lang làm Thái tử太子(19).
Như thế, có thể thấy rằng, vào giai đoạn đầu độc lập tự chủ, triều đại đầu tiên của Việt Nam luôn ý thức được rằng, phải mềm mỏng trong vấn đề ngoại giao. Trong nước vẫn có thể có quốc hiệu, vua vẫn tự xưng đế hiệu của mình. Nhưng một mặt, vẫn phải nhún nhường xin nhà Tống công nhận mình là nước phiên thuộc, hàng năm vẫn phải cống sứ đầy đủ. Và muốn được Bắc quốc công nhận, các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý cũng phải cố gắng chứng tỏ mình là một nước thuộc về văn hóa ngôn ngữ của Trung Hoa, phải cố gắng chứng tỏ mình đã được “giáo hóa”, là nước có “văn hiến” (xét theo nghĩa gốc của từ này, như Nguyễn Trãi sau đó gần 500 năm cũng đã viết trong Bình Ngô đại cáo). Biểu hiện quan trọng nhất của việc có văn hiến là xác định hệ thống văn tự quan phương (văn) và chủ thể sử dụng thứ văn tự đó (hiến), rồi sau đó mới đến thiết lập triều nghi, dùng hình pháp (pháp trị), đóng đô, xây cung điện để làm chỗ thiết triều, xắp đặt bách quan, lập ngôi hoàng hậu, phong vương phong tước, dựng đàn Xã Tắc làm nơi tế tự của triều đình quốc gia (quốc tế, tự điển) v.v… Quan trọng không kém là đặt quốc hiệu. Vì thế, tên nước Đại Cồ Việt là thuần Hán thì thiên triều mới chấp nhận được. Và cũng chỉ có thuần là nghĩa Hán thì nó mới “đồng bộ” với các tên quan chức theo mô hình của Hán như Đô hộ phủ, Thập đạo Tướng quân, Đinh quốc công v.v… Đinh triều hẳn là triều đình lấy Hán văn làm ngôn ngữ hành chính và ngoại giao. Bài từ tiếp sứ Vương lang quy của Ngô Chân Lưu sau này cũng là bài thơ chữ Hán vậy.
Nếu không dùng chữ Hán, cái nhà nước vừa mới hình thành sau cả ngàn năm thuộc Bắc, cái nhà nước mới được hưởng chút ít “thái bình” sau cái loạn 12 sứ quân kia lại bị liệt vào danh sách những nước “mọi rợ” (không có chữ viết) thì sẽ sớm phải chịu cảnh “khai hóa” của nước lớn. Đọc lời chế của Tống Thái Tổ có thể thấy rõ điều này: “Bộ Lĩnh […], giữ tiết làm tôi hướng theo phương Bắc, […], có chí mến văn hóa của Trung Quốc, thường nghĩ đến việc nội phụ, […], qua lại cống hiến lễ vật. Nay có có lời khen ngợi đã sai con đến xin làm phiên thuộc, vậy phong cho cha làm quận vương v.v…”(20) Cho nên, lập luận cho “Đinh Tiên Hoàng dùng lại chữ “Việt” là tìm về cội nguồn Lạc Việt (tổ tiên của dân tộc Việt chúng ta), lại thêm chữ CỒ (tiếng Việt) để muốn giương cao nước Cồ Việt là một nước rộng và có nền văn hóa “lớn” thuần Việt (phi Hoa phi Ấn)”(21) là có phần chủ quan, tiền định.
Đến đây, chúng tôi có khuynh hướng nghiêng về phía các học giả cho rằng, quốc hiệu “Đại Cồ Việt” vẫn là tên thuần Hán. Điều đó có nghĩa là, chữ “” không phải là chữ Nôm dùng để ghi âm CỒ của tiếng Việt cổ trong một ngữ danh từ theo trật tự cấu trúc của tiếng Hán(22).
II. Giả thuyết coi [Đại + Cồ] là một chữ Nôm
Gần đây, tác giả bài viếtQuốc hiệu nước ta trong lịch sử: “Đại Cồ Việt” hay “Cồ Việt”?(23) – Nguyễn Anh Huy đã đưa ra một giả thuyết thú vị, giải thích về ba chữ “Đại Cồ Việt”. Giả thuyết này của tác giả được hình thành trên một tín niệm của rất nhiều học giả hàng đầu của thế kỷ XX, coi CỒ (lớn) là một từ Việt cổ như bài viết đã nêu ở trên. Ông đưa ra bốn bước lập luận như sau:
1. “Đại Cồ” là từ thừa nghĩa, thừa chữ. Vì “đại” tiếng Hán là lớn; và CỒ tiếng Việt cổ cũng nghĩa là lớn(24). Chính sự dư thừa một cách vô lý như vậy đã khiến cho đa số người đời sau không thể hiểu được ý nghĩa của danh từ này.
2. Ông cho rằng: ở đây có một sự nhầm lẫn về văn bản học của các nhà sử học thời trung đại. Đại Việt sử ký toàn thư (từ đây viết tắt là ĐVSKTT) – văn bản chính sử đầu tiên có ghi nhận quốc hiệu này lại “không phải là chữ viết gốc thời Đinh Tiên Hoàng mà đã “tam sao thất bản” nhiều lần qua các bản chép tay của Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, sử thần triều Lê v.v… Nhưng lần “thất bản” lớn nhất, theo tôi, là chuyển từ bản chép tay sang khắc mộc bản (sic) để in sách từ thời Lê Chính Hòa năm 1697.”(25) Từ việc nghi ngờ đối với văn bản như vậy, tác giả đã đi đến giả thuyết cho rằng “Đại Cồ Việt” là một chữ có vấn đề về mặt tự dạng.
3. Ông cho rằng “đại cù” trong ĐVSKTT là một chữ Nôm hài thanh “cồ��”. Do các văn bản cổ viết theo hàng dọc, nên chữ Nôm “cồ ��” rất dễ đọc nhầm thành hai chữ “đại” và “cù”.
4. Cứ liệu thành văn mà ông đưa ra để củng cố thêm cho giả thuyết của mình đó là đôi câu đối trong đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng tại cố đô Hoa Lư, trong đó chỉ ghi quốc hiệu là CỒ VIỆT.
Giả thuyết cho hai chữ [đại + cồ] là một chữ Nôm hình thanh để ghi 1 từ Việt là CỒ (nghĩa là lớn) là giả thuyết thú vị. Nhưng, nếu đã nêu cao “tinh thần dân tộc” thì phải chăng nên đặt theo cấu trúc của ta là “Việt Cồ”? Mặt khác, các nhà khảo cổ và Nôm học chưa từng tìm thấy một chữ Nôm hình thanh nào vào thế kỷ X để làm tiền lệ hay đối chiếu(26).
Trước tiên, bài viết muốn thảo luận lại về văn bản này. Đó là câu đối ở đền vua Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư. Nguyên văn như sau瞿越國當宋開寶華藘都是漢長安(Cồ Việt Quốc đương Tống Khai Bảo/ Hoa Lư đô thị Hán Trường An) nghĩa là “nước Cồ Việt tương đương với niên hiệu Khai Bảo đời Tống/ Kinh đô Hoa Lư cũng như là Trường An đời Hán”. Ngoài ra, ở Hoa Lư cũng còn có một câu đối nữa có xuất hiện chữ “Cồ Việt” với nội dung như sau: 萬勝威雄瞿越基開正統始/ 天書分定華藘運啟聖人生(Vạn Thắng uy hùng, Cồ Việt cơ khai chính thống thủy/ Thiên thư phân định, Hoa Lư vận khải thánh nhân sinh) nghĩa là “Vạn Thắng Vương oai hùng, Cồ Việt nền xây, (triều đại) chính thống (từ đây) bắt đầu/ Thiên thư phân định, Hoa Lư vận mở, thánh nhân xuất hiện”. Tuy nhiên, niên đại của hai đôi câu đối này là khá muộn. Đôi đầu được viết vào năm Giáp Tý thời Tự Đức (1864)(27). Đôi sau được viết vào năm Đinh Mão thời Bảo Đại (1927)(28). Trong Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca do Hồng Nhung và Hồng Thiết (con của Tuy Lý Vương) diễn dịch cũng có chữ này ở đoạn “Ông Ðinh Bộ Lĩnh, người xứ Hoa Lư, hiệu rằng Vạn Thắng, trí dũng có dư, dẹp yên các trấn, sắp đặt trăm quan, nước xưng Cồ Việt渃稱瞿越(29), đô đóng Trường An” (249-256). Tức là cả 3 văn bản ghi “Cồ Việt” đều là các văn bản rất muộn vào đời Nguyễn sau ĐVSKTT hai trăm năm.
Mặt khác, chúng tôi cho rằng chữ “Cồ Việt” ở đây chỉ là cách gọi tắt của “Đại Cồ Việt” dưới áp lực của thể loại văn vần. Câu đối là thể loại văn học hạn chế người sáng tác đến từng âm tiết, ngoài ra còn phải kể đến luật bằng trắc. Thể loại thơ bốn chữ cũng vậy, 1 câu thơ 4 chữ thật khó có thể đặt một danh từ riêng chiếm đến 3 âm tiết. Với cấu trúc “trắc – bằng – trắc”, ba chữ “Đại Cồ Việt” nếu đưa vào bất cứ một câu văn vần nào thì cũng sẽ dễ gây nên sự thất luật. Điều này có thể thấy rõ, đế hiệu Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là “Vạn Thắng vương” cũng bị cắt mất một âm tiết. Có người không biết “Vạn Thắng” là đế hiệu nên không viết hoa mà phiên âm và hiểu theo nghĩa là “muôn chiến thắng”(30) và không chua gì cả. Một chứng cứ nữa vể việc “Đại Cồ Việt” bị cắt mất một âm tiết trong văn bản văn vần. Đó là đôi câu thơ “Nước xưng ĐẠI CỒ nối trời, xây thành lập lũy trong ngoài sửa sang” (câu 4102 và câu 4103) trong sách Thiên Nam ngữ lục(31). Có thể thấy, có 3 văn bản ghi quốc hiệu là “Cồ Việt”, 1 văn bản ghi quốc hiệu là “Đại Cồ”. Và cả 4 văn bản này đều thuộc về văn vần (xin xem bảng tra ở dưới). Trong khi đó ĐẠI CỒ VIỆT luôn luôn được ghi một cách trọn vẹn trong các văn bản lịch sử bằng văn xuôi (9 văn bản). Cụ thể như sau:
Sử liệu(32)
Niên đại
Chữ
Thể loại
Đinh viết Đại Cồ Việt, đô Hoa Lư (Dư địa chí)(33)
Sáng tác XV, in 1868
Văn xuôi
“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Khai Bảo năm thứ 1). Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt… bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế”(34).
1697 (khắc in)
Văn xuôi
Thiên Nam ngữ lục(35)
Thế kỉ XVIII
Văn vần
“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Thái Tổ Khai Bảo năm thứ 1). Vua buổi đầu lên ngôi. Đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt… các bề tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế”(36).
1800 (khắc in)
Văn xuôi
“Làm kẻ chợ ở động Hoa Lư, nay là Trường Yên phủ, dựng hiệu nước là nước Đại Cồ Việt”(37)
1800 (khắc in)
萬勝
Văn xuôi
Câu đối đền Đinh Tiên Hoàng
1864
Văn vần
“Mậu Thìn (968), Đinh Tiên Hoàng năm thứ 1 (Tống, Thái tổ, năm Khai Bảo thứ 1). Vạn Thắng vương lên ngôi Hoàng đế, quốc hiệu là Đại Cồ Việt (không rõ tháng nào)”(38)
1881 (khắc in)
萬勝
Văn xuôi
Một mai về với Trần công/ hiệu xưng Vạn Thắng anh hùng ai qua(39)
1870
萬勝
Văn vần
“Mậu Thìn, năm thứ 1 [968] (Tống Thái Tổ Khai Bảo năm thứ 1). Vạn Thắng Vương lên ngôi hoàng đế. Quốc hiệu là Đại Cồ Việt… Quần thần dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế”(40).
Cuối thế kỉ XIX (chép tay)
萬勝
Văn xuôi
Việt Nam phong sử(41)
Cuối thế kỉ XIX (chép tay)
Văn xuôi
“Ông Ðinh Bộ Lĩnh, Người xứ Hoa Lư, Hiệu rằng Vạn Thắng, Trí dũng có dư. Dẹp yên các trấn, Sắp đặt trăm quan, Nước xưng Cồ Việt, Đô đóng Trường An” (249-256)(42).
1912
瞿越
Văn vần
Việt sử yếu(43)
1914 (khắc in)
Văn xuôi
Đinh tộc gia phả(44)
1916 – 1925
Văn xuôi
Câu đối đền Đinh Tiên Hoàng
1927
瞿越 / 萬勝
Văn vần

Về văn bản học, chưa từng có một văn bản sử học (bằng văn xuôi: 9 vb) nào ghi nhận cách viết [đại + cồ] là một chữ Nôm. Hơn nữa, các văn bản xuất hiện vào thời Đinh đến nay hầu như không còn gì. Hiện, chỉ có một số văn bản rất đáng chú ý; đó là 40 cột kinh tràng hiện đang nằm trong kho hiện vật của Bảo tàng Ninh Bình. Tiếc rằng, chúng tôi, dù đã cố gắng, nhưng không thể nào tiếp cận được những tư liệu đặc biệt quý hiếm này. Chỉ có nghiên cứu các văn bản Hán văn trên các kinh tràng này mới may ra tìm được cách ghi quốc hiệu chính xác. Trong số 40 kinh tràng trên, có 2 kinh tràng đã từng được Hà Văn Tấn nghiên cứu(45). Thế nhưng, cả hai là các văn bản chép kinh trì chú của phái Mật tông, nên không có thông tin nào. Tóm lại, tất cả các văn bản sử học (văn xuôi, trong đó ĐVSKTT vẫn là văn bản sớm nhất, có giá trị nhất, tính khả tín cao nhất) đều ghi quốc hiệu là “大瞿越”. Tất cả các văn bản văn vần đều ghi thiếu một âm tiết do hạn định của thể loại đối với số lượng âm tiết và luật bằng trắc.
Điều chúng tôi muốn nói ở đây là những nghiên cứu sẽ khó có thể đạt được kết quả khi người thực hiện cố gắng chối từ sự hiện hữu của tư liệu. Điều đó sẽ dẫn đến hành động sử dụng tất cả các dữ liệu để chứng minh cho một định đề có sẵn. Lập luận cho rằng ĐVSKTT và các văn bản lịch sử khác viết sai là một thao tác “bạt bản tắc nguyên”, phủ nhận giá trị thực tại, khách quan của các ngành khoa học cơ bản nhất trong các khoa học về xã hội nhân văn, đó là khảo cổ học, văn bản học, ngôn ngữ học. Mặt khác, chúng ta cũng khó có thể tưởng tượng ra rằng, sẽ như thế nào nếu toàn bộ các sử gia của một cộng đồng dân tộc cũng như “kí ức dân gian” quên mất, hoặc là nhớ nhầm/ viết nhầm quốc hiệu đầu tiên của mình? Như trên, bài viết đã phản bác lại giả thuyết coi CỒ là một từ Việt cổ và giả thuyết coi ĐẠI CỒ là một chữ Nôm. Dưới đây, bài viết muốn đề cập đến các giả thuyết coi CỒ là một chữ Hán.
III.Các giả thuyết coi CỒ là một chữ Hán
Trong những người quan tâm nghiên cứu về quốc hiệu “Đại Cồ Việt”, Nguyễn Khắc Kham, Kỳ Quảng Mưu chủ trương cho rằng “Đại Cồ Việt” là một từ thuần Hán. Cả hai ông đều đưa ra những kiến giải riêng hữu lý. Bài viết giới thiệu giả thuyết của hai học giả trên nhằm góp phần lý giải về nội dung ngữ nghĩa của ba chữ “Đại Cồ Việt”- quốc hiệu đầu tiên của nước ta trong thời kỳ đầu của độc lập tự chủ.
3.1. Giả thuyết của Kỳ Quảng Mưu
Trong bài Giải thích về tên nước Đại Cồ Việt – và phân tích ngữ nghĩa bài “Vương lang quy” của Ngô Chân Lưu đăng trên tạp chí Đông Nam Á tung hoành, tác giả Kỳ Quảng Mưu (khoa Đông Phương ngữ của Lạc Dương Ngoại quốc ngữ Học viện, Trung Quốc), cho rằng Đinh Bộ Lĩnh định quốc hiệu là Đại Cồ Việt hẳn là phải có dụng ý của riêng mình. Trước tiên, ông để ý đến hai thành tố quan trọng và khó hiểu nhất đó là hai chữ “Cồ Việt”. Đó là một danh hiệu để khu biệt với các dân tộc và quốc gia khác thuộc vùng Bách Việt xưa. Đinh Bộ Lĩnh không đặt tên nước là Nam Việt quốc để tránh trùng tên nước của Việt Đà. Ông cũng không đặt tên nước là Đại Việt vì nó cũng trùng với quốc hiệu Đại Việt của Lý Thánh Tông (Trung Quốc). Bởi Lý Thánh Tông đã xưng đế vào năm 917 tại Quảng Châu. định quốc hiệu là Đại Việt, sau đổi thành “Hán”, sử sách gọi là Nam Hán. Nhưng năm 972, Nam Hán bị Tống thôn tính. Cho nên Đinh Bộ Lĩnh đã tránh dùng lại quốc hiệu cũ của nước láng giềng và đặt tên nước là Đại Cồ Việt (46).
Kỳ Quảng Mưu cho rằng, từ thực tế lịch sử, Đinh Bộ Lĩnh đã ứng thuận lòng dân, dẹp bỏ loạn lạc, thống nhất lãnh thổ, đưa chính quyền về một mối. Nhưng nước mới được lập, vừa qua cơn chiến loạn, ông chắc hẳn đã đối mặt với rất nhiều khó khăn, luôn luôn phải răn dè bản thân. Cho nên, đặt niên hiệu “Thái Bình” là để an dân. Đặt quốc hiệu “Đại Cồ Quốc” là để tự răn mình, răn rằng: “Mới có niềm vui của sự thành công thì phải đề cao lòng răn dè sợ sệt, mắt phải nhìn cho xa”(47).
Như thế, Kỳ Quảng Mưu khẳng định quốc hiệu “Đại Cồ Việt” là một danh từ thuần Hán, trong đó chữ CỒ cũng mang ngữ nghĩa của tiếng Hán. Trong đó ông muốn hiểu, chữ CỒ mang đủ cả ba nghĩa như ông đã tra cứu qua Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: “Cồ: 1.sức trông xa của chim ưng; 2.nhìn chú vào một chỗ; 3.sợ hãi.”
Chúng tôi thiết nghĩ, coi “Đại Cồ Việt” là một cụm từ thuần Hán là một hướng lý giải đúng. Tuy nhiên, việc lấy nghĩa cơ bản của chữ CỒ để lý giải cho ba chữ này là giả thuyết cần phải bàn lại.
3.2. Các giả thuyết của Nguyễn Khắc Kham
Giống như Kỳ Quảng Mưu và các nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Khắc Kham là người trăn trở khá nhiều về quốc hiệu Đại Cồ Việt. Năm 1974, ông cũng từng coi CỒ là một chữ Nôm(48), sau ông đã từ bỏ giả thuyết này bằng cách cùng một lúc đưa ra hai giả thuyết khác vào năm 1978.
Giả thuyết đầu tiên ông đưa ra là một cách giải thích thú vị. Ông nói:“Cồ Việt” có lẽ là cách đọc của người Việt cổ cho hai chữ “Âu Việt 甌越. Chữ Âu có hai âm đọc ở tiếng Hán cổ là *U và *KU, … có lẽ triều Đinh đã sử dụng chữ Hán “cù” thay cho “Âu” để tránh nhầm lẫn.”(49) Giả thuyết này có hai điểm yếu:
1. Chứng minh “Cù” là một cách đọc/ cách ghi âm khác của ngữ âm tiếng Việt Mường về chữ “Âu” là một cách lý giải khá hóc hiểm và kỳ khu.
2. Dùng một từ đồng âm, nhưng khác về tự dạng để “tránh nhầm lẫn” rằng nước “Âu Việt” của mình (Đinh Bộ Lĩnh) khác với nước “Âu Việt” thời cổ cũng là một giả thuyết khó có thể xảy ra nữa. Nếu đã đề cao truyền thống dân tộc thì dùng cả âm, cả chữ, cả nghĩa; chứ sao phải thay đổi phức tạp như vậy?
Ông cũng đưa ra một giả thuyết khác, rằng: “Cồ Đàm瞿曇là họ của Phật, dịch từ chữ Gautama trong tiếng Sanskrit. Phật giáo phát triển mạnh ở Việt Nam vào triều Đinh, lực lượng tăng lữ giữ vị trí quan trọng trong triều đình, ông có hướng cho rằng Đại Cồ Việt có lẽ nghĩa là “nước Việt – nước Phật giáo lớn. Ở đây, ta cũng nhắc đến chi tiết một trong năm Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng có tên là Cồ Quốc 瞿國(Nước Phật)”(50). Chính giả thuyết này học giả J. de Francis(51) cũng đã từng đưa ra bởi ông này cũng cho rằng Phật giáo thời Đinh hẳn là quốc giáo. Nhân dây xin mượn lời của Nguyễn Lang để minh chứng: “Tiếp đến, Ðinh Tiên Hoàng dẹp 12 sứ quân, lập ra nước Ðại Cồ Việt độc lập. Mật Giáo và Thiền là hai hệ thống Phật giáo hưng thịnh nhất của thời đại. Chính trong thế kỷ này mà những trụ đá (sic) về Mật Tông được tạo dựng ở Hoa Lư. Chính trong thế kỷ này mà đạo Phật tích cực đóng góp vào việc dựng nước. Năm 971, vua Ðinh Tiên Hoàng định giai cấp cho tăng sĩ và ban chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu của thiền phái Vô Ngôn Thông, cho ông hiệu Khuông Việt Thái Sư, chính thức nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Cũng chính trong thế kỷ này mà vua Lê Ðại Hành mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi làm cố vấn chính sự. Các thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục giúp vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp”(52).
Giả thuyết này của J. de Francis và Nguyễn Khắc Kham hoàn toàn hợp lý với những gì chúng ta biết từ trước đến này về nhà Đinh. Các di vật, các văn bản từ thời Đinh còn lại đến nay hầu như không còn gì ngoài mấy cột kinh tràng tại Hoa Lư. Di vật có chữ viết khai quật được khoảng 40 chiếc(53). Và nội dung được khắc trên đó, theo sự nghiên cứu của Hà Văn Tấn, đều là các văn bản trì chú của Mật Tông. Có thể đoán định rằng, Đại Cồ Việt tuy mới tách ra khỏi nước lớn, nhưng Phật giáo vẫn được coi như là một quốc giáo, y như nhà Đường trước đó. Điều này có thể thấy sự đồng nhất về phong cách kiến trúc giữa văn hóa Đại Cồ Việt và văn hóa Đường. Từ chùa Nhất Trụ (chùa Một Cột, tại Hoa Lư, Hà Nội), từ Tháp Nhạn (Nghệ An) đến các kinh tràng…, từ xu hướng ngôn ngữ, phong cách văn chương chữ Hán cho đến hệ kiến trúc thượng tầng. Có thể nói, sự đột khởi của văn hóa Đinh – Lý – Trần, sự xuất hiện đầu tiên và lập tức là đỉnh cao, chỉ có thể đặt trong bối cảnh văn hóa Đại Cồ Việt – Đại Việt kế thừa từ văn hóa đời Đường, trên nền tảng văn hóa Đường. Phật giáo chắc hẳn phải là quốc giáo vào thời Đinh. Cho nên, lấy họ Phật để đặt quốc hiệu là một giả thuyết rất có thể xảy ra trên thực tế.
IV. Khảo về chữ CỒ trong “Đại Cồ Việt”
4.1. Khảo về âm và nghĩa
Về âm đọc của chữ “”. Trung văn đại từ điển(54)ghi nhận chữ “” có 5 âm đọc như sau:
Quảng vận廣韻ghi cửu ngộ thiết (九遇切), Tập vận集韻Vận hội韻會đều ghi câu ngộ thiết (遇切)âm cú ngộ 音句遇, khứ thanh, vậy chữ này được đọc là CỐ. Âm đọc này có 7 nét nghĩa.
Quảng vận廣韻ghi kỳ câu thiết (), Tập vận集韻Vận hội韻會đều ghi quyền câu thiết (), âm cù ngu thiết (衢虞切) (bình thanh), vậy phương án đọc thứ haicó thể cho ta hai âm là CẦU, CÙ. Âm đọc này có 15 nét nghĩa.
Tập vận集韻ghi kí lực thiết (記力切), âm cức, chức (亟,職), nhập thanh, vậy chữ này có cách đọc thứ 3 là CỰC. Với nghĩa là vẻ buồn rười rượi (cực cực)
Ngoài ra, Trung văn đại từ điển còn đưa ra cách đọc khá đặc biệt nữa là CỦ (âm như chữ củ ). Với nghĩa là quy củ (đạo hiệt củ của Nho gia).
Theo các vận thư, chữ có thể đọc theo 5 âm: CỐ, CẦU, CÙ, CỰC, CỦ. Như thế, cứ theo mặt chữ mà đọc theo âm và theo nghĩa, ta sẽ có một bảng tổng hợp tất cả các khả năng có thể xảy ra trên lý thuyết cho các từ大瞿越. Cụ thể như sau: 1. ĐẠI CỐ VIỆT: Nước Việt lớn như bày nhạn tụ tập. 2. ĐẠI CỐ VIỆT: Nước Việt lớn có vẻ nhìn (hay tầm nhìn) như chim nhạn. 3. ĐẠI CỒ VIỆT: nước Việt lớn có ánh nhìn sợ hãi. 4. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn như chim sẻ quay đầu. 5. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn (nhưng) run sợ (trước Thiên triều) như ý kiến của Kỳ Quảng Mưu. 6. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn (biết) tiết kiệm. 7. ĐẠI CỐ VIỆT: nước Việt lớn sợ hãi. 8. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn có ánh mắt trừng trừng, láo liên(55). 9. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn vừa chạy vừa sợ hãi. 10. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (như) gai táo. 11. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn có cái mào trên đầu. 12. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (đẹp) như hoa bách hợp. 13. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (có) binh khí (như một giả thuyết khác của Nguyễn Anh Huy). 14. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn như ngã tư đường.15. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn, gầy gò. 16. ĐẠI CẦU/ CÙ VIỆT: nước Việt lớn (có nhiều) cỏ cù. 17. ĐẠI CỤ VIỆT: nước Việt lớn buồn bã như khi đang có tang. 18. ĐẠI CỦ VIỆT: nước Việt lớn có quy củ. (18 cách dịch này chưa kể đến mối quan hệ ngữ pháp của chữ ĐẠI trong cả ngữ danh từ, cũng chưa kể đến 5 cách dùng của chữ CÙ để ghi danh từ riêng.)
Chỉ xét trên tiêu chí NGỮ NGHĨA, thì ai cũng thấy các tác giả khi coi CỒ là một từ Hán đều thực hiện thao tác chọn nghĩa của từ này thông qua tra cứu từ điển, xem nghĩa nào “hợp” nhất. Tiêu chí của sự hợp lý ấy là nghĩa phải đẹp, mang tầm vóc của quốc gia, thể hiện tâm tư, ý hướng, khát vọng của cả dân tộc. Giả thiết của Kì Quảng Mưu khó chấp nhận được cũng bởi vì không thể xảy ra xét trên hai tiêu chí âm và nghĩa, nhất là sự suy luận về nghĩa của ông lại ảnh hưởng theo nhãn quan của con dân nước lớn. Giả thuyết của Lê Văn Siêu (1964) coi“” thông với chữ “”, rằng: “Đại Cồ Việt có nghĩa là nước Việt rộng lớn trông suốt cả bốn cõi hay tám cõi (bát hoang) theo lối hiểu ngày xưa, ấy là cái cao vọng của người không những muốn thống trị mà còn muốn bành trướng thế lực ra tám cõi nữa(56). Hiểu như Lê Văn Siêu thì cũng theo tinh thần dân tộc mà suy diễn. Nói như ngôn ngữ mà học sinh Việt Nam hiện nay được dạy thì Đinh Bộ Lĩnh đặt tên nước là Đại Cù Việt vì ông đã nhìn thấy mảnh đất này nằm ở “ngã tư đường giao thông quốc tế”. Giả thuyết khác của Nguyễn Anh Huy cho CỒ nghĩa là loại binh khí cổ của nước Âu Lạc thì quả cũng chỉ là một cách “gồng mình” thay cho lịch sử. Có thể coi giả thuyết này là sản phẩm lãng mạn hóa bởi tinh thần chauvinisme theo trường phái Kim Định.
4.2. Vì sao âm CỒ không có trong vận thư từ điển Trung Hoa?
Chỉ xét riêng âm đọc thôi, tất cả các khả năng trên đây đều bị loại bỏ. Chữ chưa từng được các từ điển Trung Quốc ghi nhận cách đọc CỒ. Thế nhưng, không một ai trong các học giả trên bác bỏ âm đọc CỒ của chữ Hán, thay vào đó là công nhận CỒ chính thức hơn là âm đọc CÙ. Lý do tại sao? Bởi, ai cũng đọc theo cái “kí ức dân gian”, cái “trí nhớ dân gian” mà bài viết đã nhắc đến ở trên. Liệu hàng vạn lớp người của một dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử có thể đọc sai hay đọc nhầm quốc hiệu đầu tiên của mình? Liệu hàng trăm sử gia thời trung đại, liệu hàng ngàn nhà nho trong quá khứ đều đọc sai ba chữ này? Kể cả một số học giả gần đây đặt ra những giả thuyết lý thú đi thế nào chăng nữa thì cái âm CỒ vẫn là một dữ liệu bất biến, không thể thay đổi. CỒ là một hằng số. Mọi suy luận, mọi xét đoán đều phải dựa vào âm này. Thế mà cái âm đọc ấy lại không hề được ghi nhận theo các vận thư, từ điển Trung Hoa. Hẳn là có uẩn khúc gì ở đây?
Uẩn khúc ấy chính là chữ “” được dùng để phiên âm một âm tiết của tiếng Phạn, âm phiên này đã được đọc chệch đi so với âm Hán Việt của nó. Đây chính là điểm mà J. de Francis, Nguyễn Khắc Kham và An Chi(57) đã đề cập đến. Chữ “” với âm đọc CÙ đã được dùng để ghi âm “Go” hay “Gau” trong họ của đức Phật Gautama. Sự tương ứng thủy âm C/ G chắc không phải bàn luận nữa. Sự tương ứng giữa nguyên âm (phần vần của chữ) U với O hay AU cũng là hiển nhiên. Vì thế, cái âm CỒ hẳn là một hợp âm được hình thành trong quá trình dịch âm từ tiếng Phạn sang tiếng Hán rồi từ Hán sang tiếng Hán Việt. Âm CỒ hẳn là sản phẩm của Phật giáo đã được Việt hóa. Kiểm tra trong Từ điển Phật học Hán Việt thì thấy chữ “” dùng để ghi 23 từ có ÂM đọc là CỒ (có liên quan đến Phật) như: cồ di, cồ chỉ la, cồ đàm di, cồ đáp ma(58) và không một lần nào được dùng để ghi âm CÙ. Tuy nhiên, các học giả Trương Vĩnh Kí (1875)(59), L’Abbé Adr. Launay (1884)(60), Alfred Schreiner (1906)(61), Colonel E. Diguet (1908)(62), Pierre Rey(1913)(63) đều ghi nhận đọc là “CÙ”. Điều đáng nói ở đây là các học giả này đều là người nước ngoài, cho nên khi gặp phải một chữ Hán đã được Việt hóa khác đi, thì tất cả lại đều cứ theo vận thư từ điển mà phiên thành CÙ. Trương Vĩnh Ký tuy là người bản địa, nhưng lại là một sản phẩm hoàn hảo của Tây học, hoặc giả đó chỉlà một phút lơ đãng của học giả uyên bác này. Trái ngược lại, tất các học giả bản địa [trừ Gustave Dumoutier (1894)(64)] vẫn phiên là CỒ như Phan Kế Bính (1912)(65), Trần Trọng Kim (1919)(66), các học giả trong Hội Khai trí Tiến đức (1931)(67), Đào Duy Anh (1932)(68), Hà Văn Tấn (1960)(69), Tạ Quang Phát (1971), Trần Quốc Vượng (1960(70), 2000(71)), Vũ Văn Kính (2002)(72)… đó hẳn dựa trên sự “truyền thừa ký ức lịch sử” trong cộng đồng người Việt! Cho đến nay, các sách giáo khoa trên toàn quốc vẫn ghi ĐẠI CỒ VIỆT. Cho nên, mới nói cái “ký ức dân gian” đã truyền thừa âm đọc CỒ từ xưa cho đến tận ngày nay, cũng y như chữ(trong Lạc Việt) được đọc là lạc (mà không đọc là hạc theo vận thư). Đào Duy Anh cũng theo “ký ức dân gian” ấy mà đọc là CỒ, trong cuốn từ điển Hán Việt! Đọc chữ Hán theo âm Hán Việt Việt hóa là hiện tượng gặp rất nhiều trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, cũng như các sách vở của những người cổ học mà tri thức được hình thành từ quá trình truyền thừa, theo lối học ông đồ xưa(73). Cho nên, có thể nhận định rằng âm CỒ là âm phổ thông của “” trong 大瞿越. Và CỒ (với âm đọc Việt hóa như vậy) rất có khả năng dùng để chỉ đức Đại Cồ Đàm.
4.3. CỒ – hiện tượng đơn tiết hóa
Tuy nhiên, giả thuyết coi CỒ là CỒ ĐÀM trước nay bị phản bác ở điểm, các từ điển Trung Hoa không ghi nhận “” đứng độc lập là một dạng viết tắt, hay rút gọn của Cồ Đàm. Nhưng có điều, xu hướng “đơn tiết hóa” các danh từ riêng trong tiếng Hán cũng như tiếng Việt (hai ngôn ngữ đơn lập đơn tiết) là một hiện thực ngôn ngữ thường gặp. Ví dụ hiển minh nhất cũng chính là BỤT và PHẬT, đều là hai chữ (phiên âm từ hai giai đoạn lịch sử khác nhau) rút gọn từ BỤT ĐÀ, PHẬT ĐÀ(74). Mà hai chữ này vốn là để ghi một trong mười danh hiệu của Phật, nguyên tiếng Sanskrit là Buddha(75). Một cứ liệu thực địa khác hiện tồn trong đời sống của người Việt, chùa Bổ Đà(một ngôi chùa tổ tương truyền nơi Phật xuất hiện, thuộc huyện Việt Yên, Bắc Giang) vẫn được nhân dân gọi tắt là chùa Bổ. Sư cụ Thích Quảng Luân trụ trì chùa trong suốt thế kỷ XX cũng được gọi tắt là cụ BỔ. Cũng cùng tỉnh Bắc Giang, chùa Đức La (còn gọi là chùa tổ Vĩnh Nghiêm, nơi trữ ván kinh cổ) cũng được mấy cánh xe ôm và các bà chạy chợ gọi tắt là chùa LA.
Đến như hai chữ “Thích Ca” vốn là “tên gọi tắt của Thích Ca Mâu Ni và Thích Ca Văn”(76) cũng được viết tắt một lần nữa thành THÍCH. Chúng tôi xin trích nguyên văn từ điển: “THÍCH: Sàkya. Cách gọi tắt của từ Thích Ca, tên gọi của đức Phật Thế tôn. Đạo Phật hồi mới truyền sang Trung Quốc, các tăng thường được gọi bằng họ thế tục của mình, hoặc lấy họ Trúc hoặc lấy họ của bậc sư phụ,… Đến ngài Đạo An, cao tăng đời Tấn mới bắt đầu nói: Đức Phật có họ Thích Ca, nay các Phật tử nên theo họ của đức Phật, tức họ Thích”(77). Không những thế, sự đơn tiết hóa còn tạo ra một họ khác nữa của người theo đạo Phật, đó là ĐÀM. Phật quang đại từ điển ghi: “Đàm… gọi đủ là Đàm Ma, dịch là Pháp, tức là chỉ cho phép của đức Phật… Tên các vị tăng Trung Quốc phần nhiều đặt chữ “Đàm” ở trước như Đàm Loan, Đàm Diệu, Đàm Ảnh…”(78). Có thể nói, việc đơn tiết hóa danh hiệu Phật là điều hết sức bình thường trong tiếng Hán và tiếng Việt.
4.4. Cứ liệu thành văn của chữ CỒ đơn tiết
Trong Hán văn, việc đơn tiết hóa danh hiệu hay họ Cồ Đàm cũng có cứ liệu văn bản. Bằng chứng là trong tuyển tập từ Lô Sơn quy lai tập (quyển bảy) được sáng tác vào đời Nam Tống (từ niên hiệu Kiến Viêm đến Đức Hựu) của tác giả Trương Nguyên Cán có lời từ như sau: 瞿老拈花, 經離亂,青山盡處,海角又天涯(79)“Cồ lão niêm hoa, kinh li loạn, thanh sơn tận xứ, hải giác hựu thiên nha” nghĩa là “lão Cồ tay nhắc nhành hoa, (ta) trải qua bao li tán loạn lạc, (giờ đang) ở nơi tận cùng núi biếc, góc bể mấy chân trời.” Rõ ràng là tác giả đã sử dụng điển “niêm hoa vi tiếu” trong nhà Phật. Và lão Cồ ở đây chính là Cồ Đàm, điều này An Chi cũng đã gợi ý(80).
Trong tiếng Việt, chứng tích đơn tiết hóa xưa nhất chính là đôi liên phú của vua Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo: Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo; Mến đức Cồ (勉德瞿), kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay (hội 7, câu 99-100). Có thể coi, đây là tư liệu thành văn sớm nhất có xuất hiện chữ CỒ đơn tiết mà chúng ta biết được. Xét về nội dung triết học thì ai cũng thấy rõ chỉ sự đối ứng giữa Nho giáo và Phật giáo, giống như ở các liên phú sau: Đức Bụt từ bi, mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận/ ơn Nghiêu rộng cả, lọt toàn thân phô việc đã xa (hội 5, câu 61-62) hay Sách Dịch xem chơi, yêu tính lặng hơn yêu châu báu/ Kinh Nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim (hội 1, câu 13-14). Thánh (Khổng Tử) đối với Cồ (Phật), đức Bụt đối với ơn Nghiêu, sách Dịch đối với kinh Nhàn. Xét về thanh luật thì âm CÙ (bằng) sẽ là sự lựa chọn duy nhất để đối với THÁNH, chứ không thể dùng các âm trắc như: Bụt, Phật, Thích được. Mặt khác, trong Cư trần lạc đạo chữ “Phật” (đơn tiết) xuất hiện 2 lần tại câu 47, 48; chữ “Bụt”(đơn tiết) xuất hiện 9 lần tại các câu 33, 53, 55, 56, 61, 89, 93, 113, 116; chữ “Thích ca” dùng 1 lần tại câu 51. Nếu dựa trên cách tính định lượng như trên, sẽ thấy Cư trần lạc đạo dùng nhiều danh hiệu để chỉ Phật, trong đó Bụt là nhiều nhất. Từ số liệu trên đây, ta có thể đi đến một kết luận: thời Trần, âm Bụt (âm cổ Hán Việt của Phật) vẫn đang phổ dụng hơn cả. Các âm còn lại được dùng song song để chỉ Phật, nhưng ít hơn. Chữ CỒ trong “mến đức Cồ” dĩ nhiên không mang nghĩa là “to” (như đã nêu ở trên) mà để chỉ họ đức Cồ Đàm hay rộng hơn là chỉ Phật.
Không ngờ CỒ là từ chỉ Phật, Đào Duy Anh chú giải lầm khi coi CỒ là từ cổ với nghĩa là “lớn”(81), từ đó dẫn đến sự đồng thuận của hàng loạt các học giả từ thế kỷ XX đến nay. Một số từ điển chữ Nôm và từ cổ được biên soạn gần đây, vì dùng lại bản phiên của Đào Duy Anh nên đều công nhận CỒ trong “mến đức cồ” là một từ cổ, như Tự điển chữ Nôm (Viện NC Hán Nôm, 2006, tr.199), Từ điển từ cổ của Vương Lộc (2001, Tr.37). Từ điển Tự điển Việt- Hoa- Pháp của G.Hue (1937) xác nhận CỒ là từ để chỉ Phật ở nét nghĩa thứ hai; nhưng ở nét nghĩa thứ nhất lại ghi CỒ VIỆT (nước Việt lớn) là quốc hiệu thời Đinh Tiên Hoàng(82), nay có thể cải chính, nhập vào thành một mục từ. Sở dĩ, từ điển này ghi nhận CỒ VIỆT vì tác giả đã tiếp thu mục từ(83) này từ cuốn từ điển của hội Khai trí Tiến đức(84) trước đó 6 năm, còn từ điển này lại lấy ngữ liệu từ một tác phẩm văn vần nào đó, nhưng lại không thấy trích dẫn nguyên văn. Có thể nhận định CỒ VIỆT ở đây là cách gọi tắt của ĐẠI CỒ VIỆT mà thôi, đây là lỗi của nhà làm từ điển. Duy có từ điển của Trương Đình Tín và Lê Quý Ngưu công nhận CỒ trong câu này là chỉ Đức Phật(85). Những người chua đúng chữ này là Hoàng Xuân Hãn(86) và Lê Mạnh Thát trong Trần Nhân Tông toàn tập(87).
Ngay trong dân gian cũng có câu thành ngữ “Lù khù có ông Cù độ mạng” hay “Lù đù có ông Cù hộ mạng”. Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam của Việt Chương chua rằng: “ông Cù: ông Bụt, hay ông Phật. Người dại khờ dốt nát có khi lại được trời Phật độ trì”(88). Nếu thử một thao tác enter qua google sẽ được 42 trang mạng có câu này, hẳn đây là câu khá phổ dụng. Có thể nói, từ đời Trần đến nay, Cù/ Cồ vẫn được dùng độc lập để chỉ Phật. Tất nhiên, nó được dùng hạn chế hơn rất nhiều so với các từ “Bụt”, “Phật” và “Thích”(89). Nhưng âm Cồ là âm phổ thông trên toàn quốc. Còn âm CÙ chỉ xuất hiện một lần qua câu tục ngữ trên. Song, thế cũng đủ cho thấy, CÙ/ CỒ là dạng đơn tiết hóa của Cù Đàm/ Cồ Đàm mà thôi.
4.5. Các cứ liệu khác
Về địa danh, Trung Quốc hiện có đảo gọi là大瞿岛. Đảo này là điểm du lịch khá đẹp. Tương truyền đây cũng là nơi Phật xuất hiện. Hiện trên đảo, các di tích Phật giáo vẫn còn nguyên vẹn(90). Ngoài ra, nước này còn có một ngọn núi là 大瞿山. Đây được coi là một miền đất phúc. Chuyện kể, khi Quan Thế Âm Bồ Tát đi về Nam để tìm nơi tu hành, Người đã dừng lại ở đây. Nhưng, hắc ngưu quái (vốn ở đây đã lâu) sợ Người chiếm mất đất bèn cho một làn xú khí bốc lên khắp trời. Quan Thế Âm thấy đất tuđã bị làm cho ô uế bèn đánh hắc ngưu lui xuống biển. Từ đó, mặt nam của núi này lưu lại một bức tượng hóa thân của Bồ Tát gọi là Đại Cù Thạch Phật, còn người lại tiếp tục xuống phía nam(91). Có thể thấy về kết cấu của các địa danh này như sau: ĐẠI CÙ + danh từ chỉ địa điểm, cụ thể: Đại Cù + Đảo; Đại Cù + Sơn. ĐẠI CÙ VIỆT là một ngữ danh từ hẳn cũng được xây dựng trên cấu trúc danh từ như vậy. Chữ “đại” chỉ là một từ tán mĩ mà thôi. Đại Cù cũng là dạng viết tắt của Đại Cù Đàm.
Mặt khác nữa, sử sách hay truyền thuyết luôn có xu hướng Phật thoại hóa các nhân vật lịch sử. Hình ảnh bà mẹ Phật giáo có lẽ là hình ảnh nguyên sơ nhất trong giai đoạn này. Bà mẹ Thánh Gióng mang thai sau khi ướm vào vết chân khổng lồ, thực chất là ướm vào Phật Tích. Thánh Gióng biến thành khổng lồ để giết giặc chính là một hình ảnh khác (hóa thân, biến hiện) của Phật mà hệ kinh Agama thường nhắc đến. Mẹ Man Nương hoài thai với Khâu Đà La để sinh ra tứ pháp. Cho nên, bà Phạm thị thực chất vẫn là một bà mẹ Phật giáo và mang họ của Phật, bà giao hợp với thần rồi thụ thai ở trong chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh) để sau đó sinh ra Lý Công Uẩn. Bà Đặng thị (mẹ của Lê Hoàn) mơ thấy bụng nở ra hoa sen rồi hoài thai, nên Lê Hoàn cũng chính là Phật tử (con Phật). Từ đó, có thể phán đoán rằng, bà mẹ của Đinh Bộ Lĩnh – bà Đàm thị cũng là một bà mẹ Phật giáo. Nhà Đinh Bộ Lĩnh chắc hẳn cũng ở một trung tâm Phật giáo thời đó tên là Đàm Gia. Vũng Đàm Gia(92) chính là nơi đôi rồng vàngxuất hiện che cho Đinh Bộ Lĩnh khi lâm nguy. Sự việc này cũng giống như việc xuất hiện con chó sắc trắng, có đốm lông đen hình hai chữ “Thiên tử” làm điềm báo sau này Lý Công Uẩn sẽ lên ngôi Hoàng đế, địa điểm không ở đâu khác lại ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm (châu Cổ Pháp). Có thể nói việc dùng những hình ảnh thần bí của Phật giáo đề thần hóa vương quyền là một đặc điểm của giai đoạn Đinh, Tiền Lê, Lý. Việc bà mẹ Đinh Bộ Lĩnh mang họ Đàm, họ của Phật chứng minh ba điểm: 1. Phật giáo hẳn là tôn giáo quan trọng của tôn thất hoàng tộc(93); 2. Phật giáo luôn có một đời sống bền chắc trong đời sống tinh thần của người phụ nữ Việt từ thời Đinh cho đến nay; 3. Họ Đàm cũng là một dạng đơn tiết hóa danh hiệu Phật (như Thích, Cồ, Bụt, Phật, Phạm).
Thêm nữa, Đinh Liễn dựng 200 kinh tràng trong hai đợt để cầu siêu cho Thái tử Hạng Lang. Đó hẳn là những đại lễ vào thời đó. Người chủ đàn có lẽ chính là sư Khuông Việt. Chữ “khuông” vốn viết tắt từ “khuông cứu”, cũng là một từ của nhà Phật nhưng với tinh thần nhập thế. Cho nên, tên Đinh Liễn được ghi trên các kinh tràng này còn được gia thêm tên đệm là “khuông” để biểu thị sự tôn kính, hay là kí hiệu đánh dấu cho một Phật tử. Nhìn ở khía cạnh loại hình nhân vật lịch sử trong giai đoạn đầu tự chủ, mô hình quan trọng nhất của trí thức là tăng quan. Các vị sư vừa là thày của vua, là người cố vấn, người nắm giữ những vị trí chủ chốt nhất, thực hiện những hành vi chính trị quan trọng nhất (như việc tiếp sứ, cố vấn chính trị). Và hơn hết, tăng quan chính là người nắm giữ đời sống tinh thần và kiến trúc thượng tầng của toàn xã hội.
Đến đây, có thể nhận định rằng chữ “” trong quốc hiệu đầu tiên của nước ta rất có thể đã được đọc bằng âm CỒ với nghĩa là chỉ Phật giáo. Đinh Tiên Hoàng không đặt tên nước là Đại Việt là để tránh trùng tên với một nước Đại Việt khác (trong số rất nhiều quốc gia tranh thủ nổi dậy ở phương Nam khi thiên triều có loạn) vừa mới bị tiêu diệt khi ông còn đang tại thế. Nhà vua vẫn gắng để lại chữ “Việt” để tưởng đến nguồn gốc phương Nam ban đầu của mình, điều này chưa thể phủ nhận được. Nhưng, việc đặt tên nước mang ý nghĩa của Phật giáo hẳn là một điều có thể chấp nhận được với những chứng cứ khảo cổ học(94) hiện còn, thêm vào đó có sự ủng hộ của hệ thống văn bản lịch sử với tự dạng khá nhất quán về ba chữ Đại Cồ Việt. Lĩnh Nam trích quái(95) chép Đinh Tiên Hoàng còn có hiệu là Cồ Thành(96). Có thể coi đây là tư liệu bổ sung làm bàng chứng. Với những chứng lý như đã nêu, tạm có thể nhận định rằng ĐẠI CỒ VIỆT nghĩa là NƯỚC VIỆT – NƯỚC PHẬT GIÁO (của đức ĐẠI CỒ ĐÀM), như Nguyễn Khắc Kham, J. de Francis, và học giả An Chi(97) đã phát biểu. Dẫu sao, đây vẫn chưa phải là kết quả cuối cùng bởi những gì đào được từ lòng đất có thể sẽ đưa ra những thực tế mà chúng ta ít ngờ tới(98). Bởi lịch sử là cái được vẽ nên từ những gì còn sót lại.
Chú thích:
(1) Đại Việt sử ký toàn thư. (bản khắc năm Chính Hòa – 1698). Ngô Đức Thọ (dịch và chú thích) Tập 1, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.270. Điều này có nghĩa là khi dời đô từHoa Lư ra Thăng Long, nước vẫn mang quốc hiệu là Đại Cồ Việt.
(2) Lê Dư: Chữ Nôm với Quốc ngữ. Nam Phong. Số 172, tháng 5/1932, tr.495-498.
(3) Bửu Cầm: Nguồn gốc chữ Nôm. Văn hoá nguyệt san 50/1960, tr.347-355.
Bửu Cầm. (?)Dẫn nhập nghiên cứu chữ Nôm. Tài liệu học tập giành riêng cho chứng chỉ Việt Hán, Văn chương Quốc âm và Ngữ học Việt Nam. Đại học Văn Khoa Sài Gòn. (in roneo), tr.09.
(4) Trần Văn Giáp: Lược khảo về nguồn gốc chữ Nôm, Nghiên cứu lịch sử 127/1969, tr.8.
(5) Hoàng Thúc Trâm: Góp ý với ông bạn Trần Văn Giáp về bài ‘Nguồn gốc chữ Nôm’. Nghiên cứu lịch sử 140/1971, tr.57-62.
(6) Lê Văn Quán: Nghiên cứu về chữ Nôm. Nxb. KHXH, H. 1981.
Lê Văn Quán: Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam. Nxb. Lao động, H. 2007, tr.243.
Chuyển dẫn theo Kỳ Quảng Mưu, chú 2: 黎文貫。1982.《喃字出現時期初探》。王金地譯。《印支研究》1982年第四期。
(7) Trần Quốc Vượng: Nghìn xưa văn hiến, Nxb. Hà Nội, H. 2000, tr.172.
(8) Đào Duy Anh: Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến. Nxb. KHXH, H. 1975, tr.26.
(9) Alexandro De Rhodes. 1651. Dictionarivm Annamiticivm – Lusitanvm – Latinvm.Sacre Congragationis de Propagada fide Cardinales. ROME. (Từ điển Việt – Bồ – La). Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch. Nxb. KHXH, H. 1994, tr.64.
Pierre Pegneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu) 1772 – 1773. 1999 (tb). Dictionarium Anamitico Latinum 1772 – 1773 (Tự vị An nam La tinh), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb. Trẻ, Tp. HCM, tr.92.
L.J. Taberd. Dictionarium Anamitico – Latinum (南越洋合字彙Nam Việt Dương hiệp tự vị), Sesampore. 1838, tr.26
Joseph Monrrone. Lexicon Cochin-sinense Latinnum. Philadenphia. 1838, tr.243.
Huỳnh Tịnh Paulus Của. 1895-1896. “大南國音字彙 Đại Nam quấc âm tự vị, Saigon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4, Nxb. Trẻ. Tp HCM, 1998 (scan theo ấn bản 1895-1896), tr.177.
J.F.M. Génibrel. Dictionnaire Annamite – Français (大越國音漢字法釋集成 Đại Việt quốc âm Hán tự Pháp thích tập thành), Saigon Imprimerie de la mission à Tân Định,1898, tr.78.
Việt Nam tự điển, Hội Khai trí Tiến đức, HANOI Imprimerie Trung – Bac Tan – Van. Mặc Lâm xuất bản, 1931, tr.88.
Từ điển tiếng Việt. Văn Tân (chủ biên), Nxb. KHXH, H. 1967, 1977 (tb lần 2). tr.325.
Từ điển đối chiếu từ địa phương. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb. Giáo dục. H.2001, tr.202.
Bùi Minh Đức: Từ điển tiếng Huế. TT Nghiên cứu Quốc học & Nxb. Văn học, Tp. HCM. 2004, tr.373, tr.995.
Đại từ điển tiếng Việt. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb. Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh. HCM. 2008, tr.587.
Vietlex: Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng, 2008, tr.574.
Từ đây chữ “nhấn mạnh” viết tắt là nhm.
(10) An Chi: Kiến thức ngày nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục Chuyện Đông chuyện Tây, dẫn theo Nguyễn Anh Huy. 2009b. bdd. Có thể thấy rằng, với giả thuyết này, An Chi đã từ bỏ cách giải thích trước đó 7 năm của chính ông, coi cồ chỉ là âm Hán Việt xưa của chữ cự (to lớn). [xin xem Kiến thức Ngày nay số 353, ngày 01-06-2000; chuyển dẫn theo An Chi. Chuyện Đông Chuyện Tây. Nxb. Trẻ. Tp. HCM. tr.205-206].
(11) Nguyễn Thị Trang: Bước đầu tìm hiểu hệ thống chữ Nôm ghi tên hiệu các vị thành hoàng làng. Trong Nghiên cứu chữ Nôm, Kỷ yếu hội nghị Quốc tế chữ Nôm 2004. Nxb. KHXH, H. 2004, tr.238.
(12) Keith Weller Taylor:The Birth of Vietnam. Berkeley. University of California Press. 1984, tr.281.
Keith Weller Taylor: The Twelve Lords in tenth Century Vietnam. Juarnal of Southeast Asian Studies 14, 1 (3/1983) [chuyển dẫn theo Keith Weller Taylor. 2001. Quyền uy và tính chân chính ở Việt Nam thế kỷ thứ XI. Trong Những vấn đề lịch sử Việt Nam. Nguyệt san Xưa & Nay, Nxb. Trẻ,tr.63-104.]
(13) 羅長山。1992 .“古壯字與字喃比較研究。東南亞縱橫年第三期
(14) Nguyễn Quang Hồng. 2009. sdd.
(15) Lê Tắc: An Nam chí lược. Nxb. Thuận Hóa & TT văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H. 2002, tr.87.
(16) Đại Việt sử ký toàn thư. Đinh Tiên Hoàng kỷ.
(17) Khuyết danh. Đại Việt sử lược. (Nguyễn Gia Tường dịch). Nxb. Tp Hồ Chí Minh, 1993, tr.26.
(18) Lê Tắc. sdd. tr.78.
宋史。《中華書局》。卷488. 14058頁。
顧祖禹。《讀史方輿紀要》。中華書局。卷112. 4988 頁。
(19) Khuyết danh. Đại Việt sử lược, 1993, tr.27.
(20) Lê Tắc. 2002. An Nam chí lược. Nxb. Thuận Hóa & TT văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. H. Tr.87.
(21) Nguyễn Anh Huy. 2009b. Luận về quốc hiệu CỒ VIỆT. http://khoahoc.net
(22) Đến đây cũng nên nhắc đến giả thuyết của Hoàng Xuân Hãn, khi ông cũng coi Cồ là một chữ Nôm: “Lần thứ hai trong quốc sử thấy chữ mượn âm là quốc hiệu đời Đinh: Đại Cồ Việt, chữ Cồ chắc là từ Việt, người ta thường hiểu là lớn. Nhưng ý “lớn” đã chứa trong chữ ĐẠI rồi. So sánh với những âm CÁ, CỔ, CỰ, KHẢ, KẺ thì thấy ý nghĩa âm CỒ là XỨ có lẽ hợp lý hơn.Hng Xuân Hãn.1978. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần –Lê: Phái thiền Trúc Lâm Yên T. KHXH (Paris) 5-7 (1978-1980). tb 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần – Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb. Giáo dục, t3, tr.1092, chú 8.
(23) Nguyễn Anh Huy: “Đại Cồ Việt” hay “Cồ Việt”? http://www.tuoitre.com.vn, 2009a; Nguyễn Anh Huy. Luận về quốc hiệu CỒ VIỆT. http://khoahoc.net, 2009b.
(24) Điều này, Hoàng Xuân Hãn, Kỳ Quảng Mưu và An Chi đã nhắc đến.
(25) Nguyễn Anh Huy. 2009a. bdd.
(26) Cụ thể các tiêu chí và sự hình thành chữ Nôm (nhất là sự xuất hiện của các chữ Nôm hình thanh) xin xem Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nxb. Giáo dục, H. 2009.
(27) Lạc khoản: “Tự Đức Giáp Tý. Thị giảng học sĩ Phượng Trì Vũ Phạm Khải Đông Dương bái thư”. Phượng Trì Vũ Phạm Khải (1807-1872), ông tự là Đông Dương , người xã Thiên Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Vũ Phạm Khải thi đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831) đời vua Nguyễn Thánh Tổ. Ông giữ các chức quan, như: Lễ khoa cấp sự trung, Hàn lâm trực Học sĩ, Sử quán Toản tu, Thị lang, rồi thăng Bố chính Thái Nguyên, Thị độc Học sĩ. [Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam. Nxb. KHXH. H. 2006, tr.327] Như thế, Vũ Phạm Khải là người soạn và người viết chữ cho đôi câu đối này.
(28) Lạc khoản: “Bảo Đại Đinh Mão xuân niên. Trường Yên Trung xã lão Nguyễn Đại Đồng giai nam cựu Chánh hương hội Nguyễn Phú Cường cúng tiến.Nghĩa là: mùa xuân năm Đinh Mão niên hiệu Bảo Đại, lão Nguyễn Đại Đồng tại xã Trường Yên Trung cùng con trai Nguyễn Phú Cường vốn là Chánh hương hội cúng tiến.
(30) Phạm Thị Nghĩa Vân: Di văn Hán Nôm tại Hoa Lư. Thông báo Hán Nôm học 2005. Nxb. KHXH, H. 2006, tr.666.
(31) Thiên Nam ngữ lục. Nguyễn Thị Lâm Khảo cứu, phiên âm, chú giải. Nxb. Văn học & Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H. 2001. Bản Nôm gốc天南語錄外紀ký hiệu AB.478 1/2 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
(32) Về sử liệu, có 4 tấm bia tại đền thờ Đinh Tiên Hoàng: 1. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức kí tịnh minh, khắc năm Hoằng Định thứ 9 (1608); 2. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức tăng tu điện miếu bi kí, khắc năm Chính Hòa thứ 17 (1696); 3. Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế miếu công đức bi kí, khắc năm Thiệu Trị thứ 3 (1843); 4. Trùng tu tạo tác, không rõ niên đại. Chúng tôi đã khảo sát, cả 4 bia này đều không có dòng nào ghi lại quốc hiệu Đại Cồ Việt.
(33) Nguyễn Trãi. XV. Dư địa chí. Trong Ức Trai di tập, khắc in 1868. Phúc Khê tàng bản. Trang nguyên bản 4a. Theo Nguyễn Trãi toàn tập tân biên. Tập 2. Phần Dư địa chí (Phan Duy Tiếp dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính chú thích. Nxb. Văn học & TT Nghiên cứu quốc học. H. 2001, tr.456. Bản dịch của Phan Duy Tiếp được in lần đầu năm 1967, do Viện Sử học xuất bản, sau Nxb Khoa học Xã hội tái bản năm 1976. Ngòai ra, Dư địa chí còn được Á Nam Trần Tuấn Khải dịch, in trong Văn hóa tùng thư của Tổng bộ Văn hóa Xã hội – Nxb Sài Gòn. Ấy là chưa kể đến 5 bản Hán văn của sách này hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm lần lượt mang tên Ức Trai di tập – Nam Việt dư địa chí A.2815; Đại Việt dư địa chí A.1900; Nam quốc Vũ cống A.830; An Nam Vũ cống A.2251; Lê triều cống pháp A.53. Thú vị là ở chỗ, đây đều là 5 bản chép tay. Chép tay là loại văn bản độc bản (handmade) của một cá nhân nào đó. 5 bản chép tay sẽ có giá trị khác với 5 bản in từ một ván khắc, đây là mặt mạnh nhất của các thể loại văn bản này mà ít người để ý tới. 5 bản in từ một ván khắc sẽ được đồng nhất bằng 1 bản. nhưng 5 bản chép tay sẽ được coi là 5 bản.
(34) Đại Việt sử ký toàn thư (khắc in năm Chính Hòa thứ 18-1698). Ngô Đức Thọ (dịch và chú thích) Nxb. KHXH, H. 1998. tr.211. Nguyên bản: ĐVSKTT. Q1. Kỷ nhà Đinh. Tiên Hoàng đế, tr.2b.
(35) Nguyễn Thị Lâm (phiên chú). sdd.
(36) Quốc sử quán triều Tây Sơn. 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Dương Thị The (tổ chức dịch chú). Nxb. KHXH, H. 1997. tr.153. Nguyên bản in kèm: ĐVSKTB. Bản kỉ, Q1. Tr.2a-2b.
(37) Quốc sử quán triều Tây Sơn. 1800 (khắc in). 大越史記捷錄總序Đại Việt sử ký tiệp lục tổng tự. Đây là bài Tổng luận được viết bằng hai thứ văn tự: Chữ Hán và chữ Nôm. Phần chữ Hán là nguyên văn; phần chữ Nôm là dịch chú của tác giả, đúng như câu “dịch chú Quốc âm để tiện xem chung” đã ghi ở cuối bài Tổng tự. Bản khắc in do Quốc sử quán của triều Tây Sơn, Tổng tài là Ngô Thì Nhậm. [Xem thêm Hoàng Văn Lâu. Đại Việt sử ký tiệp lục Tổng tựMột bài tổng luận lịch sử đáng chú ý của Quốc sử quán triều Tây Sơn. Tạp chí Hán Nôm số 01/2001]Kí hiệu A.1180, tr.7b.
(38) Phan Thanh Giản (tổng tài). Khâm định Việt sử thông giám cương mục – Chính biên – Quyển thứ I, 1881.
(39) Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái: XIX. Đại Nam quốc sử diễn ca, Hoàng Xuân Hãn (phiên chú), trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (t2), Nxb. Giáo Dục, H. tr.115.
(40) Đặng Xuân Bảng (1828-1910): Việt sử cương mục tiết yếu. Hoàng Văn Lâu (dịch và chú giải), Nxb. KHXH, H. 2000, tr.63. Nguyên bản tr.40.
(41) Nguyễn Văn Mại (1853-1945). XIX. Việt Nam phong sử越南封史. (chép tay). Tạ Quang Phát dịch. Nxb. Lao động, H. tr.68.Kí hiệu AB.320.
(42) Hồng Nhung và Hồng Thiết. 1926. Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca. (Nguyễn Văn Sâm & Nguyễn Hữu Vinh phiên chú). www.trangnhahoaihuong.com
(43) Hoàng Cao Khải. 1914 (khắc in). Việt sử yếu越史要. tr.44a; Hồng Liên Lê Xuân Giáo dịch. UB Dịch thuật. Sài Gòn 1971, tr.135.
(44) Theo Nguyễn Anh Huy, bdd. www.khoahoc.net 2009a.
(45) Hà Văn Tấn: Chữ trên đá, chữ trên đồng, minh văn và lịch sử, Nxb. KHXH, H. 2002, 212 tr.
(46) Kỳ Quảng Mưu祁廣謀。《大越》國名釋兼及吳真流《王郎歸》的語義分析。《東南亞縱橫》。2000.
(47) Kỳ Quảng Mưu. 2000, bdd. tr.37.
(48) Nguyễn Khắc Kham. Chữ Nôm or the Former Vietnamese Script and Its Past Contributions to Vietnamese Literature, Area and Culture Studies 24, Tokyo University of Foreign Studies 1974. Ông viết: “Đến khi chữ Nôm được đặc biệt quan tâm [nghiên cứu], thì cách dùng quan phương của hai chữ Nôm Bố và Cái ở thế kỉ VIII cũng như chữ Cồ ở thế kỉ X là những dấu hiệu chắc chắn chứng tỏ một số chữ Nôm đã được người Việt đề xuất muộn nhất là từ thế kỉ VIII đến thế kỉ X. Ngoài những chữ Nôm như Bố, Cái, Cồ, những chữ khác có thể đã được tạo ra trong cùng khoảng thời gian ấy bằng cách sử dụng mặt âm hoặc mặt nghĩa của chữ Hán.” [Nguyễn Tuấn Cường dịch. Tạp chí Hán Nôm số 2, 2006. GS. NKK còn 2 bài viết nữa là: “Ðại – Cồ Việt Revisited”, Vietnam Culture, Journal for the Advancement of the Arts and Humanities of Vietnam. New York, Vol.4, Number 4, Winter 1985, pp. 162-170; Đại Cồ – Việt Revisited (A revised Version )”, The Journal Insitute of Asian Studies, No. 10. March 1989, Sōka University, Tokyo, pp.17-47, Reprinted in Đại – Học. A Journal of Vietnamese Studies and Highter Learning, Mission Viejo, California, July 1991, pp. 125-153. Nhưng hiện nay chúng tôi chưa tìm được bài viết này của ông.
(49) Nguyễn Khắc Kham: Word Corruption in Vietnamese under Chinese and French Rule. Lecture at the Center for Vietnamese Studies, Southern Illinois University, Carbondale, Illinois. 1978 September 25. [Dẫn theo Nguyễn Đình Hòa. 1990. Graphemic Borrowings from Chinese: the Case of Chữ Nôm – Vietnamese’s Demotic Script. The Bulletin of the Institute of History and Philology. Academia Sinica. Vol. LXI, Part II. Taipei, Taiwan,China. pg. 392].
(50) Nguyễn Khắc Kham: Personal Communication. 1978. [Dẫn theo Nguyễn Đình Hòa. 1990, bdd, tr.392].
(51) Theo Diễn đàn Viện Việt học,www.viethoc.org/forum. Hiện chúng tôi chưa tìm được chuyên luận này. Nhưng có lẽ đó là cuốn De Francis, John. 1977. Colloialism and Language Policy in Vietnam. The Hague: Mouton. Hawail, 293 tr.
(52) Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận. Nxb. Văn Học. H. 1979.
(53) Chu Minh Khôi: Thạch kinh cổ nhất Việt Nam. http://vietbao.vn/Van-hoa/Thach-kinh-co-nhat-Viet-Nam/65052168/181/. 2008. Đáng tiếc bài viết không hiểu thuật ngữ “kinh tràng” của Phật giáo, nên viết theo Đặng Công Nga là “Những cột kinh Phật thời Đinh – Lê ở Ninh Bình là những thạch kinh cổ nhất Việt Nam . Chúng có giá trị vô cùng to lớn đối với nghiên cứu lịch sử nước nhà, giúp làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử quan trọng nửa cuối thế kỷ thứ X“. Cái sai này bắt nguồn từ việc Hà Văn Tấn dùng không thống nhất thuật ngữ, cùng 1 bài mà ông dùng cột kinh, cột đá, trụ đá, kinh tràng…, trong đó từ “cột kinh” được dùng chính thức trên nhan đề các bài nghiên cứu. Ông Đặng Công Nga không đọc kĩ bài của Hà Văn Tấn nên lại “thuật ngữ hóa” sang tiếng Hán thành “thạch kinh”. Hiện vật này thực tế không phải là “kinh” (sách) mà là TRÀNG (một loại pháp khí trì chú của Mật tông) trên có chép mấy lời kinh để tụng mà thôi. Cụ thể chúng tôi xin đề cập đến trong một dịp khác.
(54)中文大辭典(Q.25/42). Trung văn đại từ điển. Lâm Doãn林尹& Cao Minh高明 (chủ biên), Trung Quốc văn hóa nghiên cứu sở ấn hành 中國文化研究所印行& Hoa Cương văn hóa thư cục 華岡文化書. tr.10014-10015. Cũng xem thêm徐中舒主编:汉语大字典1986-1990年第一版tr.2520. Vương Lực(chủ biên). Cổ Hán ngữ tự điển, Trung Hoa thư cục, 2000, tr.798-799.
(55) “Lê Văn Siêu vào năm 1964 đã từng có một cách hiểu khác về quốc hiệu nhà Đinh nhưng ở phần chú giải, tác giả tỏ ra thiếu chính xác: Khang Hy tự điển không có chú âm nào là Cồ hay Cộ mà chỉ có CÙ, CỤ, CÂU, về nghĩa thì ” Trừng thị ” là trợn mắt trông thẳng chứ không phải là một chỗ trông thẳng” [Lê Văn Siêu: Việt Nam văn minh sử cương – Văn minh Đại Việt. Nxb. Thanh Niên. 1960, Tb 2004.]
(56) Lê Văn Siêu. sdd. Nxb. Thanh Niên. 2004 tb. tr.55. Ủng hộ thuyết này còn có Phạm Văn Bân trong bài Bất Túc Trưng Tập của Minh Di [theo www.viethoc.org/forum].
(57) “Trong kinh Phật, khi thấy mấy chữ Cồ lão (ông Già Cồ) hoặc Cồ thị (họ Cồ) thì ta phải hiểu rằng đó là Đức Phật Thích Ca. Phải, CỒ LÀ HỌ CỦA ĐỨC THÍCH CA, mà hình thức đầy đủ là Cồ Đàm… CỒ VIỆT CHẲNG QUA LÀ NƯỚC VIỆT THEO ĐẠO PHẬT… chứ chẳng phải là “nước Việt to bự”… gì cả” [An Chi. 2007. Kiến thức ngày nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục Chuyện Đông chuyện Tây, dẫn theo Nguyễn Anh Huy. 2009b. bdd.]
(58) Từ điển Phật học Hán Việt. Kim Cương Tử (chủ biên). Phân viện Nghiên cứu Phật học xuất bản. H. 1992.
(59) Trương Vĩnh Ký: Cours d’ histoire annamite à l’ usage des écoles de la Basse – Cochinchine. Saigon 1875
Trương Vĩnh Ký: Histoire Annamite. Saigon. 1876, Tr.67.
(60) L’Abbé Adr. Launay. Histoire ancienne et moderne de l’Annam, Tong – king et Cochinchine. Paris 1884.
(61) Alfred Schreiner: Abrégé de l’histoire d’Annam, Saigon 1906, tr.36.
(62) Colonel E Diguet: Annam et Indo-Chine Francaise. Paris. 1908, tr.12.
(63) Nhân đây xin gửi lời cảm ơn đến bác Đinh Tuấn và Nguyễn Vinh Quang đã chia sẻ tư liệu của Trương Vĩnh Ký, L’Abbé Adr. Launay. Tiếc rằng quý vị không chua trang nguồn.
Pierre Rey. Bụt sử lược biên thiệt truyện- Thuật sự tích và lời huyền diệu của Bụt Gaudam( Cù Đàm Bụt). G. Ch Tran Chanh phụng dịch. Sai Gon. 1913. Tải bản pdf tại: http://www.trangnhahoaihuong.com,.
(64) Gustave Dumoutier. “Etude historique et archéologique sur Hoa Lư. Première capitale de l’ Annam indépendante“. Paris 1894, tr.18.
(65) Phan Kế Bính. Nam hải dị nhân .(?) 1912. Hiện chúng tôi chưa có cuốn này.
(66) Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược. Bộ Giáo dục – Trung tâm Học liệu xuất bản. 1919, tr.5.
(67) Hội Khai trí Tiến đức. Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung – Bac Tan – Van. Mặc Lâm xuất bản. 1931. tr.88.Hội gồm gồm các ông Phạm Quỳnh (chủ bút), Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Thận và Nguyễn Khắc Kham.
(68) Vệ Thạch Đào Duy Anh. Từ điển Hán Việt. (Hãn Mạn Tử – Giao Tiều hiệu đính) TIENG DAN. HUE. (tb 2001) Nxb. KHXH, H. 1932, tr.110.
(69) Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng. Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Nxb. Giáo dục, H. 1960.
(70) Khuyết danh. XIII. Việt sử lược. Trần Quốc Vượng dịch. Nxb. Văn Sử Ðịa. H. 1960.
(71) Trần Quốc Vượng: sđd. 2000,
(72) Vũ Văn Kính: Đại tự điển chữ Nôm. Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh & TT Nghiên cứu Quốc học, 2002, tr.182.
(73) “Hàng nghìn năm các ông đồ vẫn dạy truyền miệng theo kí ức dân gian. Chữ có nhiều âm, khác nghĩa thì dùng dấu phết vai, để nhắc đọc đúng âm, hiểu đúng nghĩa, thạo rồi thì không cần. Khi có chữ quốc ngữ, những nhà làm từ điển Hán Việt cũng dựa vào cái vốn kí ức dân gian này mà soạn từ điển là chính. Vậy không nên coi các từ điển Hán Việt hiện có là khuôn mẫu tuyệt đối. Tôi học Hán cổ được các cụ vốn là những người đã học chữ Hán theo lối cũ truyền dạy, trong đó vài cụ đã lều chõng, có cụ đỗ tú tài khoa cuối. Vậy cái vốn Hán cổ của tôi chủ yếu là kí ức dân gian. Khi vào đời mới dùng đến các từ điển Hán Việt (Cũng chỉ khi nào cần phiên âm Hán Việt chữ mà mình chưa biết, còn nghĩa tra các từ điển Hán cổ của Trung Quốc đủ hơn). Cái kí ức dân gian này hiểu rõ hơn là nó phản ánh sự hình thành cách đọc Hán Việt xa xưa, sau đó nó biến đổi theo quy luật của ngữ âm tiếng Việt và được dạy truyền miệng. Nói vậy để nói rằng cách đọc Hán Việt bằng hay cồ, hay cả hai đều được cần có sự chứng minh chứ không thể đơn giản dựa vào các từ điển Hán Việt hay phiên thiết của người Trung Quốc cổ mà suy luận”. [Theo lời của kt www.viethoc.org/forum ].
(74) Huệ Thiên: Tìm hiểu về hai từ “Bụt” và “Phật”. Trong Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm. Nxb. Trẻ. 2004, tr.195-200.
(75) Ngoài ra Buddha còn được phiên âm sang tiếng Hán bằng rất nhiều cách như: Phật Đà佛陀, Phù Đồ浮圖, Phật Đồ佛圖, Phù Đà浮陀, Phù Đầu浮頭, Bột Đà浡陀, Bộ Đa部多, Bộ Tha部他, Phục Đậu復豆, Bộ Đà部陀, Vật Tha物他, Bổ Đà補陀
(76) Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ điển Phật học Hán Việt, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.1256.
(77) Giáo hội Phật giáo Việt Nam.. sđd, 1998, tr.1256.
(78) Phật quang đại từ điển (T2). Thích Quảng Độ dịch. Hội Văn hóa Giáo dục. Kinh Sơn, Đài Bắc xuất bản, 2008, tr.1584.
(79) Văn Uyên Các. Tứ Khố toàn thư. Thượng Hải Nhân dân Xuất bản xã.
(80) An Chi. Kiến thức ngày nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục Chuyện Đông chuyện Tây, dẫn theo Nguyễn Anh Huy. 2009b. bdd.
(81) Đào Duy Anh: Chữ Nôm Nguồn gốcCấu TạoDiễn biến, Nxb. KHXH, H. 1975, tr.171; tr.192.
(82) G.Hue. Tự điển Việt – Hoa – Pháp (Dictionnaire Vietnamien – Chinois – Français), Librarie Khai Trí, 62 Lê Lợi, Saigon 1971 (in scan theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa, 1937), tr.101.
(83) G.Hue. 1937, sdd, tr.4.
(84) Hội Khai Trí Tiến Đức: Việt Nam tự điển. Mặc Lâm xuất bản xã, H. 1931, tr.88.
(85) Trương Đình Tín & Lê Quý Ngưu. Đại tự điển chữ Nôm, T1), Nxb. Thuận Hóa. (Nhưng các tác giả lại coi CỒ trong ĐẠI CỒ VIỆT là “to” [tr.251]. Nhân đây cũng nên cải chính lại, mà nhập vào làm một mục từ. 2007.
(86) Hoàng Xuân Hãn: Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần – Lê: Phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. KHXH (Paris) 5-7 (1978-1980). tb 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần – Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. T3. Nxb. Giáo dục, tr.1121.
(87) Lê Mạnh Thát: Trần Nhân Tông toàn tập, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh. 2000.
(88) Việt Chương. Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam. Nxb. Đồng Nai. [Chuyển dẫn theo Nguyễn Xuân Kính (chủ biên). 2002. Kho tàng tục ngữ ca dao người Việt. (T1). Nxb. Văn hóa – Thông tin, H. 1995, tr.1644].
(89) Lịch sử chuyển dịch kinh sách Phật giáo cho phép nói, cho đến thời Đinh, Lê, cái tên Thích – ca không hòan toàn mang tính… “thống trị” như về sau. Kinh hệ Agama lúc đó vẫn chưa bị xem như “chỉ có giá trị tham khảo” so với kinh Đại thừa, và trong kinh hệ Agama này chỉ có mỗi cái tên Gotama (Cồ-đàm) là cái tên thông dụng của Phật. Trong kinh hệ này cũng có nói đến những chuyện như mang tên Gotama đặt cho những con đường, cây cầu mà Phật có đi qua. Thế thì không có gì lạ nếu có kẻ đặt quốc hiệu Cù / Cồ cho một nước Việt đón nhận giáo pháp của Gotama Phật Lịch sử. [theo http://www.viethoc.org/forum]. Xem thêm www.mattong.wordpress.com. Những nguồn này chỉ như là tư liệu gợi ý, chứ không phải để trích dẫn làm bằng cứ chính xác.
(92) Nay ở Điền Xá, Gia Viễn, Ninh Bình.
(93) Xin xem thêm Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, t.2, Nxb. Tp. HCM. 2002, tr.412.
Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1988.
(94) Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Nxb. KHXH, H. 1990, 222 tr.
(95)Vũ Quỳnh. 1492.嶺南摘怪Lĩnh nam trích quái . TruyệnĐinh Bộ Lĩnh. Kí hiệu là A.1752. Xem bản dịch tại
http://lichsuvietnam.info/index.php?option=com_content&task=view&id=138&Itemid=22 .
(96) Theo www.viethoc.org/forum. Nhân đây cũng xin cảm ơn các quý vị trong diễn đàn đã có những gợi ý và chỉ dẫn tư liệu cho bạn đọc, những ý kiến của từng quý vị chúng tôi tạm không nêu cụ thể vì quá nhiều, mong quý vị thông cảm.
(97) An Chi. Kiến Thức Ngày Nay số 599 ra ngày 1/4/2007, mục Chuyện Đông chuyện Tây, dẫn theo Nguyễn Anh Huy. 2009b. bdd.
(98) Hà Văn Tấn (chủ biên). Khảo cổ học, t3. Khảo cổ học lịch sử Việt Nam. Nxb. KHXH, H. 2002, tr.54, tr.57. Các tác giả phát hiện 4 viên gạch có chữ “Đại việt quốc quân thành chuyên” đào được ở Hoa Lư. Các tác giả dựa vào vật liệu và phương pháp xây dựng đoán định gạch này thuộc về thời Đinh, Lê. TS. Nguyễn Thị Hậu (mail riêng với chúng tôi), dựa trên các cứ liệu này, đưa ra giả thuyết rằng, ĐẠI CỒ VIỆT thực chất chỉ là quốc hiệu ĐẠI VIỆT (vốn bị ngoa truyền) đã được chính thức hóa qua các bộ sử đời sau. Tuy nhiên, việc xác định niên đại các viên gạch này cần phải bàn lại. Liệu đó có phải là gạch của đời Lý qua một đợt xây lại nào đó mà sử sách không nhắc đến?
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2(93) 2009; Tr. 53 – 75)

Bột săm bét là gì?

Săm bét / săm pết là một chất bảo quản thực phẩm, có công thức hóa học là KNO3 . Hàng thịt ngoài chợ hiện nay hay dùng bột săm bét pha vào nước để mông má lại các miếng thịt ôi thiu, đánh lừa cảm quan của người mua.
Săm bét / săm pết là biến dạng của xan pết, trước đây vào tiếng Việt qua đường tiếng Pháp (salpêtre) (Lê Ngọc Trụ, 1993:821). Từ salpêtre này trước nữa đã được dịch là tiêu thạch (chữ Hán: ) (Đào Duy Anh, 1950:1592).

TÌNH HÌNH CẤU TRÚC CHỮ NÔM QUA KHÓA HƯ LỤC GIẢI NGHĨA VÀ KHÓA HƯ LỤC GIẢI ÂM

Trần Trọng Dương Tình hình cấu trúc chữ Nôm qua Khóa hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải âm (Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (87)2008; Tr.43-57)
Cập nhật lúc 22h21, ngày 25/01/2010

TÌNH HÌNH CẤU TRÚC CHỮ NÔM QUA KHÓA HƯ LỤC GIẢI NGHĨA KHÓA HƯ LỤC GIẢI ÂM

ThS. TRẦN TRỌNG DƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1. Tình hình phân loại cấu trúc chữ Nôm

Các nhà nghiên cứu từ trước đến nay khi nghiên cứu về cấu trúc chữ Nôm đều luôn cố gắng đưa ra một mô hình phân loại cho đối tượng nghiên cứu khá phức tạp này. Đến nay, chúng ta có thể thấy năm cách phân loại sau: 1. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo lục thư: Ngô Thì Nhậm, Vương Lực, Nguyễn Quang Xỹ, Vũ Văn Kính, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn. 2. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo nguồn gốc tiếng Việt trong mối tương quan với âm Hán Việt: Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đình Hòa, Bửu Cầm. 3. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo sự đối lập hình thể của những chữ vay mượn và những chữ sáng tạo: Nguyễn Tài Cẩn và N.V. Xtankêvich, Lê Văn Quán, Lê Anh Tuấn. 4. Phân loại cấu trúc chữ Nôm theo hướng âm đọc: Nguyễn Ngọc San chia chữ Nôm làm hai loại: dựa âm và không dựa âm; Hoàng Thị Ngọ chia chữ Nôm làm hai loại: loại ghi một tiếng bằng hai mã chữ và loại ghi một tiếng bằng một mã chữ. 5. Phân loại chữ Nôm theo hướng tổng hợp: Nguyễn Khuê – Nguyễn Nam, Trần Xuân Ngọc Lan.
Có thể thấy, hai cách phân loại đầu là nhìn cấu trúc chữ Nôm trong tương quan với cách cấu tạo của chữ Hán. Cách phân loại thứ hai đã chú ý đến vị trí của âm Hán Việt khi tham gia vào cấu trúc của chữ Nôm. Cách phân loại thứ ba của Nguyễn Tài Cẩn có cái nhìn rạch ròi hơn về tự dạng, xét về tự dạng để phân định mã chữ nào là của chữ Hán, mã chữ nào là sáng tạo của riêng Việt Nam. Cách phân loại thứ tư có ưu thế riêng, phản ánh được các nguyên tắc, cơ chế hình thành chữ Nôm, được đánh giá là hữu lý và mới, bởi lẽ âm là thành tố chủ yếu trong phương thức cấu tạo chữ Nôm, gồm 14 kiểu chữ Nôm. Cách phân loại thứ năm là cách phân loại có cố gắng đưa ra một mô hình rộng nhất cho mọi trường hợp của chữ Nôm theo lịch đại. Các tiêu chí hình, âm, nghĩa – dụng học được tiến hành hết sức chặt chẽ. Mô hình của Nguyễn Khuê với 24 tiểu loại chữ Nôm là mô hình hợp lý hơn cả với thực tế sáng tạo cấu trúc chữ Nôm trong suốt lịch sử tồn tại của loại chữ này. Tuy nhiên, đơn vị trong một số tiểu loại xuất hiện rất ít và khó có thể áp không nhiều, nếu không muốn nói là dụng xuất hiện rất ít và khó có thể áp dụng đối với việc phân loại chữ Nôm trong một văn bản cụ thể.

2. Cơ sở phân loại cấu trúc chữ Nôm

Đối tượng của bài viết là tình hình cấu trúc chữ Nôm qua hai bản Khóa hư lục giải nghĩa AB.268 của Tuệ Tĩnh và Khóa hư lục giải âm AB.367 của Phúc Điền Hòa thượng. Bài viết này nhằm mục đích xác lập sự khác biệt về cấu trúc chữ Nôm trong cái nhìn lịch sử qua hai bản trên.

2.1. Mô hình phân loại

Mô hình phân loại chúng tôi thấy hợp lý với đối tượng khảo sát hơn cả là mô hình phân loại theo âm đọc. Nếu sử dụng mô hình phân loại chữ Nôm theo tiêu chí hình thức thì không đủ để lý giải mọi trường hợp một cách thoả đáng, ví dụ như: chữ LƯ đọc âm Nôm là LỪA (nghĩa là con lừa), nhưng trong văn cảnh đó nghĩa là “lừa đảo”. Mô hình tổng hợp của Nguyễn Khuê thì quá lớn, nhiều tiểu loại chắc chắn sẽ không có đơn vị thống kê. Chúng tôi chọn mô hình phân loại chữ Nôm theo âm đọc là cách lựa chọn hợp lý hơn cả với đối tượng khảo sát tương ứng.
Chữ Nôm là loại văn tự ghi âm. Âm dựa (mượn) bao gồm ba loại: âm Hán Việt, âm Phi Hán Việt (âm Tiền Hán Việt và âm Hậu Hán Việt) và âm Nôm. Theo phương thức ghi âm, chúng tôi thực hiện bước lưỡng phân thứ nhất, chia chữ Nôm làm 2 loại: I. Chữ Nôm cấu tạo theo phương thức dựa âm và II. Chữ Nôm cấu tạo theo phương thức không dựa âm. Loại chữ Nôm không dựa âm chỉ có 2 tiểu loại: Tiểu loại H là tiểu loại ghép nghĩa (hội ý), hình chữ cấu tạo trên cơ sở chất liệu văn tự Hán; Tiểu loại N là tiểu loại đọc theo nghĩa của từ Hán, mượn nguyên văn tự Hán. Theo cách dựa âm (dựa âm hoàn toàn và dựa âm không hoàn toàn), chúng tôi thực hiện bước lưỡng phân thứ hai, chia làm 2 loại: 1. Loại chữ Nôm không chỉnh âm và 2. Loại chữ Nôm chỉnh âm.
Đặc điểm của loại chữ Nôm không chỉnh âm là mượn hoàn toàn cả văn tự Hán. Theo tiêu chí âm dựa, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân thứ 3, chia loại này làm 2: 1. Loại chữ Nôm đọc theo âm Hán Việt và 2. Loại chữ Nôm đọc theo âm phi Hán Việt (tức loại A2, theo cách quy ước truyền thống, chúng tôi để nguyên kí hiệu quy ước này cho tiện theo dõi, so sánh với các kết quả thống kê trước đây), lấy nghĩa và mượn văn tự Hán. Theo tiêu chí nghĩa của chữ Hán, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân thứ 4, chia làm 2 loại: 1. Loại chữ Nôm lấy nghĩa (Loại A1) và 2. Loại chữ Nôm bỏ nghĩa (Loại B). Đặc điểm chung của loại chữ Nôm chỉnh âm là dùng âm dựa để ghi một âm Nôm có vỏ ngữ âm gần giống. Theo phương thức định hướng âm dựa, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân tiếp theo, chia chữ Nôm làm 2 loại: 1. Loại chữ Nôm không có định hướng và 2. Loại chữ Nôm có kí hiệu định hướng.
Loại chữ Nôm không có định hướng có đặc điểm chung là không dùng kí hiệu để báo đọc chệch âm. Theo âm dựa, chúng tôi thực hiện bước lưỡng phân thứ 4, chia chữ Nôm làm 2 loại: 1. Loại chữ Nôm không định hướng cho âm dựa-Hán Việt (Loại C1) 2. Loại chữ Nôm không định hướng cho âm dựa – Nôm (Loại C2). Loại chữ Nôm có định hướng có đặc điểm chung là: ngoài thành phần ghi âm còn có thành phần để báo hiệu về nghĩa và âm đọc. Theo tiêu chí này, chúng tôi tiến hành bước lưỡng phân thứ 4, chia loại chữ Nôm có định hướng làm 2 loại: 1. Loại chữ Nôm có định hướng về âm đọc và 2. Loại chữ Nôm có định hướng về nghĩa/ âm. Loại chữ Nôm có định hướng về âm đọc tiếp tục được lưỡng phân thành 2 loại: 1. Loại chữ Nôm dùng kí hiệu (bộ khẩu, cá nháy, hai phẩy biên) để báo hiệu đọc chệch âm (Loại D) và 2. Loại chữ Nôm có kí hiệu ghi tổ hợp phụ âm đầu. Loại chữ Nôm có kí hiệu ghi tổ hợp phụ âm đầu được tiến hành lưỡng phân: 1. Loại chữ Nôm dùng 2 mã chữ tương đương với 2 khối vuông tách rời để ghi tổ hợp phụ âm đầu (Loại E1) và 2. Loại chữ Nôm có 2 mã chữ nén trong một khối vuông dùng để ghi tổ hợp phụ âm đầu tiếng Việt cổ (Loại E2). Chúng tôi tiếp tục tiến hành bước lưỡng phân tiếp theo, chia loại chữ Nôm có định hướng về nghĩa làm hai: 1. Loại chữ Nôm có định hướng về trường nghĩa bằng bộ thủ và 2. Loại chữ Nôm có định hướng xác chỉ nghĩa bằng một chữ Hán (Loại G). Chúng tôi tiến hành lưỡng phân tiếp theo, chia loại chữ Nôm có định hướng về trường nghĩa bằng bộ thủ làm hai: 1. Loại chữ Nôm định hướng về âm Hán Việt (Loại F1) và 2. Loại chữ Nôm định hướng âm Nôm (Loại F2). Trên thực tế, loại A1 có thể tiến hành lưỡng phân một bậc nữa theo tiêu chí văn tự: 1. Loại chữ dùng văn tự chính xác (A1.1) và 2. Loại chữ dùng văn tự không chính xác (Loại A1.2). Loại A1.2 là loại dùng văn tự của một từ Hán đồng âm để ghi một từ Hán đồng âm khác nghĩa. Loại chữ này GS. Nguyễn Tài Cẩn đã từng nhắc đến. Nguyễn Tuấn Cường cũng đã khảo sát một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, bài viết tạm thời chưa đưa tiểu loại này vào mô hình phân loại vì tư liệu hiện còn chưa thật đủ.
Mô hình phân loại chữ Nôm
DỰA ÂM
KHÔNG
DỰA
ÂM
Không chỉnh âm
Chỉnh âm
Không định hướng
Có định hướng bằng kí hiệu gia cố
Kí hiệu
phụ
Kí hiệu chỉnh âm đầu
Bộ thủ
Chữ Hán
Âm Hán Việt
Âm phi Hán Việt
Âm Hán Việt
Âm Nôm
Âm Hán Việt
Âm Hán Việt
Âm Hán Việt
Âm Hán Việt
Âm Nôm
Âm Hán Việt
Lấy nghĩa
Bỏ nghĩa
Lấy
nghĩa
Bỏ nghĩa
Lấy trường nghĩa
Lấynghĩa
Ghép nghĩa
Lấy nghĩa
Tài
Một
Mùa
Biết
Dứt
Mựa
Bà cắt
Blăng
Ve
Hít
Chín
Trời
Vuốt
Mượn hình chữ
Tự tạo hình chữ
Mượn
A1
B
A2
C1
C2
D
E1
E2
F1
F2
G
H
N

2.2. Đơn vị và tiêu chí xác định đơn vị thống kê

Một đơn vị thống kê bao giờ cũng được xác định bằng nhiều tiêu chí khác nhau. Trong bài viết, đơn vị thống kê được xác định lần lượt theo từng tiêu chí như sau: 1. Tiêu chí hình thức: Mỗi một đơn vị thống kê là một khối vuông Nôm (Trừ những trường hợp đặc biệt như bà cắt, la đá; bởi xét về cấu trúc âm tiết chúng thuộc loại C(v)(c)CV(C), chúng tôi coi các từ la, là các từ dùng để ghi tiền âm tiết, được coi là các âm tiết mờ; đá, ngựa là các âm tiết tỏ). 2. Tiêu chí âm đọc: Các chữ có âm đọc khác nhau thì sẽ có vị trí tương đương nhau: cùng là một đơn vị thống kê. 3. Tiêu chí cấu trúc: các chữ có cấu trúc phân loại khác nhau sẽ là các đơn vị độc lập với nhau. 4. Tiêu chí tự dạng (hình chữ): Các chữ Nôm cùng cấu trúc, cùng âm đọc, nhưng nếu có hình thức, tự dạng khác nhau sẽ được tách thành các đơn vị tương đương nhau.


3. Kếtquả phân loại cấu trúc chữ Nôm theo tiêu chí âm đọc

3.1. Bảng kết quả phân loại chữ Nôm

Loại chữ
Bản
Đơn vị
Phần trăm
Số lượt
Phần trăm
A1
Tuệ Tĩnh
608
28,07%
2.896
23,65%
Phúc Điền
524
33,06%
2.929
31,17%
A2
Tuệ Tĩnh
148
6,83%
975
7,96%
Phúc Điền
110
6,94%
623
6,63%
B
Tuệ Tĩnh
160
7,37%
1.130
9,23%
Phúc Điền
122
7,69%
814
8,66%
C
Tuệ Tĩnh
665
30,70%
4.281
34,96%
Phúc Điền
123
7,76%
1.038
11,05%
D
Tuệ Tĩnh
134
6,19%
364
2,97%
Phúc Điền
79
4,98%
305
3,25%
E
Tuệ Tĩnh
11
0,51%
29
0,24%
Phúc Điền
3
0,89%
10
0,11%
F
Tuệ Tĩnh
330
15,24%
1.310
10,70%
Phúc Điền
376
23,72%
1.434
15,26%
G
Tuệ Tĩnh
99
4,57%
1.148
9,38%
Phúc Điền
98
6,12%
1.082
11,52%
H
Tuệ Tĩnh
2
0,09%
55
0,44%
Phúc Điền
2
0,13%
55
0,58%
I
TuệTĩnh
1
0,04%
17
0,14%
Phúc Điền
4
0,25%
41
0,44%
N
Tuệ Tĩnh
8
0,35%
22
0,17%
Phúc Điền
2
0,13%
3
0,03%
Tổng
Tuệ Tĩnh
2.166
100%
12.244
100%
Phúc Điền
1.585
100%
9.396
100%


3.2. Nhận xét chung về chữ Nôm qua hai bản Khóa hư lục giải nghĩa và Khóa hư lục giải âm

Loại A1: Đây là loại chữ mượn hình thể (văn tự), âm đọc và nghĩa. Việc nghiên cứu tỉ lệ loại chữ này trong các văn bản Nôm là một việc có ý nghĩa. Bởi qua đó, ta sẽ có một hình dung về sự hoạt động của từ Hán Việt ở tiếng Việt trong suốt lịch sử, qua đó ta cũng có thể nhận thức rõ ràng hơn về cơ chế gia nhập của loại từ này vào vốn từ vựng tiếng Việt trong môi trường song ngữ. Số liệu thống kê cho thấy: bản AB.268 có 608 đơn vị loại A1, bản AB.367 có 524 đơn vị, Tuệ Tĩnh dùng nhiều đơn vị từ Hán Việt hơn Phúc Điền; nhưng số lần sử dụng các từ Hán Việt của Phúc Điền lại cao hơn Tuệ Tĩnh (2929 đơn vị so với 2896 đơn vị). So với độ dài văn bản, loại A1 của bản AB.268 thấp hơn nhiều so với bản AB.367. Loại A1 trong bản giải nghĩa chỉ chiếm 23, 65% độ dài văn bản, trong khi loại A1 trong bản giải âm chiếm đến 31,17%. Số liệu này góp phần làm sáng tỏ về sự khác biệt giữa phong cách giải âm và phong cách giải nghĩa.
Loại A2: Đây là loại mượn văn tự, mượn nghĩa, và mượn âm đọc (gồm âm đọc Tiền Hán Việt và âm đọc Hậu Hán Việt, gọi tắt là âm Phi Hán Việt). Số liệu thống kê cho thấy: Tuệ Tĩnh dùng 148 âm Phi Hán Việt với số lần sử dụng là 975, Phúc Điền dùng 110 âm Phi Hán Việt với số lần sử dụng là 623; so với độ dài toàn văn bản, loại A2 trong bản giải nghĩa chiếm 7,96%, loại A2 trong bản giải âm chiếm 6,63%.
Loại B: Đây là loại mượn văn tự, mượn âm Hán Việt, bỏ nghĩa (còn gọi là loại chữ giả tá, theo phép phân chia lục thư). Số liệu thống kê cho thấy: bản AB.268 có 160 đơn vị loại B với tần số 1130, bản AB.367 có 122 đơn vị với tần số 814 lần. So với độ dài văn bản, loại B trong bản giải nghĩa chiếm 9,23%, loại B trong bản giải âm chiếm 8,66%.
Loại C: Đây là loại mượn văn tự, mượn âm Hán Việt đọc chệch, bỏ nghĩa. Số liệu thống kê cho thấy: bản AB.268 có 665 đơn vị với tần số 4.284 lần, bản AB.367 có 123 đơn vị với tần số 1.038 lượt; so với độ dài văn bản, loại C trong bản giải nghĩa chiếm 34,96%, loại C trong bản giải âm chiếm 11,05%.
Loại D: Đây là loại chữ Nôm có kí hiệu đọc chệch, trong bản Khóa hư lục giải nghĩa thường có các kí hiệu đọc chệch sau: bộ khẩu , cự , hai phẩy biên ‘ ’. Khóa hư lục giải âm chỉ có kí hiệu đọc chệch là khẩu. Xét về tiêu chí hình thức, loại này thuộc về loại tự tạo (cũng có khi có sự trùng hình giữa loại này với văn tự Hán). Nhưng xét về chức năng của kí hiệu (chức năng chỉnh âm), thì loại D chỉ là một hình thức khác của loại C, hai loại này giống nhau ở chỗ: cùng mượn văn tự, cùng bỏ nghĩa và mượn âm Hán Việt để đọc chệch, chỉ khác nhau ở điểm: loại D có kí hiệu báo đọc chệch, còn loại C lại không có. Số liệu thống kê cho thấy: bản AB.268 có 134 đơn vị với tần số 364 lần, bản AB.367 có 79 đơn vị với tần số 305 lần; so với độ dài văn bản, loại D trong bản giải nghĩa chiếm 2,97%, loại D trong bản giải âm chiếm 3,25%.
Loại E:Đây là loại chữ có kí hiệu chỉnh âm đầu và chữ Hán làm thành tố phụ. Ở đây thành tố phụ ghi âm cụ thể hoặc ghi nghĩa cụ thể làm cho hướng chỉnh âm thu hẹp lại. Loại này chia làm hai tiểu loại: tiểu loại E1: dùng hai mã chữ, tiểu loại E2: dùng một mã chữ. Tiểu loại E1: Trong bản Khóa hư lục giải nghĩa có hai đơn vị thuộc loại E1. Đó là: la đá (xuất hiện 2 lần), bà cắt (xuất hiện 1 lần). Bỏ lưới cùng là vây vóc đánh rấp rong bà cắt mà giục cẩu. 64b2. []; Phải bàn la đá giập xuống thì một hồi phân ra làm hai đoạn. 22b5 [Bị bàn đá sập xuống thì thân liền đứt ra làm hai], Hoặc là nâng chưng dưới hòn la đá cùng nơi chốn dưới núi Ốc Tiêu, hoặc ở trong núi Thiết Vi chỉn là nơi chốn ngục A Tỳ. 22b4 [, ]. Đây là tiểu loại rất quan trọng để xác định niên đại cho dịch phẩm. Vì theo các nhà nghiên cứu lịch sử tiếng Việt thì từ thế kỉ XVII về trước, trong tiếng Việt còn tồn tại một số tổ hợp phụ âm đầu và các thành tố tiền âm tiết như: PL, BL, KL, KHL, KR, GR… và nếu ngược lên sớm hơn nữa có thể có các tổ hợp phụ âm hoặc các thành tố âm tiết khác nữa. Điều này được phản ảnh trong cách ghi âm tiếng Việt của Trần Cương Trung (Sứ giao châu tập – TK XIII), trong cách ghi chữ quốc ngữ cuốn Từ điển Việt Bồ La của de Rhodes (1651)và trong cách ghi chữ Nôm của những văn bản cổ như: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Quốc âm thi tập, Chỉ Nam ngọc âm… Cụ thể như sau:
Trong Sứ giao châu tập của Trần Cương Trung (được Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến văn tiểu lục có hiện tượng một chữ Hán được dịch sang một từ Việt, từ này được ghi bằng hai tự, ví dụ: nguyệt: (bột lăng): blăng > trăng; Thiên: (bột lỗi): blời > trời. Trong An Nam dịch ngữ, theo bản Vương Lộc chú giải, giới thiệu cũng có những trường hợp tương tự: Ngưu: (cách lâu): klâu > trâu; Thái dương: (thác lan): tlán > trán. Trong Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, hiện tượng này xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: Bà luận: Blọn > trọn; Ba niết: ( – ) nát > nát. Trong Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, số lượng này đã giảm, chỉ còn một số hiện tượng như: bà ngựa, la ngàn, la đá, bà cắt (bồ cắt)… Trong Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, tiểu loại E1 không thấy xuất hiện. Lúc này từ ĐÁ đã là từ đơn tiết, tức là đã hoàn tất quá trình đơn tiết hóa.
Như vậy, bước đầu có thể khẳng định rằng: (với cứ liệu trong tiểu loại E1) bản giải nghĩa Khóa hư lục giải nghĩa của Tuệ Tĩnh viết vào khoảng thời gian trước Truyền kì mạn lục giải âm. Đến chữ Nôm thế kỉ XIX, loại E1 đã hoàn toàn biến mất, thể hiện qua số liệu thống kê trong Khóa hư lục giải âm của Phúc Điền hoà thượng. Qua số liệu của Nguyễn Tuấn Cường [11] trong Kim Vân Kiều tân truyện Liễu Văn đường 1871, loại E1 cũng đã biến mất. Cụ thể như bảng dưới đây.


VĂN BẢN(1)
NĂM
ĐƠN VỊ
TẦN SỐ
ĐỘ DÀI VB
Phật thuyết
XV< (?)
75
103
4.942
Chỉ Nam ngọc âm
XV
11
16
?
Quốc âm thi tập
XV
3
6
12.500
Hồng Đức quốc âm
XV
2
4
21.400
Khóa hư lục giải nghĩa
?
2
3
12.244
Truyền kì mạn lục
XVII
0
0
40.000
Kim Vân Kiều tân truyện
1794
0
0
22.778
Khóa hư lục giải âm
1861
0
0
9.396


 Như vậy, theo số lượng và tần số xuất hiện của các đơn vị trong tiểu cấu trúc E1 ta có thể phân kì chữ Nôm làm ba giai đoạn sau: 1. Giai đoạn từ thế kỉ XIV trở về trước: giai đoạn này loại chữ Nôm hai mã được dùng để ghi các từ tiền âm tiết (tổ hợp phụ âm đầu). Hiện còn các văn bản: Sứ giao châu tập, An Nam dịch ngữ, Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Văn bia Hộ Thành sơn. Chiếm 2.1% độ dài văn bản (qua số liệu của Phật thuyết). 2. Giai đoạn hai từ thế kỉ XV đến thế kỷ XVI: giai đoạn mà các văn bản Nôm còn lưu lại các cách ghi hai mã chữ của giai đoạn trước đó. Chiếm 0,028% (tính theo tổng trung bình số liệu của Chỉ Nam, Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Khóa hư lục giải nghĩa. Các từ đó chủ yếu là danh từ chỉ vật hay động vật, như: la đá, bà ngựa, bồ cò, bồ cắt (bà cắt), ông voi, bồ ngưu, bệnh rết, mùi tui, bồ nâu, lồ vừng, lồ mè… (17 chữ) trong các văn bản Chỉ Nam ngọc âm, Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Khóa hư lục giải nghĩa, Thiên Nam ngữ lục… Các văn bản trong giai đoạn này cùng ghi cả một lúc dạng chữ ghi hai âm tiết Nôm và cả dạng chữ đã rụng mất tiền âm tiết: ví dụ như: trong Chỉ Nam ngọc âm: từ ĐÁ xuất hiện 15 lần thì chỉ có 2 lần được viết là LA ĐÁ trong các câu: Cơ Thạch Bác giống cực dữ song, làm máy LA ĐÁ chước dùng bất nhân [4, tr.183], Thạch Khối hòn LA ĐÁ chồng [4, tr.85]; còn lại 13 lần ghi bằng ĐÁ, như:núi đá, ghềnh đá, hang đá, hòn đá, cầu đá, đá lửa, bụt đá, khánh đá, chó đá, tre đá [4, tr.82, 85, 183, 183, 185, 186, 198, 214, 244]. Trong Khóa hư lục giải nghĩa cũng có hiện tượng tương tự: từ ĐÁ xuất hiện 4 lần trong đó 2 lần được ghi là LA ĐÁ ở các câu đã dẫn trên, và 2 lần được ghi là ĐÁ ở các câu cháy mặt trời nướng trụ đá mà muôn vật đều khô nỏ.9a5, sang tiết hè nắng cháy thời trôi vàng nát đá ra.40a3. Sở dĩ, Chỉ Nam ngọc âm có nhiều đơn vị E2 với số lần xuất hiện cao hơn các văn bản cùng thời khác là vì đây là một cuốn từ điển song ngữ Hán Việt. Đối tượng được phản ánh phong phú hơn so với các văn bản khác. 3. Giai đoạn ba từ cuối thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX: loại E1 đã biến mất.
Tiểu loại E2: Đây là loại dùng phép ghi âm + âm: tức là dùng hai yếu tố tự dạng của chữ Hán ghép trong một khối vuông Nôm để ghi lại tổ hợp phụ âm đầu trong tiếng Việt cổ. Trong bản Khóa hư lục giải nghĩa cụ thể có các mã chữ như sau: Cổ + lộng: 弄古 klống > trống trong các câu: tám xin klống pháp trỗi chỉn nghiêng tai.43b6, lậu canh sơ đà điểm sang klống ba.67b3, tiếng klống pháp cổ đánh ngã trong thế gian chiêm bao.75b4; + lược: Klước > trước trong các câu suốt cả ba tài mà đứng ở trong, làm klước muôn vật chưng chỉn rất thiêng.7a4, Miếng ăn nghẹn thời ở klước, tiếng ái cha thời ở sau.8b5…; Cự + lang: Krang > sang trong các câu chẳng luận kẻ khó cùng người krang cùng vào một đường thác mất.15b2; Cổ + la: Kra > sa trong câu hai lỗ mũi nước ngưng chảy kra, hun thửa kinh giáo, xông lên tượng Phật.49a1; + : kro > so trong câu chẳng luận kro đấng trí cùng với đấng ngu thảy thảy đều cùng vào chưng trong lòng cưu mang.7a5. Tổng cộng có 5 đơn vị với 12 lần xuất hiện. Trong Khóa hư lục giải âm cũng có tiểu loại E2: trống ở các vị trí 24b6, 30b9, 38a7, 43b7; sang ở các vị trí 12b3, 14b1, 22b5, 32a7. Tổng cộng: 2 đơn vị, 8 lần.
Bảng chữ E2 trong các bản Nôm
VĂN BẢN
NĂM
ĐƠN VỊ
TẦN SỐ
ĐỘ DÀI VB
Phật thuyết
XV
185
559
4.942
Khóa hư lục giải nghĩa
XIV
7
17
12.224
Kim Vân Kiều bản 1871
1871
2
5
22.778
Khóa hư lục giải âm
1861
2
8
9.396


Như vậy, theo số lượng và tần số xuất hiện của các đơn vị trong tiểu loại E2, ta có thể đi đến nhận định sau: 1. Từ thế kỉ XV trở về trước là giai đoạn các loại chữ E2 dùng để ghi các tiền âm tiết và tổ hợp phụ âm đầu như:BL, KR, TL xuất hiện rất nhiều với tần số cao, chiếm 11,31 % độ dài văn bản (qua số liệu của Phật thuyết).2. Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII là giai đoạn các loại chữ E2 giảm đáng kể về mặt số lượng và tần số, 7 đơn vị xuất hiện với tần số 17 lần, chiếm 0,15%. 3. Từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX: giai đoạn các loại chữ E2 có thể coi như đã hoàn toàn biến mất. Giai đoạn này chỉ còn hai ba chữ như trống, trước sang còn sót lại, đây là lưu tích của chữ Nôm của các giai đoạn trước, nó không còn chức năng ghi âm. Tỉ lệ xuất hiện là 0,04% (qua tổng trung bình số liệu bản Kiều 1871 và Khóa hư lục giải âm).
Khi các tiền tố trong những phụ âm đầu kép đã biến mất thì sự tồn tại trong chữ Nôm của các thành tố vốn được dùng để biểu thị tiền tố như , cự, ma, …trở nên vô nghĩa. Theo quy luật, yếu tố dư thừa, không có chức năng sẽ bị loại bỏ. Các thành tố ghi âm này, sang thế kỉ XVIII – XIX đã gần như không còn nữa. Phương thức cấu trúc lại thường xảy ra theo ba hướng sau: 1. Những yếu tố ghi âm tiết chính trước đây được giữ lại (trong khi các chữ ghi tiền âm tiết đã rụng mất) có khi để nguyên và nhập vào hệ thống chữ Nôm đọc chệch âm Hán Việt; 2. Có khi nó được gia thêm một thành tố nghĩa phù (bộ thủ) để chỉnh trường nghĩa, lúc này nó lại gia nhập vào hệ thống chữ Nôm thuộc loại hình thanh- loại F; 3. Có khi nó lại gia thêm thành tố ghi nghĩa xác chỉ, lúc này nó lạigia nhập vào loại chữ Nôm G.
Qua sự vận động của loại chữ này, ta thấy: 1. Chữ Nôm đã phản ánh tình hình đơn tiết hóa trong tiếng Việt từ thế kỉ XV – XVII. Loại chữ Nôm E2 mới đầu xuất hiện khá nhiều, rồi giảm dần cùng với quá trình mài mòn và biến mất của một số tổ hợp phụ âm đầu như KL, TL, KR, KHL…. 2. Xu hướng chính xác hoá trong các cách ghi âm của chữ Nôm cho phù hợp với ngữ âm của từng giai đoạn. Mỗi khi vỏ âm thanh thay đổi, phương tiện dùng để kí âm (văn tự) cũng được biến đổi theo. Ta có thể coi đây như là cơ chế tự điều chỉnh trong cấu trúc của chữ Nôm.
Loại F: Đây là loại gồm nghĩa phù (bộ thủ để chỉnh trường nghĩa của chữ) và âm phù (một chữ Hán hay Nôm có sẵn). Loại F chia làm 2 tiểu loại: Tiểu loại F1 có mô hình: bộ thủ + thanh phù đọc âm Hán Việt (mượn hình thể chữ Hán), loại này chiếm 99% số lượng và số lần xuất hiện. Tiểu loại F2 có mô hình: bộ thủ + thanh phù đọc theo âm Việt (mượn hình thể chữ Nôm), loại này chiếm số lượng rất ít. Nhưng do đặc điểm cấu tạo đặc thù như vậy nên chúng tôi vẫn xếp thành một tiểu loại riêng. Khóa hư lục giải nghĩa có 330 đơn vị thuộc loại F (chiếm 15,24% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 1.310 (chiếm 10,70% độ dài văn bản). Trong đó, loại F2 chỉ có 1 đơn vị (lời ) xuất hiện với tần số 17 lần. Khóa hư lục giải âm có 376 đơn vị thống kê thuộc loại F (chiếm 23,72 % tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 1434 lần (chiếm 15,26% độ dài văn bản). Trong đó, có 6 đơn vị thuộc loại F2, gồm: buốt , lời,chòm, mời , nhỏ, quở . Có thể thấy, càng về sau, chữ Nôm loại này có xu hướng tăng lên nhiều hơn.
Loại G: Loại này có cấu trúc là chữ Hán làm nghĩa phù + chữ Hán làm thanh phù. Đây là loại có thành tố ghi nghĩa xác chỉ. Khóa hư lục giải nghĩa có 99 đơn vị (chiếm 4,57% tổng số đơn vị thống kê) xuất hiện với tần số 1148 lần (chiếm 9,38%). Khóa hư lục giải âm có 98 đơn vị (chiếm 6,12% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 1082 lần (chiếm 11,52%). Có thể thấy: tỉ lệ chữ hình thanh giữa hai văn bản không chênh nhau là mấy. Nguyên nhân là do bản Khóa hư lục giải nghĩa là bản chép tay, nên đã chịu nhiều sửa đổi về văn tự trong các quá trình sao chép khiến cho văn bản nhiều khi không còn mang đúng phong cách văn tự của nguyên tác nữa. Tuy nhiên, qua số liệu thống kê ta cũng có thể thấy xu hướng vận động của chữ Nôm: từ việc ghi âm sẽ gần tiến đến ghi âm- chỉnh trường nghĩa và cuối cùng là ghi âm – xác chỉ ý nghĩa. Thể hiện qua tần số xuất hiện của loại này: Khóa hư lục giải nghĩa chỉ chiếm 9,38% độ dài văn bản, trong khi Khóa hư lục giải âm chiếm 11,52%. Dùng tiêu chí này để xác định tính chất của cấu trúc chữ Nôm qua các giai đoạn lịch sử là một việc làm có ý nghĩa, bổ sung thêm vào các phương pháp khác: xác định tỉ lệ chữ giả tá, xác định tỉ lệ chữ ghi tiền âm tiết…trong các văn bản Nôm.
Loại H: Đây là loại chữ nghĩa + nghĩa. Loại này chiếm tỉ lệ rất ít trong các văn bản Nôm của các giai đoạn. Các đơn vị cũng rất ít, khoảng dưới 10 đơn vị. Khóa hư lục giải nghĩa có 2 đơn vị (chiếm 0,09% tổng số đơn vị thống kê) xuất hiện với tần số 55 lần (chiếm 0,44% độ dài văn bản). Đó là hai chữ: trời và mấy. Khóa hư lục giải âm có 2 đơn vị thống kê (chiếm 0,13% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 55 lần (chiếm 0,58% độ dài văn bản). Đó là hai chữ: trời trùm.
Loại N: Đây là loại chữ mượn tự dạng chữ Hán, bỏ âm, đọc theo nghĩa. Khóa hư lục giải nghĩa có 8 đơn vị thống kê (chiếm 0,35% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 22 lần (chiếm 0,17% độ dài văn bản). Khóa hư lục giải âm có 2 đơn vị thống kê (chiếm 0,13% tổng số đơn vị thống kê), xuất hiện với tần số 3 lần (chiếm 0,03% độ dài văn bản). Có thể thấy càng lùi về sau này số lượng và tỉ lệ của loại chữ đọc theo nghĩa càng giảm dần. Nguyên nhân: trong giai đoạn tiếng Việt cổ (thế kỉ XIII cuối thế kỉ XVI) tiếng Việt đang tiếp thu những yếu tố Hán mà nó còn đang khuyết thiếu. Tình hình này ta có thể thấy rất rõ qua số lượng các từ gốc Hán gia nhập vào các văn bản Nôm sơ kì.

4. Kết quả phân loại chữ Nôm theo tiêu chí tự dạng (chữ Nôm vay mượn và chữ Nôm sáng tạo)

Phương pháp định lượng tỉ lệ hình chữ vay mượn và hình chữ tự tạo trên cơ sở chất liệu chữ Hán là một trong những phương pháp sớm nhất được sử dụng để xác định diễn biến cấu trúc của chữ Nôm trong lịch sử. Theo các nhà nghiên cứu chữ Nôm, loại vay mượn tự dạng càng nhiều thì niên đại của văn bản càng có khả năng xưa hơn, vì trong giai đoạn đầu phát triển, chữ Nôm chủ yếu dùng phương pháp giả tá. Càng về sau này, loại chữ Nôm tự tạo tăng lên, thể hiện xu hướng ghi âm chính xác cả về nghĩa và âm trong chữ Nôm. Loại chữ vay mượn bao gồm các chữ thuộc loại A1, A2, B, C1, C2, N. Loại chữ tự tạo trên cơ sở chất liệu chữ Hán bao gồm các chữ loại D, E1, E2, F1, F2, G, H. Ta có thể thấy sự vận động của chữ Nôm trong 2 văn bản qua bảng so sánh sau:


Loại chữ
Bản
Đơn vị
Tỉ lệ
Số lượt
Tỉ lệ
Vay mượn
Tuệ Tĩnh
1.591
73,34%
9292
76,73%
Phúc Điền
879
55,45%
5404
57,51%
Tự tạo
Tuệ Tĩnh
575
26,66%
2952
23,27%
Phúc Điền
706
44,55%
3992
42,49%
Tổng số
Tuệ Tĩnh
2.166
100%
12.244
100%
Phúc Điền
1.585
100%
9.396
100%


Như vậy, ta có thể thấy: loại vay mượn hình chữ trong văn bản Khóa hư lục giải nghĩa gấp đôi loại vay mượn hình chữ trong văn bản Khóa hư lục giải âm, cả về số lượng đơn vị lẫn tần số xuất hiện. Loại tự tạo hình chữ trong văn bản Khóa hư lục giải nghĩa thấp hơn loại hình chữ tự tạo trong Khóa hư lục giải âm. Theo các nhà nghiên cứu chữ Nôm, loại vay mượn hình thể càng nhiều với tần số xuất hiện càng cao thì niên đại văn bản càng có khả năng xưa hơn, vì nó phản ánh lịch sử phát triển của chữ Nôm từ giả tá sang hình thanh. Đế có cái nhìn rộng hơn về vị trí của bản Khóa hư lục giải nghĩaKhóa hư lục giải âm trong tiến trình từ chữ Nôm Việt. Chúng tôi lập bảng so sánh với một số tác phẩm Nôm tiêu biểu như sau:
 


VĂN BẢN (2)
NIÊN ĐẠI
TỔNG SỐ CHỮ
CHỮ MƯỢN HÌNH
TỈ LỆ
Cư trần lạc đạo phú
1308 (stác)
1.622
1.397
86,1%
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
1308 (stác)
316
277
87.7%
Phật thuyết đại báo phụ mẫu…
XV (stác)
4.942
4.177
84,52%
Quốc âm thi tập (64 tờ đầu)
XV (stác)
10.258
9.242
90%
Hồng Đức quốc âm thi tập (50 tờ)
XV (stác)
10.929
9.051
83%
Chỉ Nam ngọc âm
XVI- XVII
?
?
82%
Truyền kì mạn lục
XVI (stác)
10.199
9.061
88%
Thập tam phương gia giảm
?
8.456
7.538
89,7%
Tam thiên tự toản yếu
XVIII
3.000
2.387
79,6%
Khóa hư lục giải nghĩa
?
12.244
9.292
76,73%
Truyện Kiều (LVĐ 1871)
1795 (s.tác)
22.778
?
68,24%
Khóa hư lục giải âm
1861 (stác)
9.396
5.404
57,51%


Có thể thấy xu hướng chung trong mô thức cấu trúc chữ Nôm là giảm dần số lần sử dụng loại vay mượn và tăng dần loại tự tạo (về mặt hình thể, tự dạng). Theo bảng trên, ta có thể phân làm hai giai đoạn: 1. Giai đoạn thứ nhất (từ thế kỉ XVIII về trước): đây là giai đoạn loại chữ vay mượn tự dạng có tỉ lệ rất cao từ 80% đến 90% độ dài văn bản. 2. Giai đoạn thứ hai (thế kỉ XIX): đây là giai đoạn loại chữ vay mượn đã giảm xuống đáng kể, chiếm dưới 70% độ dài văn bản. Loại chữ vay mượn tự dạng trong văn bản Khóa hư lục giải âm chỉ chiếm 57,51%; đây có thể coi là con số thấp nhất thống kê được từ trước đến nay về loại này. Loại chữ vay mượn tự dạng trong văn bản Khóa hư lục giải nghĩa chiếm 76,73% độ dài văn bản. Điều này cho thấy: văn bản AB.268 là một bản chép tay sau này, nó không còn phản ánh đúng tình hình cấu trúc của chữ Nôm vào thời điểm sáng tác nữa. Như vậy, phương pháp tính niên đại tác phẩm theo tỉ lệ chữ vay mượn/ tự tạo sẽ gặp khó khăn nếu gặp phải những trường hợp có vấn đề về văn bản học. Mặt khác, phương pháp này cũng có một số bất cập khác như: tỉ lệ cấu tạo chữ Nôm còn chịu sự chi phối của đề tài cũng như chủ thể sáng tạo. Trong những văn bản chính thống, quan phương, hay các văn bản triết học (như Phật, Nho) tỉ lệ chữ Hán sẽ tăng lên do có sự xuất hiện đáng kể của các thuật ngữ Nho học, Phật học… Trong các thể loại thơ, phú; từ Hán Việt cũng được sử dụng phổ biến để thứ nhất tạo sự cổ kính, trang nhã cho câu thơ, thứ hai để phục vụ việc gieo vần, thứ ba để chứng tỏ sự uyên bác của người viết. Phương pháp này cũng sẽ gặp khó khăn đối với những trường hợp giải âm và giải nghĩa: các tác phẩm giải âm có xu hướng đối dịch âm tiết rất cao, đối dịch âm tiết đối với cả những từ Hán Việt quen thuộc, trong khi xu hướng này thể hiện không mạnh bằng ở các tác phẩm giải nghĩa. Sự bất cập của phương pháp này còn thể hiện ở việc phân kì chữ Nôm như chúng tôi đã trình bày. Chia cấu trúc chữ Nôm làm hai giai đoạn (theo tiêu chí hình thức) sẽ không phản ánh đúng bản chất của chữ Nôm trong từng giai đoạn nhỏ hơn: giai đoạn chữ Nôm trước thế kỉ XV, giai đoạn chữ Nôm từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII, giai đoạn chữ Nôm thế kỉ XVIII – XIX.
Việc phân kì chữ Nôm nên được tiến hành theo phương pháp ngữ âm xác định theo một hệ các tiêu chí khác nhau, bao gồm: 1. Sự vận động của các đơn vị thuộc loại C sang loại D trong các giai đoạn phát triển: tức là sự vận động của các chữ mượn hình đọc chệch sang loại chữ định hướng bằng báo hiệu. 2. Sự vận động của các đơn vị thuộc loại D sang loại F1 trong các giai đoạn phát triển: cụ thể là sự vận động của các chữ mượn âm Hán Việt đọc chệch có gia thêm dấu phụ báo hiệu chỉnh âm/ chỉnh nghĩa sang loại chữ mượn âm Hán Việt đọc chệch có gia cố thêm bộ thủ để báo hiệu đọc chệch và chỉnh trường nghĩa. Chức năng chỉnh trường nghĩa là chức năng chính, chức năng đọc chệch là chức năng đi sau. Khác với các kí hiệu phụ (nháy, cá, cự…), các kí hiệu này chỉ thông báo đọc chệch âm mà không cho biết phải đọc chệch theo trường nghĩa nào. Muốn đọc chính xác phải dựa vào văn cảnh. 3. Sự vận động của các đơn vị thuộc loại C1/ D và F1 sang loại chữ G:+ Sự vận động của các đơn vị thuộc loại C1/D sang loại G: tức là sự vận động của các chữ đọc chệch âm Hán Việt (có/ không có kí hiệu đọc chệch) sang loại chữ đọc chệch âm Hán Việt có gia cố thêm thành phần xác chỉ về nghĩa. Có một số đơn vị chuyển thẳng từ C sang G như các từ thuộc về số đếm như: từ chínsang chín , ba sang ba , muôn sang muôn , ngàn sang ngàn, sau sang sau /, trước sang trước / , trâu sang trâu , sang … Có một số đơn vị chuyển từ D sang G; + Sự vận động của các đơn vị thuộc loại F1chuyển sang loại G: như từ cỏ sang cỏ ….4. Sự vận động của các đơn vị trong E1 chuyển sang E2/ C/ D/ F1/ G: tức là sự vận động của các chữ được ghi bằng hai mã chữ (hai khối vuông tách biệt) sang chữ Nôm được ghi bằng một mã chữ (một khối vuông nén hai chữ Hán dùng để ghi tổ hợp phụ âm đầu và tiền âm tiết trong giai đoạn đầu của chữ Nôm). Ví dụ: chuyển từ mắng sang mắng 車莽/ , trọn sang trọn / 淿, trông sang trông /, la ngàn sang ngàn / ,… Tuy nhiên, việc khảo sát cụ thể hiện tượng diễn biến sẽ được đề cập trong một dịp khác.

5. Tiểu kết

5.1. Văn bản Khóa hư lục giải nghĩavẫn còn sót lại một số ít các mã chữ Nôm cổ: loại E1 và E2 chỉ có ở các văn bản chữ Nôm được sáng tác đầu thế kỉ XV như: Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Chỉ Nam ngọc âm. Loại E1 có 2 trường hợp xuất hiện với tần số 3 lần. Ngoài ra, văn bản còn có một số chữ Nôm thuộc loại C ghi các tổ hợp phụ âm đầu như: BL, KL, KR (cùng với loại E2). Cụ thể là: có 3 chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm KR xuất hiện với tần số 5 lần; có 5 chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm đầu KL xuất hiện với tần số 49 lần; có 3 chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm đầu BL xuất hiện với tần số 11 lần. Trong khi văn bản Khóa hư lục giải âm hoàn toàn không có hiện tượng này.
5.2 Văn bản Khóa hư lục giải nghĩa có số chữ Nôm loại C gấp 4 lần văn bản Khóa hư lục giải âm cả về số lượng và tần số xuất hiện. Bản Tuệ Tĩnh dùng 665 đơn vị với tần số 4.284 lần, bản Phúc Điền dùng 123 đơn vị với tần số 1.038 lượt; so với độ dài văn bản, loại C trong bản giải nghĩa chiếm 34,96%, loại C trong bản giải âm chiếm 11,05%. Như vậy, bước đầu ta có thể nhận định rằng: tỉ lệ chữ Nômđọc chệch âm Hán Việt (so với độ dài văn bản) trong các văn bản Nôm thế kỉ XIX chỉ bằng 1/3 so với văn bản Nôm thuộc giai đoạn trước đó. Dĩ nhiên, đây là số liệu chưa thật chính xác bởi văn bản Khóa hư lục giải nghĩa là văn bản chịu nhiều ảnh hưởng của cấu trúc chữ Nôm giai đoạn sau như chúng tôi đã chứng minh ở trên.
5.3. Khóa hư lục giải nghĩa chỉ có 10 chữ Nôm thuộc loại không dựa âm gồm loại hội ý và loại đọc theo nghĩa(/2.166 chữ, chiếm tỉ lệ 0,46%) xuất hiện với tần số 77 (/12.244 lượt, chiếm 0,62% độ dài văn bản). Còn lại, chữ Nôm dựa âm có 2.156 đơn vị (/2.166 đơn vị, chiếm 99,54%) xuất hiện với tần số 12.177 (/12.244 lượt, chiếm99,36% độ dài văn bản). Khóa hư lục giải âm cũng chỉ có 4 chữ Nôm thuộc loại không dựa âm (/1.585 đơn vị, chiếm 0,25%)xuất hiệnvới tần số 58 lần (/9.396 lượt, chiếm 0,61% độ dài văn bản). Loại chữ Nôm F trong hai văn bản xấp xỉ nhau. Trong đó, Khóa hư lục giải nghĩa chỉ có 1 trường hợp đọc dựa theo âm Nôm (loại F2) xuất hiện với tần số 17 lần, còn Khóa hư lục giải âm có 6 trường hợp, xuất hiện với tần số 55 lần. Cả hai văn bản đều có các âm dựa là: âm Hán Việt, âm phi Hán Việt, và âm Nôm. Theo tiêu chí âm đọc, chữ Nôm trong suốt lịch sử là thứ văn tự ghi âm.
5.4. Theo tiêu chí tự dạng (chữ Nôm vay mượn và chữ Nôm tự tạo), văn bản Khóa hư lục giải nghĩa có 1.591 loại chữ vay mượn (/2.166 chữ, chiếm 73,34%) xuất hiện với tần số 9.292 (/12.244 lượt, chiếm 76,73% độ dài văn bản); loại chữ tự tạo 575 chữ (/2.166 chữ, chiếm 26,66%) xuất hiện với tần số 5.404 (/12.244 lượt, chiếm 23,27% độ dài văn bản). Văn bản Khóa hư lục giải âm có 879 loại vay mượn (/1.585 chữ, chiếm 55,45%) xuất hiện với tần số 5.404 (/9.396 lượt, chiếm 57,51% độ dài văn bản) và có 706 chữ tự tạo (/1.585 chữ, chiếm 44,55% tổng số mã chữ) xuất hiện với tần số là 3.992 lượt (/9.396 lượt chữ, chiếm 42,49% độ dài văn bản). Số liệu này chứng tỏ:
5.4.1 Chữ Nôm trong văn bản Khóa hư lục giải nghĩa đã chịu ảnh hưởng khá nặng của chữ Nôm hậu kì. Tỉ lệ chữ Nôm vay mượn (so với độ dài văn bản) trong văn bản AB.268 chỉ có 76,73%, gần bằng số liệu của các văn bản thuộc thế kỉ XVIII như Tam thiên tự toản yếu (79,6%), kém số liệu của các văn bản từ thế kỉ XVII về trước, như: Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (84,52%), Chỉ Nam ngọc âm (82%), Quốc âm thi tập (90%), Tân biên truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (88%)…
5.4.2. Chữ Nôm trong văn bản Khóa hư lục giải âm cho thấy: tỉ lệ chữ Nôm vay mượn (so với độ dài văn bản) chiếm tỉ lệ khá thấp, chỉ có 57,51%. Đây là số liệu thấp nhất thống kê được từ trước đến nay. Theo số liệu thống kê của Nguyễn Tuấn Cường qua Truyện Kiều bản Liễu Văn đường 1871 thì tỉ lệ chữ vay mượn ở văn bản này là 68,24%). Có thể đi đến nhận định rằng: nếu đặt chữ Nôm trong văn bản Khóa hư lục giải âm trong tiến trình chữ Nôm Việt, ta thấy xu hướng chung trong cấu trúc chữ Nôm là giảm dần loại vay mượn và tăng dần loại tự tạo. Trong đó có hai xu hướng nhỏ: xu hướng gia cố nghĩa phù (trường nghĩa hoặc xác chỉ) và xu hướng ghi chính xác âm đọc bằng việc sử dụng một âm Nôm khác. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng chữ Nôm vay mượn dù ở giai đoạn nào cũng chiếm tỉ lệ nhiều hơn so với loại tự tạo (cả về số chữ và số lần xuất hiện).
Chú thích:
(1) Bảng thống kê loại E1 qua một số văn bản Nôm. Số liệu trong Phật thuyết được tiếp thu từ Hoàng Thị Ngọ, trong Chỉ Nam ngọc âm được tiếp thu từ Trần Xuân Ngọc Lan; loại E1 trong Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Tân biên truyền kì mạn lục là theo số liệu thống kê của chúng tôi.
(2) Thứ nhất là Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông (1258 – 1308). Hai tác phẩm có thể được sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1293 đến năm 1308, chúng tôi lấy năm 1308 làm mút cuối cho thời điểm sáng tác. Số liệu thống kê lấy theo [1]. Thứ hai là văn bản Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Đây là tác phẩm được đoán định là diễn Nôm vào thế kỉ XV [6, 25]. Thứ ba là Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, ra đời vào khoảng thời gian từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII. Số liệu thống kê chúng tôi căn cứ theo Trần Xuân Ngọc Lan [4]. Thứ tư là chữ Nôm trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Chúng tôi lấy số liệu thống kê của Lê Văn Quán [7]. Thứ năm là chữ Nôm trong bản Hồng Đức quốc âm thi tập kí hiệu AB.292 (bản chép tay) theo số liệu của Lê Văn Quán [7]. Thứ sáu là chữ Nôm trong văn bản Tân biên truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú. Thứ bảy là Thập tam phương gia giảm (thế kỉ XVII) theo số liệu thống kê của Lê Văn Quán [7]. Thứ tám là chữ Nôm trong Tam thiên tự toản yếu thế kỉ XVIII theo số liệu thống kê của Lê Văn Quán [7]. Thứ chín là chữ Nôm trong Truyện Kiều bản in Liễu Văn đường 1871, theo số liệu thống kê của Nguyễn Tuấn Cường [11].
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Đào Duy Anh: Chữ Nôm – nguồn gốc, cấu tạo diễn biến, Nxb. KHXH, H. 1975.
2.Nguyễn Tài Cẩn & N.V.Xtankêvich: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1985.
3.Tân biên truyền Kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú. Nguyễn Quang Hồng phiên khảo, Nxb. KHXH, H. 2001.
4.Trần Xuân Ngọc Lan: Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Nxb. KHXH, H. 1985.
5.Vương Lộc: An Nam dịch ngữ, Trung tâm Từ điển học & Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001.
6.Hoàng Thị Ngọ: “Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh“, Nxb. KHXH, H. 1999.
7.Lê Văn Quán: Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb. KHXH, H. 1981.
8.Nguyễn Ngọc San: Lý thuyết chữ Nôm- văn Nôm, Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2003.
9.Nguyễn Thanh Tùng: Chữ Nôm và tiếng Việt qua Thiền tông khóa hư ngữ lục (báo cáo khoa học sinh viên), Đại học Sư phạm, H. 2002.
10.Nguyễn Khuê: Giáo trình chữ Nôm (Lưu hành nội bộ), khoa Ngữ Văn Đại học Tổng Hợp Tp. Hồ Chí Minh, Tp HCM. 1987.
11. Nguyễn Tuấn Cường: “Bước đầu khảo sát cấu trúc chữ Nôm trong bản Kim Vân Kiều tân truyệnLiễu Văn đường 1871 (Khóa luận tốt nghiệp), ĐH KHXH & NV, H. 2003./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (87)2008; Tr.43-57)

Nam Vang – Kim Biên (Năng Lượng Mới số 90. 3-2-2012 – An Chi (Huệ Thiên))

·

Bạn đọc : Xin ông cho biết tại sao trước đây ta gọi thủ đô Phnom Penh của Campuchia là Nam Vangcòn cho đến bây giờ người Hoa vẫn gọi là Kim Biên.Và có thật trước đây Nam Vang là một địa danh thông dụng? Xin cảm ơn.
(Bùi Đình Hịu – Hoàn Kiếm, Hà Nội).
An Chi : Nam Vang là cách gọi dân dã mà người Miền Nam phiên âm từ tên thủ đô Phnom Penh của Campuchia để gọi thành phố này. Trong Đại Nam quấc âm tự vị, Huỳnh-Tịnh Paulus Của giảng Nam Vang là “tên chỗ vua Cao-mên ở bây giờ” (quyển từ điển này ra đời, tome I năm 1895, tome II năm 1896). Việt-Nam tự-điển của Khai-Trí Tiến-Đức (Hà Nội, 1931) ghi nhận: “Nam-vang. Do chữ Phnom-Penh dịch âm ra. Tên kinh-đô nước Cao-mên.” Việt-Nam tự-điển của Lê Văn Đức giảng là “kinh-đô vương-quốc Cam-bốt (Cao-mên)”. Cho đến nửa đầu của thế kỷ XX thì địa danh này vẫn được dùng rộng rãi và thống nhất trong cả nước ta. Có lẽ là từ 1954 trở đi, ta mới dần dần đổi Nam Vang thànhPhnom Penh. Nhưng Nam Vang đã “chết tên” trong một danh ngữ chỉ món ăn: hủ tiếu Nam Vang. Trước đây, địa danh này còn dùng theo hoán dụ để chỉ cả đất nước Campuchia nữa, như Nguyễn Hữu Hiệp đã viết:
“Do “đất liền đất, núi liền núi, sông liền sông”, nhất là nhờ có hai nhánh Tiền Giang và Hậu Giang của dòng Cửu Long sông sâu nước chảy, nên giao thông đường thuỷ từ lục tỉnh đến xứ Chùa Tháp rất thuận lợi. Để khai thác triệt để tài nguyên thuộc địa, chính quyền thực dân cho thành lập công ty tàu thuỷ, mở nhiều tuyến đường sông từ Sài Gòn và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, vận chuyển hành khách, thổ sản, hàng hoá các loại đến Nam Vang, và ngược lại. Dân gian gọi là “tàu Nam Vang”. Người từ Châu Đốc, An Giang có dịp cần mua sắm, đi Nam Vang bằng loại tàu này nhanh và tiện hơn đi Sài Gòn. Đi Nam Vang tức đi đến thủ đô nước Cao Miên (nay gọi Campuchia). Đúng nhất là vậy, nhưng thuở trước đồng bào miền Nam hiểu Nam Vang với nghĩa mở rộng cả nước ấy, hoặc chí ít cũng toàn vùng bao gồm các tỉnh quanh khu vực Nam Vang.” (“Người Châu Đốc-An Giang làm ăn ở Nam Vang xưa và nay”, Thư viện 4phuong.net).
Và địa danh Nam Vang cũng còn sống trong ca dao:
1.– Chiếc tàu Nam Vang chy ngang Cn Cát
   Xung câu tôm đu sát cành đa
   Thy em có chút m già
   Mun vô nuôi dưỡng biết là đng không.
2.– Dng bum chy thng Nam Vang,
Làm thơ nhn li, em khoan ly chng.
3.– Nước ròng chy thy Nam Vang,
Mù u chín rng bóng chàng bit tăm.
4.– Ngó lên Nam Vang thy cây nm nước,
Ngó v Sông Trước thy sóng ba lao xao,
Anh thương em rut tht gan bào,
Biết em có thương li chút nào hay không!
(Những câu này cũng chép
theo bài trên của Nguyễn Hữu Hiệp).
Có một truyền thuyết liên quan đến cái tên gốc Phnom Penh. Tên này xuất phát từ cụm từ Wat Phnom Daun Penh , nghĩa là “Chùa (trên) Núi bà Penh”, cũng nói tắt thành Wat Phnom, nghĩa là “Chùa (trên) Núi”. Theo lịch sử ghi chép thì năm 1372, Campuchia bị một trân lụt lớn chưa từng thấy. Trên một ngọn đồi bên con sông chảy qua kinh đô, có một góa phụ giàu có tên Penh đã cất nhà ở. Một hôm đẹp trời, bà Penh ra sông lấy nước thì thấy giữa dòng nước chảy cuồn cuộn nổi lên một một cái cây to, từ trong bộng cây phát ra ánh sáng lấp lánh của một bức tượng Phật. Bà bèn gọi thêm mấy người phụ nữ nữa đến rồi họ cùng chung sức lôi cái cây lên bờ thì thấy bên trong có bốn bức tượng Phật bằng đồng và một bằng đá. Vốn là một Phật tử sùng đạo, bà Penh cho rằng đây là món quà Trời ban; bà cùng mấy người phụ nữ kia lau rửa các tượng Phật thật sạch sẽ rồi bà kính cẩn đem về nhà mà thành kính thờ phụng. Sau đó, bà cùng với những láng giềng ra sức đắp một ngọn đồi nhỏ trước nhà và cất một ngôi chùa trên đó rồi đưa năm bức tượng vào. Để ghi nhớ công lao của bà, người đời sau mới gọi ngọn đồi này là Phnom Penh (Núi [bà] Penh), mà người Hoa phiên âm thành Bách Nang Bôn 百囊奔, âm Bắc Kinh là Băi  Náng Bèn, âm Quảng Đông là Pạc Noòng Pắn (ghi cho trong Nam: Pánh). Dần dần, người Hoa vừa tôn xưng vừa tỉnh lược mà gọi là Kim Bôn 金奔, âm Quảng Đông là Cắm Pắn (Pánh). Ở đây,kim (= vàng) hiển nhiên là một từ có tác dụng “làm đẹp” còn Pắn (Pánh), tên bà Penh vẫn được giữ lại. Nhưng với thời gian thì dân Quảng Đông ở Phnom Penh đã biến Pắn (Pánh) 奔 thành Pín , khiến choCắm Pắn (Pánh金奔 thành Cắm Pín  – phiên âm theo Hán Việt là Kim Biên – rồi cứ như thế mà gọi cho đến ngày nay. Từ nguyên dân gian là nguyên nhân của sự thay đổi này. Chỉ trừ những ai thích tìm hoặc thông hiểu chuyện xưa tích cũ, chứ các chú chệch, thím xẩm bình thường thì chẳng ai biết Pắn(Pánh) 奔 ( tên bà Penh) là cái thứ gì. Họ chỉ thấy Phnom Penh ở nơi giao nhau giữa bốn con sông ( Thượng Mekong, Tonlé Sap, Hạ Mekong và Bassac) nên mới ngầm hiểu rằng đây là thành phố bên bờ sông mà thay Pắn (Pánh) bằng Pín (Trong tiếng Quảng Đông thì coóng pín 江邊 (giang biên) là bờ sông) mà cho ra đời cái tên Cắm Pín , dùng cho đến bây giờ.

Nguồn: Facebook An Chi (Huệ Thiên)

Thử mon men tìm hiểu lịch sử xuất hiện từ "nghệ thuật", "nghệ sĩ" trong tiếng Việt – Nguyễn Tuấn Cường

Thử mon men tìm hiểu lịch sử xuất hiện từ “nghệ thuật”, “nghệ sĩ” trong tiếng Việt

Mấy dòng thông tin này là viết theo đơn đặt hàng của một vị sư huynh, sơ sơ thế này chỉ e hàng bị trả về nơi sản xuất :-))

I. XÉT TRONG CÁC TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT
.          1. Theo các từ điển tiếng Việt từ trước thế kỉ 20 (de Rhodes 1651, de Behaine 1772-1773, Taberd 1838, Huỳnh Tịnh Của 1895-1896, Genibrel 1898) thì không hề thấy các mục từ “nghệ thuật” hay “mĩ thuật”, mặc dù đã có các từ đơn “nghệ”, “thuật”, “mĩ” và rất nhiều từ tổ có 3 yếu tố này.
      2. Theo các từ điển tiếng Việt đầu thế kỉ 20:
a.      Cuốn Pettit lexique annamite – francais của Pilon (1908) cũng chưa có “nghệ thuật” và “mĩ thuật”.
b.      Việt Nam từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (Trung Bắc Tân Văn, 1931) ghi: “Nghệ sĩ: người chuyên về một mĩ thuật gì”, “Nghệ thuật: các môn học về mĩ thuật” (tr. 385); “Mĩ nghệ: nghề làm đồ đẹp”, “Mĩ thuật: nghệ thuật thuộc về cái đẹp” (tr. 342).
c.      Lexique des expressions Sino-Vietnamiennes của Bửu Cân (Huế, 1932): “nghệ thuật: arts, mestiers. Bởi có sắt có lửa mà nghệ-thuật mở-mang (Ng. tr. Th.)” (tr. 270), không rõ là Bửu Cân trích từ tác phẩm nào của Nguyễn Trọng Thuật. Có cả từ “mĩ nghệ”.
d.      Các từ điển của Đào Duy Anh (Hán Việt từ điển, 1932; Pháp Việt từ điển 1936) đều đã dùng phổ biến các từ “nghệ thuật”, “mĩ thuật”, “nghệ thuật gia”, “nhà nghệ thuật”, “mĩ học”. Có “nghệ nhân” nhưng chưa có “nghệ sĩ”. Đặc biệt đáng chú ý là trong Pháp Việt từ điển (tr. 99): “Artiste: Thợ khéo, nhà nghệ thuật, nhà mỹ thuật, tài tử”.
e.      Tự điển Việt Hoa Pháp của Gustave Huê (1937) cũng đã dùng phổ biến “nghệ thuật”, “mĩ thuật”, “mĩ học”.
f.       Hán Việt tân từ điển của Hoàng Thúc Trâm (nhà sách Vĩnh Bảo Saigon, 1951) bắt đầu có từ “nghệ sĩ” (tr. 504).
==>  các từ “nghệ thuật”, “mĩ thuật”, “mĩ nghệ”, “nghệ thuật gia” “nhà nghệ thuật”, “nghệ nhân” xuất hiện trong tiếng Việt trong giai đoạn khoảng 1910-1930.
==> từ “nghệ sĩ” xuất hiện trong giai đoạn khoảng 1940-1950.
II. XÉT TRONG CÁC VĂN BẢN NÔM
1.      Xét trong các văn bản Nôm (phần lớn là từ trước thế kỉ 20), chưa tìm thấy các từ “nghệ thuật”, “mĩ thuật”, “mĩ nghệ”, “nghệ thuật gia” “nhà nghệ thuật”, “nghệ nhân”, “nghệ sĩ”.
2.      Khái niệm “nghệ thuật” được biểu đạt thông qua từ “nghề” (nghề là âm Tiền Hán Việt của “nghệ” ):
a.      Truyện Kiều: “Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm” => “nghề thi họa” ~ nghệ thuật thơ, nghệ thuật hội họa
b.      Truyện Kiều: “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương” => “nghề hồ cầm” ~ nghệ thuật âm nhạc
c.      Song tinh bất dạ: “Phương phi vừa thuở trâm cài, Trội nghề thêu dệt trổ tài phú thơ” => “nghề thêu dệt” ~  nghệ thuật thêu, dệt
d.      Thiên nam ngữ lục: “Nghề hành đàn sáo dại đời, Đẹp mười Phi Yến xướng mười đường hoa” => “nghề đàn sáo” ~ nghệ thuật âm nhạc
3.      Khái niệm “nghệ sĩ” được biểu đạt qua từ “công”  tiếng Hán mà tiếng Việt nghĩa là “thợ”, hoặc “khéo léo trong nghề nghiệp”. Huỳnh Tịnh của giảng: “Thợ: Kẻ lập cuộc cơ trí, kẻ làm nghề, tay khéo léo, chế tạo ra vật gì” (tr. 1018).
Các ví dụ trong văn bản Nôm: Cấu trúc: “thợ + tên nghề”.
a.      Hồ Xuân Hương: “Trách người thợ vẽ khéo vô hình” => “thợ vẽ” ~ họa sĩ
b.      Nguyễn Khuyến: “Lại thuê một lũ thợ kèn” => “thợ kèn” ~ nhạc sĩ (thổi kèn trong đám ma)
c.      Lí hạng ca dao: “Lòng tôi muốn lấy thợ kèn” => “thợ kèn” ~ nhạc sĩ
d.      Quốc phong thi hợp thái: “Ở gần thợ nhuộm vẻ vang mọi màu” => “thợ nhuộm”
e.      Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa: “Toàn công thợ tiện khéo quay => “thợ tiện”
f.       Hoa tiên: “Thợ trời dù hẳn vô tình” => “thợ trời” dịch từ “thiên công”.
g.      Thanh Hóa quan phong: “Em đừng cậy sắc khoe tài, Khéo thay nồi lủng cũng tay thợ hàn” => “thợ hàn”
h.      Chuyện đời xưa: “Mới tính với nhau lấy vàng đem cho thợ kéo ra đậu một con rùa vàng để chơi” => thợ kim hoàn
Hà Nội, ngày 4/11/2010

CÁC THUẬT NGỮ “CHƯỞNG”, “TRI”, “KIÊM”, “THỰ”, “HÀNH”, “QUYỀN" TRONG CHỨC QUAN THỜI XƯA – Đinh Khắc Thuần

TB

Chưởng 掌: chỉ người có chức quan cao quý nắm nha môn thấp như Trung quân Đô đốc phủ chưởng phủ sự Thái bảo Lân Quốc công, hoặc Binh bộ Thượng thư chưởng bộ sự, Thái bảo Kiến Dương bá…
Tri 知: lấy quan chức của cùng nha môn đảm nhậm thêm việc của nha môn sở thuộc, tức là quan bản nha coi việc thuộc quyền mình gọi là tri, chẳng hạn Hộ bộ Tả thị lang tri Độ chi Thanh lại ty (Thanh Lại ty thuộc bộ Hộ); hoặc Quân khí doanh tạo sở sứ tri Đan tác tượng,…
Kiêm 兼: lấy chức này kiêm nhiệm chức khác bất kể cao thấp, một lúc đảm nhận hai việc, như Binh bộ Tả thị lang kiêm Quốc tử giám Tế tửu (chức quan cao kiêm nhiệm thêm chức thấp), hoặc Tả Xuân phường Tả thứ tử kiêm Hộ bộ Thượng thư (chức quan thấp kiêm nhiệm chức quan cao).
Thự 署: chỉ vị quan có phẩm hàm thấp mà tạm đảm nhận việc bản nha, gọi là thự, như Hàn lâm viện Thị độc thự Hàn lâm viện sự; hoặc chức quan thấp tạm thời đảm nhận chức vị cao như Ngự dụng giám thự Giám sự.
Hành 行 : người có chức vụ cao đảm nhận công việc của phẩm hàm thấp, như Hàn lâm viện Thừa chỉ Vũ Vĩnh Trinh hành Hải Tây đạo Tuyên chánh sứ ty Tham tri, năm 1464 (Đại Việt sử kí toàn thư, Bản Chính Hòa, Bản dịch, 1998, tập 3, tr.196); hoặc trên là hàm tản quan dưới lại là chức quan như Anh liệt tướng quân, Tổng tri của một vệ…
Quyền 權 : phẩm trật thấp nhưng quyền (có quyền hạn) chức vị cao, như Hàn lâm viện Thừa chỉ quyền Hộ bộ Hữu thị lang Nguyễn Tư Đạo năm 1464 (Đại Việt sử kí toàn thư, tập 3, tr.197); hoặc trên chỉ có chức quan, dưới mang hàm tản quan, như Kinh Bắc đạo Giám sát Ngự sử (chức quan) Tiến công thứ lang (tản quan), Kiến Huân vệ Tráng phong trung sở quản lãnh (chức quan) Phấn lực tướng quân (tản quan).

(Theo Quan chế điển lệ 官 制 典 例 , A.56/1, tờ 5a)
Đinh Khắc Thuân sưu tầm, chú giải.

Bổ sung cho câu trả lời về danh từ lạc xoong trên KTNN 345 và danh từ l’Auction trên KTNN 357. – An Chi (Huệ Thiên)

Nhà thư tịch học kỳ cựu Đỗ Văn Anh đã có nhã ý thông báo thêm cho chúng tôi về nguồn tư liệu liên quan đến danh từ “l’Auction” mà chúng tôi đã bổ sung trên KTNN 357. Đó là một đoạn tuy ngắn nhưng rất quan trọng trong thiên chuyên khảo của Ant. Brébion nhan đề “Monographie des rues et monuments de Saigon” đăng trên hai kỳ Revue indochinoise, 10 & 11, 1911 (*). Đoạn này nằm trong trang 368 của số 10, nguyên văn tiếng Pháp như sau:
“Au no 201, rue Catinat, suy l’emplacement de l’actuel magasin de l’Omnium, don’t la construction a été achevée en 1908, se trouvait, à deux mètres en retrait de l’alignement, un assez vaste hangar vitré occupé par la Salle des Ventes saigonnaises – l’Auction – transférée là, vers 1880 pan les Commissaires – priseurs Bernard Fleith et Laplace. Il y avait ventes régulières aux enchères publiques tous les dimanches matin”.
Xin dịch như sau:
“Ở số 201 đường Catinat, tại vị trí của cửa hàng Omnium hiện nay (1911 – AC), xây cất xong năm 1908, trước kia là một cái lán hàng khá rộng lắp kính, thụt vào trong hai mét so với dãy mặt tiền, dùng làm nơi tọa lạc của Hội trường bán đấu giá Sài Gòn, cửa hàng Auction, do các ủy viên bán đấu giá Bernard Fleithe và Laplace dời đến đó vào khoảng 1880. Tại đây, sáng chủ nhật nào cũng có bán đấu giá đều đặn”.
Đoạn văn trên đây của Ant. Brébion đo ông Đỗ Văn Anh cung cấp giúp xác nhận điều mà chúng tôi đã suy đoán trên KTNN 357, rằng có thể là tại đường Catinat lúc bấy giờ từng có một cửa hàng bán đấu giá mà chủ nhân đã dùng tiếng Anh “auction” để vừa làm tên vừa chỉ hoạt động của cửa hàng. Chẳng riêng gì cửa hàng này mới được đặt tên bằng tiếng Anh mà sau khi nó dọn đi nơi khác (về sau lại có một Salle des Ventes tại đường Lagrandière, nay là Lý Tự Trọng, nhưng không biết có phải cũng chính là cửa hàng đó hay không) thì doanh nghiệp mới dọn về đó cũng được đặt tên bằng một từ tiếng Pháp gốc Anh: Vâng, Omnium là một từ Pháp gốc Anh, mượn theo nguyên dạng chính tả; danh từ tiếng Anh này bắt nguồn từ sinh cách số nhiều của tiếng La Tinh omnis, có nghĩa là “tất cả”.
Từ trên đây suy ra, quả chẳng có gì lạ nếu Hội trường bán đấu giá Sài Gòn đã được đặt tên bằng tiếng Anh “Auction”. Và việc Nguyễn Liên Phong ghi nhận trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (1909) rằng “(nhà) lạc-xoong” là do l’Auction” mà ra cùng với việc Ant. Brébion khẳng định trong Monographie des rues ét monuments de Saigon (1911) rằng tại đường Catinat đã từng có một cửa hàng mang tên “(l)Auction” hai việc đó là những bằng chứng không thể chối cãi được về nguyên từ của hai tiếng lạc-xoong. Đó là những cứ liệu “ngôn ngữ chi ngoại” (extra-linguistique) rất quan trọng và hoàn toàn bất ngờ (ít ra là cho đến hiện nay) để khẳng định điều mà có một tác giả thường nghiên cứu về từ nguyên đã bác bỏ. Tác giả này đã lập luận rằng “Về ngữ âm, l’Auction rất ít khả năng cho ra lạc xon (tức lạc-xoong – AC). Về ngữ nghĩa “bán đấu giá” (auction = bán đấu giá – AC) chỉ áp dụng cho những vật giá trị, đắt tiền, còn lạc xon chỉ dùng cho những vật rẻ, cũ”.
Xin có đôi lời nhận xét về lập luận trên đây. Trước nhất, về ngữ âm, không phải bao giờ yếu tố vay mượn cũng được phát âm y chang như tiếng gốc vì một lẽ đơn giản là nói chung thì hệ thống âm vị của ngôn ngữ đi vay mượn thường khác với hệ thống âm vị của ngôn ngữ được vay mượn. Huống chi, cũng về mặt này, cái mà người bản ngữ quan tâm khi vay mượn là cố uốn nắn các từ được vay mượn sao cho nó phù hợp với hệ thống âm vị của tiếng mẹ đẻ chứ không phải là ép tiếng mẹ đẻ của mình phải tuân theo hệ thống âm vị của ngôn ngữ được vay mượn. Dĩ nhiên đây là nói về sự vay mượn các từ ngữ diễn đạt những sự vật hoặc hiện tượng thuộc phạm vi sinh hoạt thông thường chứ không phải là thuật ngữ khoa học. Mà ngay cả thuật ngữ khoa học nhiều khi cũng bị gò theo đặc điểm ngữ âm của tiếng mẹ đẻ. Nếu cứ nhất nhất đòi “trung thành” với nguyên ngữ như tác giả kia thì làm thế nào mà infirmier có thể trở thành “phạm nhe”, cellule có thể trở thành “xà lim” và police có thể trở thành “cú lít”, v.v.
Còn xét về ngữ nghĩa thì rõ ràng là người ta không thể trông đợi vào việc ngôn ngữ vay mượn bao giờ cũng tuyệt đối theo sát cái nghĩa thông dụng của từ ngữ được vay mượn như nó vốn có trong nguyên ngữ. Xin đơn cử một thí dụ. Hẳn là chẳng có nhà từ nguyên học nào lại không thừa nhận rằng tiếng Việt xà-lách là do tiếng Pháp salade mà ra. Nhưng người Pháp lại không dùng danh từ salade để chỉ riêng thứ rau (trong Nam gọi là “cải”) mà người Việt gọi là xà-lách. Lý do là trong tiếng Pháp thì salade lại vốn có nghĩa là món ăn trộn giấm, nghĩa là món ăn gồm có một (vài) thứ rau trộn với dầu, tiêu, muối và giấm. Đây là nghĩa gốc và từ nghĩa gốc này danh từ salade mới có nghĩa phái sinh là thứ rau dùng để trộn giấm như chicorée (rau diếp xoăn), cresson (cải xoong), laitue (đây mới chánh cống là rau “xà-lách”), v.v… Rõ ràng là trong tiếng Việt thì nghĩa của hai tiếng xà-lách đã bị thu hẹp một cách tối đa để chỉ còn tồn tại một cách tối thiểu, nghĩa là chỉ còn dùng để chỉ độc một thứ mà tiếng Pháp gọi là “laitue” mà thôi. Từ điển Pháp Việt của UBKHXHVN do Lê Khả Kế làm tổng biên tập (ACCT, 1981) đã không đúng vì đã ghi và dịch như sau:
“salade. 1. xà lách, rau sống (…)”.
Dịch salade thành “xà lách” là đã thu hẹp phạm vi ngữ nghĩa mà danh từ đó vốn có trong tiếng Pháp, là đã vô hình trung Việt hóa danh từ salade vì chỉ ấn định cho nó có cái nghĩa duy nhất là “laitue” (= xà lách) mà thôi. Dịch salade thành “rau sống” thì, ngược lại, là đã mở rộng phạm vi ngữ nghĩa của nó một cách vô giới hạn, nghĩa là vô nguyên tắc: có phải bất cứ thứ rau sống nào cũng được người Pháp gọi là salade đâu và rốt cuộc thì cái nghĩa gốc của danh từ salade (món rau trộn giấm) trong tiếng Pháp đã bị các nhà biên soạn của quyển từ điển trên đây… “đánh rơi”.
Sở dĩ chúng tôi phải dài dòng như trên chẳng qua chỉ là để khẳng định điều quan trọng sau đây: Trong nhiều trường hợp, người ta không thể trông chờ người bình dân theo sát cái nghĩa vốn có trong nguyên ngữ của từ ngữ được vay mượn, đến các nhà trí thức biên soạn từ điển có khi cũng còn không theo sát nữa là…
Trở lại với danh từ “auction”, xin nhấn mạnh rằng không có gì lạ nếu nó vốn “chỉ áp dụng cho những vật giá trị, đắt tiền” mà cuối cùng lại “dùng cho những vật rẻ, cũ” vì cái lý do tối quan trọng đã nói ở trên. Huống chi ở đây người bình dân lại còn có một lý do tối quan trọng khác nữa của họ. Họ thấy các món hàng bán đấu giá và đồ lạc xoong cùng có một đặc điểm chung là đồ cũ nghĩa là đồ đã được dùng qua (hàng bán đấu giá cũng là đồ cũ đấy chứ). Vậy họ có đầy đủ lý do chính đáng để xài hai tiếng lạc-xoong theo ẩn dụ mà chỉ các món hàng đã xài qua nay được đem ra bán theo giả có trừ tỷ lệ hao mòn, như đã nói trên KTNN 345.
Thực ra, trên đây cũng chỉ là nói cho… cùng kỳ lý, chứ riêng cứ liệu của Nguyễn Liên Phong trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca và cứ liệu của Anh. Brébion trong Monographie des rues et monuments de Saigon tự chúng cũng đã là những điều kiện cần và đủ để khẳng định một cách dứt khoát rằng nguyên từ của hai tiếng lạc xoong chính và chỉ là danh từ “l’Auction” mà thôi. Tiếc rằng học giả Vương Hồng Sến, được xem là quyển từ điển sống về cổ tích và cổ tịch của đất Sài Gòn và học giả Lê Ngọc Trụ, nhà từ nguyên học kỳ cựu, đều đã không phát hiện được các cứ liệu trên đây nên cũng đã giải thích sai về xuất xứ của hai tiếng lạc-xoong.
Một lần nữa, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn ông Đỗ Văn Anh đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu thú vị và bổ ích. Không có những tư liệu này, chắc là người ta sẽ còn lạc bước lâu hơn và xa hơn trong việc truy tầm từ nguyên của hai tiếng lạc-xoong.

* Xuất xứ của thiên chuyên khảo này lại được Sơn Nam ghi như sau: “Revue Indochinoise, q.XVI, tháng 7-12 năm 1911. (Bến Nghé xưa, Nxb Văn nghệ TP.HCM, 1981, tr.88, chth. số 16).


Nguồn: Bách Khoa Tri Thức

Nguồn gốc của hai tiếng “lạc-xoong”. Đồ lạc – xoong thực chất là đồ gì? – An Chi (Huệ Thiên)

Độc giả: Xin cho biết nguồn gốc của hai tiếng “lạc-xoong”. Đồ lạc – xoong thực chất là đồ gì?
An Chi: Về nguồn gốc của hai tiếng lạc-xoong, có người đã cho rằng lạc xon (theo cách viết của tác giả này – AC) là một tổ hợp đẳng lập (tức là tổ hợp gồm hai yếu tố đồng nghĩa hoặc gần nghĩa) gồm có lạc là một từ Hán Việt và xoong là một từ gốc Ấn – Âu. Lạc ở đây, theo ông, có nghĩa là “rơi, rớt, rụng” như có thể thấy trong từ tổ lạc giá, có nghĩa là “rớt giá”, tức hạ giá, giá rẻ. Còn xon cũng theo ông, là một từ gốc Pháp bắt nguồn ở danh từ solde trong en solde mà ông đã căn cứ vào Dicionnaire françai – Vetnamien do Lê Khả Kế làm tổng biên tập để dịch là “bán xon, bán hạ giá”.
Tác giả này đã làm một cuộc xe duyên “đẳng lập” nhưng rất tiếc rằng lạc và xon không phải là từ vì chỉ là hai âm tiết vô nghĩa dùng để phiên âm mà thôi. Huống chi, nếu có là những từ đích thực thì lạc cũng không thể gần nghĩa với xon được. Lạc là “rơi, rớt, rụng” còn xon lại là hàng hạ giá (“rớt giá”) nên chỉ có từ tổ lạc giá mới gần nghĩa với xon mà thôi.
Như vậy khó có thể chấp nhận lạc xon là một tổ hợp đẳng lập.
Điểm thứ hai là dù cho tác giả có viết âm tiết thứ hai của từ lạc-xoong trong đồ lạc-xoong thành “xon” nhưng hễ đã là dân Sài Gòn cố cựu, kể cả người Trung lẫn người Bắc thì ai cũng nói thành  chứ không bao giờ nói thành . Ngược lại, đối với chữ “xon” trong “đồ xon” thì ngay cả dân Sài Gòn gốc Nam Kỳ chánh cống cũng luôn luôn phát âm thành  chứ không bao giờ “ngờ” hóa phụ âm cuối “nờ” của nó (nghĩa à biến [n] thành [ŋ] mà đọc thành . Sở dĩ họ làm như thế là vì trong ý thức của họ, cũng như trong thực tế, đồ lạc-xoong và đồ xon là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Vâng, ai có ở tại Sài Gòn lâu năm cũng biết rằng:
– Đồ lạc xoong có trước đồ xon rất lâu (ít nhất là vài thập kỷ) vì mãi đến giữa thập kỷ 1950 thì đồ xon mới “đổ bộ” xuống lề đường Bonard (nay là Lê Lợi, Q.1) và Rue des Marins (nay là Trần Hưng Đạo, Q5), đoạn từ Jaccaréo (nay là Tản Đà) đổ về Tổng đốc Phương (nay là Châu Văn Liêm).
– Đồ lạc xoong là đồ đã xài rồi còn đồ xon là đồ chưa ai xài đến trước khi đem ra bán.
– Đồ lạc-xoong có thể nằm trong tiệm từ năm này sang năm khác mà không khiến cho chủ tiệm phải lo lắng chứ đồ xon thì hễ đã tung ra thị trường là để lấy lại vốn cho nhanh chóng mà thường thì thiên hạ cũng chen nhau mua… ào ào nên chẳng mấy chốc mà hết (dĩ nhiên cũng có khi ế).
Đồ lạc xoong nói chung là đồ từng món (vì thế nên Vương Hồng Sển mới viết trong tự vị tiếng Việt miền Nam rằng “nhiều khi với mắt tinh đời, sẽ gặp đồ cổ quí, Minh, Khang Hi, ẩn tàng trong đám bạc son chợ trời”) còn đồ son thì nói chung là đồ cùng loại và cùng mẫu mã đem bán hàng loạt.
Đồ lạc xoong không phải là đồ hạ giá mà chỉ đồ bán theo giá có trừ tỉ lệ hao mòn do đã sử dụng (nhưng đó chỉ là nói chung chứ có thứ rất đắt vì là hàng độc đắc”) còn đồ xon thì mới chánh cống là đồ hạ giá vì hàng tuy vẫn mới nhưng lại bán theo giá thấp hơn giá đã định ban đầu để thanh toán cái stock cũ cho mau lẹ (stock: lượng hàng đang có).
Tóm lại, đồ lạc-xoong không phải là đồ hạ giá càng không phải là đồ xon. Về phương thức bán xon; để minh họa thêm, chúng tôi xin trích dẫn bài ghi nhanh của Thanh Hà nhan đề “Hàng xon Hà Nội” đăng trên trang 3 của báo Tuổi trẻ ngày 27.1.2000: “Bán xon không còn lạ với người Sài Gòn, song với dân Hà Nội chợ xon mới mọc được xem là “sự kiện” với nhiều ngỡ ngàng, lạ lẫm. Từ ba tối nay khu phố Hàng Đào, Hàng Ngang bỗng trở nên tấp nập, ồn ào đến tắc đường với những đống hàng bán xon. Trên vỉa hè, cứ cách vài mét lại có một tấm biển viết vội trên giấy các tông “đại hạ giá” “đại đại hạ giá” gắn tạm trên gốc cây, cánh cửa, cột đèn, còn bên dưới là quần áo đồ len, túi xách; rồi đồng hồ đeo tay loại rẻ tiền, cặp tóc, vớ, găng tay (…) Hàng bán đổ đống hoặc chất trên ghế xếp, khách thoải mái tự bới chọn (…) và (theo lời một người bán hàng – AC) trong mấy ngày bán hạ giá, vợ chồng anh đã “đẩy” được quá nửa lô hàng ế, bằng bán cả mấy tháng trời trong tiệm”.
Đấy, đồ xon và phương thức bán xon đại để là như thế. Còn bây giờ, xin nói thêm đôi chút về đồ lạc-xoong rồi trở lại với hai tiếng lạc xoong. Chủ tiệm lạc-xoong chánh tông (có môn bài hẳn hoi) trước đây, đặc biệt là 1954, đều là người Hoa (do đó mới có mấy tiếng “chệch lạc-xoong” thuộc bang phước Kiến, chí thú làm ăn mà cũng rất “chịu chơi” trong nghề mua bán đồ cũ. Một chủ tiệm lạc-xoong đã từng “rinh” cả một cái nồi súp-de của đầu máy xe lửa về kho hàng của mình để “chờ giá”, chứ chẳng cần vội vàng (cho nên nói rằng đồ lạc xoong là đồ hạ giá thì kể như là chỉ mới biết sơ sơ về thứ đồ này mà thôi).
(KTNN 357 10-7-2000). Vậy thì đâu là nguồn gốc của hai tiếng “lạc-xoong” Ông Đỗ Văn Anh, nhà thư tịch học kỳ cựu của Sài Gòn, đã có nhã ý thông báo cho chúng tôi rằng xuất xứ của hai tiếng này đã được ghi chú rõ ràng trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong, cuốn thứ nhất, do phát Toán Libraire – Imprimeur ấn hành tại Sài Gòn năm 1909. Lời ghi chú đó nằm trong đoạn lục bát sau đây:
Chực đường cớ trẻ cu-li (coolie)
Kêu đâu sẳng đó đem đi lẹ làng.
Lớp thời xuống bến Nam-vang,
Lớp qua Khánh Hội, lớp sang Nhà Rồng.
Lớp xe về lối ngoài trong,
Lớp đi theo dõi mấy ông dọn nhà.
Nhà-in, nhà-thuốc, nhà-chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà Lạc-xon (l’auction)
(Sđd, tr.30)

Lạc-xon chính là lạc-xoong và đấy cũng chính là âm của từ l’auction mà Nguyễn Liên Phong đã có công ghi lại cho ta một cách rạch ròi. Đoạn lục bát trên đây nói về đường Catinat. Có thể là lúc bấy giờ trên con đường này đã có một cửa hàng bán đấu giá mà chủ nhân lấy tên bằng tiếng Anh auction (sự bán đấu giá). Người Pháp đã giữ nguyên dạng mà thêm quán từ vào thành l’auction rồi người Việt Nam thì phát âm thành lạc-xoong. Lạc-xoong ban đầu là cửa hàng bán đấu giá. Về sau người ta mới dùng hai tiếng này theo nghĩa hiện hành và sự chuyển nghĩa này không phải là chuyện không thể giải thích được.


Nguồn: Bách Khoa Tri Thức