Ria ghi đông hình dáng ra sao?

Râu/Ria ghi đông là bộ râu/ria mép dài và cong như cái cần/tay lái xe đạp. Người Pháp gọi kiểu râu này là moustache en guidon. Người Việt dịch là ria ghi đông.
* Cách mươi hôm sau, quan chánh đi khám, theo hầu có đủ viên chức lý dịch thêm cả bác cai-tuần nước da bánh-mật , bộ râu ghi-đông (guidon) nữa. Tri Tân Tạp Chí số 185-186 (1945:15, Tiên-Đàm)
 Có người râu tự nhiên ra như thế. Có người phải dùng sáp bôi râu (cire à moustache) để tạo dáng cho bộ râu.
* Trên mép lơ-thơ hai khóm râu tôm mà ngài đã vuốt sáp cho nó cong lên như cái “ghi-đông” xe đạp, để lộ hẳn ra một cặp môi thâm sĩ đi đôi với hai con mắt trắng rã của ngài, để biểu dương cho mọi người biết cái tính-nết của ngài là thế nào vậy. Nam Phong Tạp Chí số 195 (1934:308, Lê Đức Nhượng)
Râu/Ria này rất phổ biến trong giới quân nhân Anh cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nhưng nay ít người bỏ công nuôi râu/ria ghi đông vì bất tiện quá, không phù hợp với sinh hoạt hiện đại.
Từ ghi đông có lúc bị lên án, khai trừ khỏi vốn từ tiếng Việt cùng hàng loạt từ mượn âm Pháp:
* Tại sao cứ phải nói « juýp », « phờ-ri-dê », « súng đui-xết », « ảnh đờ-mi co, cát-xít », « máy bay B vanh nớp », « pu-lô-vơ », « ghi-đông », « gác-đờ-bu » v.v… mà không dùng: váy, uốn tóc, súng 12 ly 7, ảnh nửa mình, bốn sáu, máy bay B hăm chín, áo len cộc tay, tay lái, cái chắn bùn… ? Tập San Nghiên Cứu Văn Sử Địa số 26 (1957:68, Hồng Giao)
Hồng Giao chính là Nguyễn Kim Thản, năm 1957 vừa từ Trung Quốc trở về, giảng dạy ở khoa Ngữ Văn, Đại Học Tổng Hợp Hà Nội.
Ghi đông xe đạp thành tay lái xe đạp, nhưng râu/ria ghi đông không thành râu/ria tay lái được. Bản thân từ ghi đông gần bốn mươi năm sau lại được Nguyễn Kim Thản (2005 :654) cho vào Từ Điển Tiếng Việt !  

Văn miếu 文庙 = The Temple of Literature? (bổn cũ đê!!) – Nguyễn Tuấn Cường

Văn miếu 文庙 = The Temple of Literature? (bổn cũ đê!!)

PHIẾM ĐÀM CHUYỆN

DỊCH CHỮ VĂN MIẾU RA TIẾNG TÂY

Tương Quân

Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội là cái tên đã gắn liền với những chứng tích lịch sử văn hoá và giáo dục truyền thống của Việt Nam thời trung đại. Từ khi nhà Lí dựng Văn miếu (1070) thờ Khổng tử và xây Quốc tử giám (1076) để tuyên truyền và thực thi giáo dục Nho học, cho đến ngày 15/5/1919 khi khoa thi Hội cuối cùng của Việt Nam được tổ chức tại Huế, thì Văn miếu – Quốc tử giám Hà Nội (dù trong đời Nguyễn, Văn miếu được dời theo kinh đô vào Huế, và đổi tên thành Văn Thánh miếu) đã trở thành một “thánh địa” đích thực của sĩ phu Nho học Đại Việt. Hãy cứ đọc nội dung những câu đối, đại tự, hoành phi, văn bia… trong khu di tích này, ta cũng đủ biết “thánh địa” ấy thiêng liêng như thế nào. Xin hãy xem câu đối ở Tả bi đình (dù hiện nay nó bị đắp ngược hai chữ ngoại vọng 外望 thành vọng ngoại 望外 (hic!); còn câu đối ở Hữu bi đình thì bố trí lộn vị trí hai vế (re-hic!)):

科甲中来名不朽,
宫墙外望道弥尊。 
Khoa giáp trung lai danh bất hủ,
Cung tường ngoại vọng đạo di tôn.
  

(Những người xuất thân trong hàng khoa giáp đỗ đạt thì danh tiếng mãi không nát. Từ ngoài nhà học ngóng vào bên trong, thấy đạo của Khổng tử càng cao vợi)

Nếu muốn trang bị một tri thức tối thiếu về Văn miếu, thì có lẽ điều đầu tiên ta cần biết là ý nghĩa của tên gọi này. Có gì đâu: văn 文 là văn chương, văn học; miếu 庙 là nơi thờ cúng, đền thờ; vậy Văn miếu 文庙 nghĩa là miếu thờ văn chương (hay văn học)! Cứ luận thế đương nhiên sẽ dẫn ta đến việc dịch hai chữ Văn miếu sang tiếng Tây là The Temple of Literature (Anh) và le Temple de la Littérature (Pháp), y chang cách dịch trong tấm biển đồng lược giới về Văn miếu –Quốc tử giám Hà Nội hiện chôn ngay trước cổng khu di tích, cũng như trong nhiều sách vở tài liệu giới thiệu cho du khách nước ngoài về khu di tích lịch sử văn hoá này (xem ảnh).

Cách dịch trên thật đơn giản, dễ hiểu, dễ giải thích. Chỉ có điều là sai!

Sai thế nào? Trước hết xin điểm dịch một số tư liệu sách vở đáng tin cậy của Trung Quốc, dẫn dụng các mục từ liên quan đến hai chữ Văn miếu 文庙. Để giản tiện, xin lược đi phần phiên âm Hán Việt.

Hán ngữ đại từ điển (La Trúc Phong chủ biên, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1997) thu thập 11 nghĩa của chữ miếu 庙, trong đó nghĩa đầu tiên cũng là nghĩa mà chúng ta đang bàn tới: “Cái nhà thời xưa dùng để thờ cúng thần vị tổ tiên (tập thượng, tr. 1982). “Văn miếu: Miếu thờ Khổng tử. Triều Đường phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, gọi miếu thờ ông là Văn Tuyên Vương miếu 文宣王庙. Từ đời Nguyên – Minh về sau gọi tắt là Văn miếu 文庙” (tập trung, tr. 4034).

Hán – Anh đại từ điển (Chinese – English Dictionary) (Ngô Quang Hoa chủ biên, Thượng Hải Giao thông đại học xuất bản xã, 1999, tập I, tr. 1771) cắt nghĩa chữ miếu bằng tiếng Trung Quốc là “Nơi khi xưa dùng để thờ cúng thần vị tổ tông, hoặc thần phật, danh nhân lịch sử”; và dịch ra tiếng Anh là “temple; shrine; joss house”. Ngay tại mục từ này cũng giải nghĩa: “Khổng miếu: a temple to Confucius” (Khổng miếu: miếu thờ Khổng tử).

Từ nguyên (Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, 1998, tr. 737) ghi: “Văn miếu: miếu thờ Khổng tử. Đời Đường, niên hiệu Khai Nguyên, năm thứ hai mươi bảy [739] phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, gọi Khổng miếu孔庙 là Văn Tuyên Vương miếu. […] Từ đời Nguyên – Minh về sau thường gọi là Văn miếu”.

Từ hải (Hạ Chính Nông chủ biên, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1989, tr. 1732) ghi: “Văn miếu: Tên gọi khác của Khổng miếu. Thời Đường Huyền Tông, năm Khai Nguyên thứ hai mươi bảy (Công Nguyên 739) phong Khổng tử làm Văn Tuyên Vương, nhân đó gọi Khổng miếu là Văn Tuyên Vương miếu, từ đời Minh về sau gọi Khổng miếu là Văn miếu để đối ứng vớiVũ miếu (miếu thờ Quan Vũ, Nhạc Phi)” (hết trích). Ta biết rằng thời Minh – Thanh gọi miếu thờ Quan Vũ là Vũ miếu 武庙 (hai chữ  viết mặt chữ Hán khác nhau,  羽 trong Quan Vũ 关羽 nghĩa là cái lông, Vũ 武 trong Vũ miếu武庙 nghĩa là võ nghệ), đến thời Dân Quốc phối thờ Quan Vũ và Nhạc Phi chung một miếu, vẫn gọi là Vũ miếu.

Nhân đây thiết tưởng cũng nên giãi bày thêm đôi điều sở đắc, một về “chữ” Confucius, một về “nghĩa” của chữ văn 文.

Thứ nhất là chữ Tây Confucius, chữ này vốn xuất phát từ âm đọc ba chữ Hán “Khổng phu tử” 孔夫子 (Thầy Khổng), âm tiếng phổ thông hiện đại ngày nay đọc là /Kongfuzi/ ghi theo lối pinyin (cách chú âm chữ Hán bằng mẫu tự Latin, được chính thức sử dụng từ năm 1958 tại Trung Quốc, ở đây không ghi thanh điệu), ta đọc na ná như “k’ủng-phu-chử” trong tiếng Việt (với âm /k’/ bật hơi). Người phương Tây do không thể có hệ thống ngữ âm tương ứng tuyệt đối để biểu đạt ba âm tiết ấy, nên họ đã “Tây hoá” nó qua cách ghi “Con – fu – cius” (như trong Anh ngữ), nghĩa là Khổng tử 孔子. Rồi từ đó, căn cứ theo các phương thức tạo từ mới, một loạt từ phái sinh đã xuất hiện: Confucianism (Nho giáo, Khổng học, Khổng giáo, đạo Khổng, đạo Nho);Confucian hoặc Confucianist (Nho gia, nhà Nho, người theo đạo Khổng; thuộc về đạo Khổng/Nho); Neo-confucianism: tân Khổng giáo, tân Nho giáo. Tiếng Pháp cũng có những từ tương ứng: Confucius, Confucianisme, ConfucianisteNéoconfucianisme.

Thứ hai là hàm nghĩa của chữ Văn 文 trong Văn Tuyên Vương 文宣王. Khổng tử được triều Đường phong là Văn Tuyên Vương = Người có tước Vương, có công tuyên truyền cái văn. Vậy Văn có phải là Literature Littérature như cách dịch tên gọi Văn miếu đang dùng ở ta? Xin thưa: không! Chữ Văn này có nội hàm rất rộng, bắt nguồn từ một ý trong sáchLuận ngữ, thiên Tử hãn: “Khổng tử bị người đất Khuông làm cho sợ hãi. Ngài nói: Văn vương đã mất, cái “văn” này chẳng phải ở trong ta hay sao? Nếu trời định làm mất cái “văn” ấy thì kẻ chết sau này không được dự vào cái “văn” ấy. Nếu trời chưa định làm mất nó thì người Khuông phỏng có làm gì nổi ta?”. Chữ “văn” 文 trong đoạn trên trỏ toàn bộ “lễ nhạc giáo hoá, điển chương chế độ (Hán ngữ đại từ điển, đã dẫn, tập trung, tr. 3832), tức tất thảy những hiến chương pháp độ được sử dụng để cai trị xã hội, vậy thì nội hàm của chữ Văn này rộng hơn hẳn so với các từ Literature và Littérature trong tiếng Anh và tiếng Pháp vốn chỉ mang những nghĩa hẹp hơn: văn chương, văn học, văn giới, tư liệu (tham khảo), ấn phẩm, nhạc tập, học vấn… (Literature  Littérature đều bắt nguồn từ litera tiếng Latin, nghĩa gốc là văn tự – xem Webster’s New Dictionary, Promotional Sales Books, USA, 1994, tr. 228). Sau khi Chu công Đán mất, Khổng tử được coi là người truyền bá cái Văn ấy, nên ông được Đường Huyền Tông phong làm “Văn Tuyên Vương”. Điều này cũng minh chứng rằng giả như theo lối “trực dịch” (word by word, mot à mot) mà dịch Văn miếu thành The Temple of Literature và le Temple de la Littérature thì vô hình trung đã thu hẹp nội hàm vốn rất rộng của khái niệm Văn như vừa nói. Ngay tại Đại Bái đườngtrong Văn miếu Hà Nội hiện vẫn còn treo bức hoành phi đề ba chữ “Phúc tư văn” (cái “văn” này phúc thay!).

Đến đây có thể thấy:

1. Miếu 庙 là nơi/nhà thờ cúng thần vị tổ tông, hoặc thần phật, hay danh nhân lịch sử. Khổng tử là một “thánh nhân” (theo lối gọi của nhà Nho truyền thống), một danh nhân lịch sử, một nhân vật tối quan trọng đối với văn hoá truyền thống Trung Hoa,thậm chí cả với các nước khu vực “đồng văn”, vì vậy ông hoàn toàn xứng đáng được đưa vào thờ phụng trong miếu nhằm biểu chương cái đạo của “thánh nhân”.

2. Năm Khai Nguyên thứ hai mươi bảy đời Đường Minh Hoàng (739), Khổng tử được phong là Văn Tuyên Vương, nên miếu thờ ông cũng gọi làVăn Tuyên Vương miếu 文宣王庙. Đến khoảng thời Nguyên – Minh, vừa để gọi tắt, vừa để đối trọng với Vũ miếu (Văn – Vũ), nên Văn Tuyên Vương miếuđược gọi tắt là Văn miếu 文庙.

Như vậy, hai chữ Văn miếu ở dạng đầy đủ phải là Văn Tuyên Vương miếu (Miếu thờ ông tước Vương, có công tuyên truyền cái “văn” – tức Khổng tử), đây là những tên gọi khác của Khổng miếu 孔庙 (miếu thờ Khổng tử). Nếu buộc phải dịch tên gọi Văn miếu thì thiết tưởng nên dùng chữ AnhTemple of Confucius, hoặc “Confucius temple” (Hán – Anh đại từ điển, đã dẫn, tr. 2671, in nhầm là Confucious temple), hay tiếng Pháp là Temple de Confucius, giống như cách hiểu và dịch hai chữ Khổng miếu. Hiện ở Đài Loan cũng dùng tên gọi Khổng miếu, hẳn là để tránh việc hiểu nhầm khái niệm (Văn) như ở ta.

Văn miếu Hà Nội là một sản phẩm văn hoá của Việt Nam, mặc dù ai cũng biết tới cái nguồn gốc ngoại lai của nó. Tuy nhiên, như có người đã nói,Văn miếu của ta cho dù không thể không phỏng theo Trung Quốc, nhưng sự khác biệt giữa hai Văn miếu là rất lớn: Văn miếu của ta không chỉ là một nhà quốc tế, mà còn là một nhà quốc học khi chưa lập Quốc tử giám; bố cục kiến trúc có nét riêng Đại Việt chứ không hoàn toàn rập khuôn theo Tàu… (cụ thể xin xem: Đỗ Văn Ninh, Văn bia Quốc tử giám Hà Nội, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2000, tr.32 – 33). Đã là một sản phẩm văn hoá của dân tộc thì trộm nghĩ, ta nên giữ tên gọi Văn miếu (Van mieu), không nhất thiết cứ hễ thấy bằng tiếng Việt là nhăm nhe dịch sang tiếng này tiếng nọ, hoặc giả chỉ nên đóng mở ngoặc đơn mà cắt nghĩa bằng ngoại văn ở lần đầu xuất hiện khái niệm mà thôi, còn ông Tây bà đầm nào có nhã hứng tìm tòi thêm thì khắc tự mày mò. Kinh nghiệm cho thấy, nếu không giữ tên gọi Ao dai, mà cứ hăm hở dịch thành Vietnamese (long) dress hay gì gì đi nữa, thì cái áo dài truyền thống của các bà các chị nhà ta hẳn đến bây giờ vẫn còn nằm ngoài vùng hiểu biết của tứ hải huynh đệ.

Nếu không sai, thì việc gì mà phải sửa! Nếu sửa mà tốt hơn thì mất gì mà không làm! Nhưng biết và nhận là mình sai lại không đơn giản chút nào! Còn sửa thì dễ thôi, chẳng tốn kém là bao!

Hà Nội, ngày 22/9/2005

Tương Quân

(Phụ chú: bài đã đăng trên Tạp Chí Tia Sáng, số 14/2005 (ra ngày 20/10/2005), trang 5 – 7 với nhan đề Dịch hai chữ Văn Miếu ra tiếng Tây; có phần Đính chính tại số 15/2005 (ra ngày 5/11/2005), trang 5. Ban biên tập Tia sáng đã đổi nhan đề bài viết và cắt bớt một số phần bài viết. Đây là nguyên văn bài viết của tác giả, có bổ sung chữ Hán.)

ĐỒNG KHÁNH, ĐỊA DƯ VÀ VIỆC BÓC TÁCH CÁC LỚP ĐỊA DANH TRIỀU NGUYỄN – Ngô Đức Thọ

51 . Đồng Khánh địa dư và việc bóc tách các lớp địa danh triều Nguyễn (TBHNH 1998)
Cập nhật lúc 18h16, ngày 26/09/2007

NGÔ ĐỨC THỌ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1. Để thực hiện chủ quyền quốc gia trên toàn lãnh thổ, các nước trên thế giới nói chung đều thực hiện quản lý nhà nước theo một hệ thống địa danh bao gồm những địa danh có tính pháp định và những địa danh do người địa phương quen dùng. Địa danh nói chung bao gồm cả tên núi, tên sông, tên cầu đường, bến đò, cửa biển, các trạm tuần tra kiểm soát v.v… Nhưng đặc biệt quan trọng là hệ thống địa danh hành chính gắn liền với từng vùng lãnh thổ do nhà nước hoạch định. Tuy nhiên, do sự hình thành mới của các khu dân cư, các khu vực sản xuất nông lâm ngư nghiệp – nói chung là do sự phát triển của kinh tế, văn hóa và do yêu cầu khác của chính trị, quân sự v.v.., sau một thời gian nhất định những đơn vị hành chính đó thường có những thay đổi hoặc hoạch định lại. Sự thay đổi càng nhiều, thời gian dồn lại càng lâu xa thì việc nghiên cứu xác định các địa danh trong lịch sử càng trở nên khó khăn, phức tạp.
Không ngoài thông lệ chung, các lớp địa danh trong lịch sử nước ta trải qua các triều đại từ Ngô, Đinh, Tiền Lê… cho đến triều Nguyễn cũng đã thay đổi rất nhiều lần. Từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay mới hơn 50 năm mà các địa danh cũng nhiều thay đổi. Còn phải kể thêm các lần sửa đổi địa danh ở các tỉnh Bắc Bộ và Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc và các tỉnh miền Nam dưới thời chính quyền Sài Gòn.
Tình hình đó khiến cho việc nghiên cứu lịch sử chung của dân tộc cũng như lịch sử các địa phương, các chuyên ngành (kể cả chuyên ngành quân sự học, lịch sử ngoại giao v.v…) gặp rất nhiều khó khăn. Khi gặp các địa danh cổ xưa, ngôài một số ít được biết chính xác hoặc may mắn tra cứu được, người nghiên cứu phần nhiều đành chịu bỏ trống việc xác định địa danh.
Vì lý do đó, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài từ trước đến nay đã có những cố gắng bền bỉ có thể phát biểu trên các tạp chí khoa học, trong các công trình liên quan về một hoặc một số vấn đề địa danh học Việt Nam. Gần đây cũng đã xuất hiện một vài cuốn như Từ điển địa danh Hà Nội hoặc Sổ tay địa danh Việt Nam. Những sách như vậy nói chung rất có ích cho công việc chung, nhưng một mặt khác nói lên sự cần thiết phải có một công trình khoa học ở tầm cỡ quốc gia mới có thể đáp ứng được yêu cầu tra cứu hiện nay cũng như cho nhiều thế hệ sau nữa. Chúng ta đang cố gắng làm tất cả những gì để gìn giữ truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không có một vấn đề nào của nó lại không gắn liền với hai đối tượng là đất nước con người. Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có thể làm được, qua nghiên cứu để đi đến những nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn, sâu sắc và khoa học hơn về 2 đối tượng đó đều là hết sức cần thiết để thực hiện đường lối xây dựng văn hóa như Nghị quyết 5 của TƯ Đảng đã định hướng. Vì vậy tôi rất tán thành chủ trương của Viện trong thời gian tới sẽ tổ chức biên soạn Từ điển địa danh Việt Nam như đã được nêu lên trong lời phát biểu của Tân Viện trưởng và hy vọng việc chuẩn bị sớm hoàn tất để có thể bắt tay thực hiện công trình.
2a. Hiện nay có thuận lợi là Viện ta đang thực hiện công trình dịch chú để xuất bản bộ sách Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí.
Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí (ĐKĐD) là một công trình địa lý học rất đồ sộ và có giá trị nhiều mặt, nhưng đến nay chúng ta mới có điều kiện tổ chức dịch thuật, chú giải và sẽ chính thức xuất bản lần đầu cùng với toàn văn chữ Hán và đầy đủ 314 bản đồ màu. Học giả Việt Nam chú ý sớm nhất và khai thác rất có hiệu quả ĐKĐD thì phải kể đến Nguyễn Văn Huyên trong cuốn Địa lý hành chính Bắc Ninh, nhưng sách này chỉ mới được công bố vào năm ngoái, trong khi đó thì GS Hà Văn Tấn hơn 30 năm trước đã tham khảo sử dụng nhiều tư liệu trong ĐKĐD trong khi thực hiện công trình chú giải Ức Trai Dư địa chí.
Năm 1970, trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm T.1, tuy không có mục riêng cho ĐKĐD nhưng cố học giả Trần Văn Giáp đã có một đoạn nói về sách này khi liên hệ với các tài liệu sau Đại Nam nhất thống chí. Trần Văn Giáp đã dẫn tư liệu trong Đại Nam thực lục ghi việc về tháng 4 năm Đồng Khánh thứ 2 (5-1887):
“疆 界 彙 編 書 成 ( 凡 七 卷 并 圖 一 幅 ) 准 董 理 黃 有 秤 實 授 吏 部 侍 郎 銜… 尋 准 有 秤 充 國 史 館 纂 修”
Cương giới vựng biên như thành (phàm thất quyển, tịnh đồ nhất bức). Chuẩn Đổng lý Hoàng Hữu Xứng thực thụ Lại bộ thị lang hàm… Tầm chuẩn Hữu Xứng sung Quốc sử quán toản tu/ Sách Cương giới vựng biên làm xong (gồm 7 quyển và 1 bức vẽ bản đồ). Chuẩn cho Đổng lý Hoàng Hữu Xứng được thực thụ hàm Thị lang bộ Lại… Sau chuẩn cho Hững Xứng làm Toản tu Quốc sử quán” (Đệ lục kỷ, q.6) Không thấy nói gì thêm về việc Sử quán biên soạn sách ĐKĐD. Nhưng sau khi hoàn thành bộ Đại Nam cương giới vựng biên, cả Hoàng Hữu Xứng và tập thể biên soạn được ban thưởng như Thục lục đã ghi, Hoàng Hữu Xứng được sung chức Toản tu ở Sử quán thì việc Hoàng Hữu Xứng được giao trách nhiệm thực hiện công trình này là một điều hợp lý. Công trình biên soạn này, như tên sách đầy đủ được ghi đầu mỗi tập là: 同 慶 敕 製 御 覽 地 輿 志 Đồng Khánh sắc chế…, nghĩa là vua Đồng Khánh sai làm, tức là một công việc rất quan trọng, nhưng Thực lục, bỏ sót không ghi thì phải coi là một thiếu sót. Nhưng lúc đó bộ sách chỉ mới được giao nhiệm vụ biên soạn, và theo cách chép Thực lục có thể nghĩ rằng đến khi sách hoàn thành sẽ truy ghi các chi tiết về sự khởi đầu. Nhưng bấy giờ là thời buổi “quốc phá gia vọng”, nhưng trang cuối cùng của bộ Thực lục triều Nguyễn cũng khép lại vào giai đoạn này. Sau đó các sách vở giấy tờ của triều đình thất tán mất mát dần, mười phần không còn một, thì nhưng chỉ dụ, tấu văn, thư khải liên quan đến bộ sách này tuy vẫn còn hy vọng phần nào nhưng cũng rất ít khả năng tìm lại được.
Nguyên bản chép tay ĐKĐD gồm 27 tập được lưu trữ tại Nội các triều Nguyễn. Chính với nguyên bản đó mà khoảng những năm đầu thế kỷ XX (chưa rõ chính xác vào năm nào), Viện Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội đã được phép mượn tổ chức sao chép ra bản A.577 hiện lưu giữ tại Viện Hán Nôm nhưng chúng ta đã biết. Còn số phận bản gốc của triều đình Huế như thế nào thì hiện còn chưa rõ. Tuy nhiên quâ thông tin mà tôi theo dõi được bản ấy vẫn được an toàn trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến 1947 mà đến năm 1967 vẫn hiện diện ở Đà Lạt: Đó là năm Tiến sĩ Muriel Texier đã được đọc nó trong kho tài liệu của triều đình Huế do chính quyền Sài Gòn di chuyển từ Huế vào(1). Không rõ nó có bị mất mát trong các lần di chuyền từ 1975 đến nay hay còn được lưu giữ ở đâu đó mà chúng tôi chưa được biết. Có lần, nghe có tin ĐKĐD hiện diện ở Ôxtralia, bằng con đường thư điện tử trên Internet, tôi đã liên hệ hỏi Tiến sĩ Andrew Goseling và đã có phúc đáp là ở Ôxtralia không có sách ấy. Trong khi chờ đợi, tôi mong quý vị gần xa mách bảo cho những tin tức nếu có về bộ bản gốc sách này.
Học giả nước ngoài thì sau các nhà nghiên cứu ở VĐBC đến các học giả Nhật Bản. Từ năm 1933 (Chiêu Hòa 8) người phụ trách Đông Dương văn khố (Toyo Bunko) ở Tokyo Nhật Bản, qua các bài viết của Matsumoto, đã biết được những thông tin về bộ sách mà họ lập tức đánh giá ngay là “có vai trò cực kỳ quan trọng” này. Qua nhiều liên hệ với E.Gaspardone, Codès, cuối cùng đến năm Chiêu Hòa 13 (1938) họ đã thực hiện được việc nhờ một số người thạo việc tại Hà Nội sao chép cho đầy đủ một bản sao ĐKĐD từ bản A.577. Riêng về phần các bản đồ thì việc sao chép có thể là không được thành công lắm, cho nên họ đã phải trở lại Hà Nội để đề nghị cho chụp ảnh bằng bản kính. Bản kính chụp tốt, nhưng vì kỹ thuật đương thời không chụp được ảnh màu, nên người Nhật vẫn rất lấy làm tiếc về việc đó. Vài năm sau khi Toyo Bunko có được bản sao, họ đã tính đến việc xuất bản nguyên văn ĐKĐD. Và 2-1945, chỉ mấy tháng trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lấn thứ II bộ ĐKĐD đã được xuất bản bằng nguyên văn tại Tokyo. Riêng các bản đồ được tách sthành phần riêng gồm 2 sách (Thượng, Hạ), khổ 20 x 24cm, chữ trong bản đồ chụp lên khá rõ, nhưng một số bản bị nhòe mờ, soi kíp lúp rõ hơn, nhưng cũng khá khó khăn, đó là do hạn chế kỹ thuật đương thời.
2b. Về thời điểm biên soạn của ĐKĐD:
Thoạt đọc qua tên sách dễ nghĩ ngay là sách được làm xong hẳn trong đời vua Đồng Khánh (1886-1888). Nhưng nếu tính từ tháng 4 năm Đồng Khánh 2 (5-1887), nghĩa là từ khi HHX được điều về làm Toản tu ở Quốc sử quán, cho đến ngày Đồng Khánh mất (18-1-1888) thì thời gian chỉ có chưa đầy 8 tháng: Một thời gian ngắn ngủi như vậy, không ai có thể làm xong được một bộ sách đồ sộ như ĐKĐD. (Trước đó, trong bài biểu dâng sách và cả trong sách Đại Nam cương giới vựng biên không thấy nói đến một bản thảo nào có thể liên hệ xa xôi với ĐKĐD). Đối với một bộ sách như ĐKĐD việc tổ chức biên soạn không thể nào đơn giản được: Sau khi nhận sắc chỉ của vua giao nhiệm vụ biên soạn tất phải tiến hành hàng loạt công việc như soạn thảo quy tắc chung, thông báo cho giao việc cho các quan đầu tỉnh kê khai phần của tỉnh mình theo các biểu mẫu quy định thống nhất cho tất cả 26 tỉnh từ Bình Thuận đến Cao Bằng v.v.. Các quan tỉnh muốn soạn được bản khai đó không thể không họp bàn với các quan phủ huyện để có các bản khai từ cấp dưới lên, tổng hợp tu chỉnh rồi mới gửi về triều đình. Ban biên soạn tại Quốc sử quán tất phải kiểm tra để bổ sung, chính lý tư liệu, tu chỉnh văn phòng cho nhất quán v.v… Phần chính văn đã khá phức tạp, lại còn việc biên vẽ các bản đồ v.v… Nói tóm lại với lượng công việc mà chúng ta có thể hình dung ra phần nào, cho dù số người tham gia chính phụ có đông đến vài chục người, công việc cũng không thể làm xong trong dăm bảy tháng được. Và như vậy có nhiều khả năng có thể khẳng định vua Đồng Khánh chưa bao giờ được “ngự lãm” bộ sách sẽ mang niên hiệu của ông. Khả năng thuận lợi nhất mà ta đã kịp trình lên cho ông được một vài tập nào đó may mắn đã có chuẩn bị từ trước. Nhưng khả năng này rất mong manh nếu không muốn loại bỏ hẳn đi. Vả lại, ngay cả ngày nay chăng nữa, nếu có một bộ sách như vậy thì cũng phải soạn thảo hoàn chỉnh rồi mới trình lên cấp cao, chứ không phải tiện đâu dâng đấy được. Nếu vua Đồng Khánh không chết sớm thì mấy chữ “Đồng Khánh sắc chế ngự lãm…” sẽ được hiểu là “vua Đồng Khánh sai làm và đích thân ngự lãm”, nhưng vì lý do nói trên, nên hiều là: Vua Đồng Khánh sai làm để ngự lãm (hoặc là… để vua ngự lãm). Hiểu (và dịch) thêm một chữ để thì mới khỏi hiểu lầm và hợp với thực tế: vua Đồng Khánh sai làm để xem, nhưng có thể chưa kịp xem. Toàn bộ ĐKĐD chỉ có thể hoàn thành sớm nhất là trong những năm đầu đời Thành Thái. Các chứng cớ chữ huý trên văn bản cũng cho thấy điều đó, như:
– Thôn Hội Vũ (會 武), tên cũ là thôn Chiêu Hội (@ @) sau năm 1890 kiêng chữ Chiêu @ (tên huý vua Thành Thái Nguyễn Phúc Chiêu) (x. NCCH, tr.159), đổi là thôn Hội Vũ.
– Thôn và xã Quang Chiêm (光 瞻): Từ đời Đồng Khánh trở về trước là xã Quang Chiêu (光 昭); sau năm 1890 kiêng huý vua Thành Thái đổi là Quang Chiêm. Văn bản ĐKĐD (T.14, Nghệ An tỉnh) tại vị trí này đã đổi thành Quang Chiêm. – Tổng Chân Lại huyện Tứ Kỳ phủ Ninh Giang chữ Chân 真 (đồng âm với chữ Chân, tên húy của cha vua Thành Thái) (膺 真) Ưng Chận, NCCH, tr.159) được chép bớt 1 nét bên phải 真  -> 真 (bớt 1 nét bên phải)
– Hoàng tử Trần Quốc Chẩn (陳 國 (王真)): Chữ Chẩn (王真) có thiên bàng chữ Chân (真),được chép bỏ phần trên, thành giống như chữ Kỳ (王真=>琪).
(Nhiều nơi khác chữ Chân Chiêu lại được viết nguyên dạng).
Điều đó cho thấy rằng bộ ĐKĐD được vua Đồng Khánh sai làm từ tháng 5-1887 và được hoàn thành trong khoảng thời gian từ đó cho đến mấy năm đầu đời Thành Thái.
3. Nói riêng đối với việc nghiên cứu địa danh Việt Nam, có thể coi ĐKĐD là một đầu cầu rất quan trọng. Những ai quan tâm đến đề tài này đều dễ nhận ra một điều là: các sách Đại dư chí trong di sản của chúng ta phần nhiều chỉ ghi đến cấp huyện. Những sách địa phương chí toàn quốc (hoặc miền) mà có ghi hệ thống địa danh đến cấp xã thôn thì vẻn vẹn chỉ có mấy cuốn. Cổ nhất mà văn bản hiện còn thì có Ô Châu cận lục của Dương Văn An cho ta một hệ thống địa danh đời Mạc của miền đất ngày nay thuộc ba tỉnh Bình Trị Thiên. Cả Lê sơ, Lê Trung hưng và triều Tây Sơn không có cuốn nào. Triều Nguyễn có cuốn Các trấn tổng xã danh bị lãm: tuy không phải là một sách Địa dư chí thực thụ, nhưng sách này cho ta một hệ thống địa danh hoàn chỉnh của các phủ huyện từ Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh) trở ra. Kế đến là Bắc Thành địa dư chí của Lê Chất cho ta địa danh của các tỉnh Bắc Thành đời Minh Mệnh. Rồi đến ĐKĐD. Tất cả chỉ có như vậy. Và tất nhiên chúng ta hiểu rõ những sách đó thật quan trọng trong vai trò làm bàn đạp để một mặt ngược dòng thời gian tìm đến các lớp địa danh triều Nguyễn và lên trước nữa; mặt khác, từ ĐKĐD chúng ta có điều kiện tiếp cận với các lớp địa danh hiện đại vào những năm đầu thế kỷ XX, khi bắt đầu có những bản đồ toàn quốc bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.
3. Trong khi chưa lập đủ bảng tập hợp tất cả 26 tỉnh xuất phát từ hệ thống địa danh của ĐKĐD, chúng tôi kèm theo báo cáo này một bản thống kê tên xã thôn thuộc một tỉnh (Hải Dương cũ, bao gồm một số huyện xã của TP Hải Phòng nay) thay đổi vì lý do kiêng huý triều Nguyễn.
Qua thống kê này có thể nêu lên một số nhận xét như sau:
a/ Trong tổng số 115 tên xã thôn thay đổi trong triều Nguyễn, số thay đổi vì lý do kiêng huý là 72 trường hợp, chiếm tỷ lệ 63%. Tỷ lệ đó có thể lên xuống đối với cá tỉnh khác, nhưng qua đó cho chúng ta thấy có sự thuận lợi rất lớn trong việc vận dụng bảng chữ huý để nhận diện tên xã thôn thay đổi qua từng lớp địa danh.
b/ Trong số 72 xã thôn đổi tên vì lý do kiêng huý triều Nguyễn, thì:
– Số thay đổi vào đời Gia Long là ít nhất (1 chữ, 3 xã thôn) – Số 1-3 trong TKê.
– Số thay đổi vào đời Minh Mệnh nhiều hơn đời Gia Long chút ít (2 chữ, 4 xã thôn) Số 4-7 trong TKê.
– Số thay đổi vào đời Thiệu Trị là nhiều nhất (5 chữ, 34 xã thôn), chiếm đến gần 50% số xã thôn đổi tên. Điều này cũng phù hợp với nhận xét chung là lệ kiêng huý ở đời Thiệu Trị là phức tạp nhất. Số 8-42.
– Số thay đổi vào đời Tự Đức ít hơn đời Thiệu Trị, chiếm khoảng 30% trường hợp đổi tên vì kiêng huý. Số 43-67.
c/ Trong số thay đổi vì lý do khác, chúng ta có thể nhận ra một số trường hợp đổi tên vì lý do tu từ, như Máu Bộ (血(trên)卯(dưới) 部) đổi thành Châu Bộ (朱 部), Ỷ Khê 猗 溪 đổi thành Nha Khê (牙 溪); Thạch Cốt (石 骨) đổi làm Thạch Hào (石 豪) v.v… Nguyên nhân có nhiều, nhưng có đặc điểm chung là hầu hết người ta chỉ đổi một chữ, còn một chữ vẫn được giữ lại trong tên mới. Điều đó tạo một thuận lợi rất đáng kể cho người nghiên cứu xác định địa danh: Trong một vùng hẹp cùng huyện cùng tổng mà các xã liền kề phần lớn đã biết, thì việc nhận diện một xã thôn chỉ đổi khác 1 trong hai chữ là có thể xác định được. Cũng có trường hợp đổi hẳn cả hai chữ như Nam Triệu (南 兆) đổi thành Đường Sơn (堂 山), nhưng loại này tương đối ít gặp.
Trên đây là kết quả bước đầu của chúng tôi trong việc xuất phát từ hệ thống địa danh của ĐKĐD, vận dụng chìa khoá chữ huý để bóc tách và so sánh các lớp địa danh triều Nguyễn.
Chú thích:
1. Muriel Texier – Le mandarinat au Vietnam au XIX siècle BSEI, NS, XXXVII, 3-1962.- Dẫn theo: R.B. Smith: Sino – Vietnamese sources for the Nguyen period: anintroduction. Bulletin of the School of Orientan and Afican Studies, University of London. Vol. XXX. Part. 3, 1967. Bản dịch của Đỗ Văn Anh. S. Thư viện tập san, số 16-17, 1972.
THỐNG KÊ TÊN XÃ THÔN THUỘC TỈNH HẢI DƯƠNG
THAY ĐỔI VÌ LÝ DO KIÊNG HUÝ TRIỀU NGUYỄN
(ĐKĐD: Đồng Khánh địa dư chí)
(BTĐDC: Bắc Thành địa dư chí)
(CTTX: Các trấn tổng xã danh bị lãm)
TT
Chữ huý
Đd Đồng Khánh & Tự Đức (ĐKĐD)
Đ d Minh Mệnh
(BTĐD)
Đ d Gia Long
(CTTX)
1
LAN
Kim Quan
Kim Quan
Kim Quan/ < — Lan
2
LAN
Quan Đình
Quan Đình
Quan Đình/ < — Lan
3
LAN
Quan Khê
Quan Khê
Quan Khê/ < — Lan
4
ĐẢM
Cổ Chẩm
Cổ Chẩm
Cổ Đam
5
CẢO
Nhật Tảo
Nhật Cảo
Nhật Cảo
6
CẢO
Lệ Tảo
Lệ Bạo
Lệ Cảo
7
CAN
Hu Trì
Cán Trì
Can Trì
8
HOA
Lương Đường
Hoa Đường
Hoa Đường
9
HOA
Phương Khê
Hoa Khê
Hoa Khê
10
HOA
Lai Phương Thượng
Lai Hoa Thượng
Lao Hoa Thượng
11
HOA
Lai Phương Hạ
Lai Hoa Hạ
Lai Hoa Hạ
12
HOA
Phương Đôi
Hoa Đôi
Hoa Đôi
13
HOA
Phương Điếm
Hoa Điếm
Hoa Điếm
14
HOA
Phương Bằng
Hoa Bằng
Hoa Bằng
15
HOA
Phương Xá
Hoa Xá
Hoa Xá
16
HOA
Phương Đường
Hoa Đường
Hoa Đường
17
HOA
Đông Phương
Đông Hoa
Đông Hoa
18
HOA
Phương Khê
Hoa Khê
Hoa Khê
19
HOA
Ngọc Chử
Hoa Chử
Hoa Chử
20
HOA
Phương Duệ
Hoa Duệ
Hoa Duệ
21
HOA
Phương Khê
Hoa Khê
Hoa Khê
22
HOA
Kiến Phong
Hoa Phong
Hoa Phong
23
HOA
Phương Quất
Hoa Quất
Hoa Quất
24
HOA
Phương Lưu
Hoa Lưu
Hoa Lưu
25
HOA
Phương Lăng
Hoa Lăng
Hoa Lăng
26
HOA
Phương Mỹ
Hoa Chương
Hoa Chương
27
TÔNG
Thị Tranh
Tông Tranh
Tông Tranh
28
TÔNG
Thị Đức
Tông Đức
Tông Đức
29
THỰC
Bảo Tượng
Thực Tượng
Thực Tượng
30
THỰC
Lạc Nghiệp
Lạc Thực
Lạc Thực
31
THỰC
Trực Trang
Thực Trang
Thực Trạng
32
TRIỀN
Lý Đông
Triền Đông
Triền Đông
33
TRIỀN
Lý Đổ
Triền Đổ
Triền Đổ
34
TRIỀN
Phạm Lý
Phạm Triền
Phạm Triền
35
TRIỀN
Lý Dương
Triền Dương
Triền Dương
36
TRIỀN
Hán Lý
Hán Triền
Hán Triền
37
TRIỀN
Anh Lý
An Triền
An Triền
38
TRIỀN
Vạn Hoạch
Vạn Tuyển
Vạn Tuyển
39
TUYỀN
Lãng Xuyên
Chương Tuyền
Chương Tuyền
40
TUYỀN
Ngọc Uyên
Ngọc Tuyền
Ngọc Tuyền
41
TUYỀN
Kim Xuyên
Kim Tuyền
Kim Tuyền
42
TUYỀN
Xuyên Đông
Tuyền Đông
Tuyền Đông
43
CHƯƠNG
Mậu Công
Chương Công
Chương Công
44
CHƯƠNG
Khuê Phương
Khuê Chương
Khuê Chương
45
HỒNG
Thanh Lục
Hồng Lục
Hồng Lục
46
HỒNG
Đông Lục
Đông Hồng Lục
Đông Hồng Lục
47
HỒNG
Lạc Thị
Hồng Thị
Hồng Thị
48
HỒNG
La Giang
La Hồng
La Hồng
49
THÌ
Tuyển Cử
Thì Cử
Thì Cử
50
THÌ
Hiếu Hội
Hảo Thì
Hảo Thì
51
THÌ
Mỹ Ngọc
Thì Ngọc
Thì Ngọc
52
THÌ
Thịnh Vạn
Thì Vạn
Thì Vạn
53
THÌ
Hoà Ung
Thì Ung
Thì Ung
54
ĐOAN
Thụy Trang
Đoan Trang
Đoan Trang
55
ĐOAN
Thụy Xuyên
Đoan Xuyên
Đoan Xuyên
56
KÍNH
Dương Nham
Kính Chủ
Kính Chủ
57
THIÊN
Đại Lộc
Thiên Lộc
Thiên Lộc
58
VƯƠNG
An Xá
Vương Xá
Vương Xá
59
NGUYỄN
Thọ Xuyên
Nguyễn Xuyên
Nguyễn Xuyên
60
NGUYỄN
Tứ Xá
Nguyễn Xá
Nguyễn Xá
61
NGUYỄN
Cẩm Khê
Nguyễn Khê
Nguyễn Khê
62
NGUYỄN
Linh Xá
Nguyễn Xá
Nguyễn Xá
63
NGUYỄN
Phúc Giới
Nguyễn Xá
Nguyễn Xá
64
NGUYỄN
Vĩnh Xuyên
Nguyễn Xuyên
Nguyễn Xuyên
65
NGUYỄN
Mỹ Xá
Nguyễn Xá
Nguyễn Xá
66
NGUYỄN
Vụ Nông
Bắc Nguyễn
Bắc Nguyễn
67
NGUYỄN
Vụ Bản
Nguyễn Xá
Nguyễn Xá
68
BÌNH
Bằng Trai
Bình Tề
Bình Tề
69
BÌNH
Bằng Đê
Bình Đê
Bình Đê
70
BÌNH
Bằng Cách
Bình Cách
Bình Cách
71
BÌNH
Bằng Dã
Bình Dã
Bình Dã
72
BÌNH
Bằng Quân
Bình Quân
Bình Quân
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.399-410)

CHỮ HÁN CỦA NGƯỜI VIỆT – Vũ Tuấn Sán

TB

I. Nhân một câu trong Truyện Kiều
Không mấy ai không nhớ câu trong Truyện Kiều, khi Thúy Kiều nhận được thư của Sở Khanh:

“Mở xem một bức tiên mai,
Rành rành Tích Việt có hai chữ đề.
Cứ trong ý tứ mà suy,
Ngày hai mươi mốt Tuất thì phải chăng ?”

Sở dĩ Thúy Kiều đoán được như trên, vì phân tích theo cách viết chữ (chiết tự) thì chữ “tích” 昔 gồm chữ “trấp” (nhị thập, tức 20, “nhất” 一 (một) và “nhật” 日 (ngày) ghép lại. Chữ “Việt” 越 gồm chữ “tẩu” 走 (chạy, trốn) và chữ “tuất” 戌 (giờ Tuất). “Tích Việt” rõ ràng có nghĩa: chạy trốn vào giờ Tuất ngày 21. Nhưng tra Khang Hy tự điển (TĐKH), thì chữ “Việt” 越 ở bộ “tẩu” 走 viết bằng chữ “tẩu” 走 cạnh chữ “việt” 戉 (một loại búa rìu thời cổ). Nếu là chữ “tẩu” cạnh chữ “tuất”, thì lại là một chữ khác, âm đọc “hứa duật, huân nhập thanh”, tức là chữ “huật”, và có nghĩa là “chạy” (tẩu). Từ điển còn ghi thêm: “khác với chữ Việt” (dữ việt bất đồng). Tuy nhiên, từ trước, người Việt vẫn quen đọc là “Tích Việt”. Và Đại Việt sử ký toàn thư, sách quốc sử của cả nước, nhan đề sách được in với chữ “Việt” gồm chữ “tẩu” bên chữ “tuất” chứ không phải bên chữ “việt”. Cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (ĐDA) cũng viết chữ “việt” với chữ “tuất” bên bộ “tẩu”. Sách được hiệu đính do hai bậc túc nho nổi tiếng đương thời là Phan Bội Châu (ký tên Hạn Mạn Tử) và Thủ khoa Lâm Mậu (ký tên Giao Tiều – vì nhà ở gần đàn Nam Giao thành Huế) (ghi theo lời khẳng định của nhà học giả Đào Duy Anh khi còn sống). Như vậy có thể cho rằng, chữ “việt” của người Việt không phải là chữ “việt” của người Hán. Các từ điển Hán Việt sau này như Từ điển Trung Việt của Văn Tân (VT), Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (TC) viết chữ “việt” đúng như ở KHTĐ, nhưng không có chữ “huật” (tức chữ có bộ “tẩu” bên chữ “tuất”. Chữ này thực ra rất ít dùng. Trong TĐKH khi giải nghĩa chữ này, không thấy ghi thí dụ trích ở sách cũ như thường thấy ở những chữ khác. Các từ điển thông dụng của Trung Quốc như Từ Nguyên (TN), Từ Hải (TH), Vương Vân Ngũ Tứ giác đại từ điển (VVN) đều không ghi chữ “huật”. Như vậy, mặc dầu KHTĐ, bộ từ điển chính thức của Trung Quốc ghi dưới chữ “huật” khác với chữ “việt”, người Việt vẫn viết chữ “việt” với chữ “tuất” bên cạnh bộ “tẩu” mà không cho là viết sai.
Trường hợp vẫn là chữ Hán ghi trong KHTĐ, nhưng được người Việt dùng và đọc theo cách khác, như chữ “việt” nói trên, có thể coi là hiếm. Người viết bài này mới chỉ biết thêm một trường hợp nữa, chữ , viết với chữ tịnh 並 (ngang nhau, gồm) trên chữ kiến 見 (trông, nhìn). KHTĐ có ghi chữ này, nhưng ở phần Dị khảo cuối sách, ghi âm đọc là “cánh”, không ghi nghĩa. Trung văn đại từ điển (TV) Q.30, bộ kiến 見 có chữ này và ghi “nghĩa chưa rõ”. Sách viết Hán Nôm của ta thường viết chữ này thay chữ 競 (cạnh), có nghĩa là tranh giành, ganh đua. Sách viết tay Lịch triều danh phú (Thư viện Viện Hán Nôm, A.366), ở bài Tần cung phụ nữ, có câu “Sính thuyền quyên ư phấn hạp hương liêm, cạnh tú lệ duy châu ư cẩm trướng” (Lả lơi khách thuyền quyên nơi hộp phấn bình hương, ganh đua vẻ xinh tươi nơi màn châu trướng gấm). Chữ “cạnh” viết theo kiểu này đã khiến GS. Hà Văn Tấn, trong sách Trạng Quỳnh (cộng tác với Nguyễn Đức Hiền, Nxb. Văn học, Nxb. Thanh Hóa, 1987), khi dịch giới thiệu bài phú này đã phiên âm lầm thành “quan” (xem, nhìn), vì không thấy trong các từ điển thông dụng (Xem thêm Tạp chí Hán Nôm số 1-1988, biểu số 1, giữa trang 24-25, trong bài của GS. Trần Nghĩa Văn bản và giá trị học thuật của Hoan châu ký, chữ trên đã được đọc đúng là “cạnh”.
II. Chữ Hán viết theo lối người Việt
Trường hợp chữ Hán được Việt hóa theo cách đọc và hiểu nghĩa như trên có thể nói là hiếm. Trường hợp chữ viết theo thể “thảo” nhưng theo cách riêng của người Việt nhiều hơn, có thể thấy ở nhiều sách viết tay hiện chiếm đa số so với sách đã được in ở thời kỳ trước. Sau đây là một số chữ còn thể coi là của riêng người Việt vì không thấy ghi trong sách dạy chữ thảo của người Trung Quốc. (Có nhiều sách thuộc loại này. Bài viết dựa vào Thảo từ vựng của Thạch Thụ Am, sách in tập hợp những chữ thảo của các nhà “thảo thánh” (bậc thánh về môn chữ thảo” từ đời Hán đến đời Minh, lời Hậu tự” cuối sách viết năm Càn Long thứ 52, Đinh Mùi (1787). Người viết xin lỗi nếu có những tư liệu khác về chữ thảo Trung Quốc phủ nhận những nhận xét trong phần viết về chữ thảo của người Việt).
Về vấn đề này, có thể quy vào mấy điểm chính sau đây:
1. Sử dụng hai chấm đặt bên trái và bên phải chữ đơn:
… 願 (nguyện), thay chữ “hiệt” (頁) bên phải.
… 欲 (dục), thay chữ “cốc” 谷 bên trái.
… 御 (ngự), thay bộ “sách” (彳) bên trái và bộ ‘ấp” (阝 ) bên phải.
… 秤 (xứng), thay bộ “hòa” 禾 bên trái.
2. Dùng nét 乙 đặt bên chữ đơn:
… 擇 (trạch), thay nửa phần trên chữ “dịch” ().
(sương), thay bộ “vũ” 雨 .
… 雪 thay bộ “vũ” 雨
3. Một số chữ thông dụng:
: 留 (lưu: giữ lại)
っ : 鄉 (hương: làng)
: 謂 (vị: hảo)
: 寰 (hoàn: bờ cõi rộng lớn)
: 得 (đắc: được)
: 爵 (tước: chức tước)
: 既 (ký: đã).
4. Có những chỗ tưởng chừng không hợp lý, như ở chữ 琷viết tắt của chữ 驢 (lư: con lừa), phần bên phải 卢có thể đọc là 廬 (lư) hay là 虞 (ngu), cả hai chữ đều được chấp nhận, có lẽ theo văn cảnh mà đoán được chữ, cũng như chữ , viết thay chữ 疆 (cương) nhiều nét hơn gấp bội. Đặc biệt có một chữ không hẳn là chữ thảo, có thể gọi là chữ “kép”, chữ () đọc thành hai chữ “quốc gia”, lấy chữ “gia” (nhà) viết trong khung chữ “vi” 囗 , lối viết cổ của chữ “vi” 圍 (vây) sau dùng làm một trong 214 bộ của TĐKH. Thành ngữ về kiến trúc “nội công ngoại quốc” thực có nghĩa: công trình bên trong hình chữ “công” 工 (hai ngôi nhà được nối nhau ở quãng giữa bằng một nhà cầu ngắn, thành hình chữ này), công trình bên ngoài hình chữ “vi” [囗] (hình vuông), ta đã đọc chữ này thành chữ “quốc”.
III. Cách đọc riêng biệt của người Việt đối với một số chữ Hán
Chúng ta ai cũng biết người Việt có cách đọc chữ Hán riêng biệt khác với cách đọc của chính người Hán. Các âm Hán Việt có thể nói tuyệt đại đa số dựa vào cách “phiên thiết” ghi trong TĐKH, tuy nhiên vẫn có một số nét độc đáo so với âm thanh phương Bắc.
1. Có sự phân biệt rõ ràng thanh bằng và thanh trắc, cơ sở của luật thơ, nhất là thơ Đường, đòi hỏi sự tôn trọng chặt chẽ niêm luật. Âm Việt phân biệt dễ dàng thanh bằng thanh trắc, dựa trên cách viết chữ Quốc ngữ, không dấu hay có dấu huyền là thanh bằng, các dấu còn lại là thuộc thanh trắc. Hệ thống âm thanh tiếng Trung Hoa hiện đại không cho phép đọc thuận tiện như vậy. Tỉ như âm “pào” khứ thanh, thuộc vần trắc, gồm bốn chữ, nếu đọc theo âm Việt thì sẽ có hai chữ âm “pháo” thuộc vần trắc là ( ) (to lớn) và 炮 (súng, pháo), nhưng lại có hai chữ âm “bào” thuộc vần bằng lái “泡 (bào: bọt nước) và (bào: mụn nước trên da). Hoặc âm “bao” thanh bình gồm những chữ đọc theo âm Việt: 褒 (bao, khen), 包 (bao: bọc) là hai chữ thuộc thanh bằng, nhưng có cả chữ 剝 âm Việt là “bác” (bóc, lột) tức thuộc thanh trắc (Từ điển Trung Việt, Nxb. KHXH, 1993). Do đó làm thơ Đường luật, người Trung Hoa phải tra Thi vận để biết chữ dùng thuộc thanh bằng hay thanh trắc, còn đối với người Việt thì không cần thiết.
2. Có một số chữ mà âm đọc hoàn toàn là của người Việt, khác với cách phát âm chính thức được ghi trong TĐKH. Thí dụ:
– Từ “Tự lực cánh sinh” Chữ Hán 更 (cánh) có hai cách đọc: “cánh” có nghĩa là “càng” như “cánh hảo” (càng tốt); cũng đọc là “canh” có nghĩa là sửa đổi như “canh tân” (đổi mới). Từ điển Trung văn có thành ngữ “tự lực canh sinh” (bằng sức mình thay đổi cuộc đời). Đương đại Hán Anh từ điển của Lâm Ngữ Đường) (LNĐ) và Hán ngữ từ điển (HN) ghi từ ghép “canh sinh” (geng sheng), không có từ ghép “cánh sinh” (gèng sheng). Nhưng người Việt thường nói “tự lực cánh sinh”, không nói “tự lực canh sinh”. Từ điển Tiếng Việt Hoàng Phê (HP) ghi “tự lực cánh sinh” và giảng: “Dựa vào sức mình để tự giải quyết những vấn đề khó khăn về đời sống, về kinh tế”. Giảng như vậy, thì đúng ra phải nói “canh sinh” hơn là “cánh sinh”.
– Có một chữ âm đọc hoàn toàn do người Việt đặt. Đó là chữ (呆). Chữ này được TĐKH giảng: đọc là “bảo”, dùng như chữ (保 ) (bảo: giữ gìn). Cũng đọc là “mỗ” là chữ cổ của “mỗ” (某) (đại từ phiếm chỉ). Và ghi rõ nay dùng như chữ (獃) “ngai” (ngu ngốc) Trung Hoa đại tự điển (ĐTĐ) cũng ghi như TĐKH. Các từ điển khác như TN, TH, TVĐTĐ đều chung quan điểm trên. Về các từ điển Hán Việt của ta, Đ DA ở vần “Ngai” ghi hai chữ (呆) và (獃) với nghĩa gần như nhau, không ghi âm “ngốc”. Từ điển Trung Việt của Văn Tân (VT) ở bộ khẩu 口 ghi chữ (呆), kèm âm “ai” của Trung văn, và âm “ngốc” của Hán Việt. TC ở chữ này cũng ghi âm “ngốc”. VNTĐ của Khai trí tiến đức (KTTĐ), ở vần “ngốc” ghi chữ Hán (呆 ) tức công nhận âm Hán Việt của chữ này. Có người cho rằng âm này xuất hiện sau khi Bảo Đại lên ngôi, bị giới trí thức Nho học dựa trên chiết tự gọi là “đại ngốc nhân” do chữ bảo (保 ) được viết với chữ (呆) “ngốc” ở bên cạnh chữ “nhân” đứng ( ). Nhưng trước đó, Đại Nam quốc âm ngự vị của Huỳnh Tịnh Của (HTC) in năm 1896, ở vần “ngốc” đã ghi chữ này, kèm ký hiệu “n” tức “coi như chữ Nôm”.
– Về chữ (未) TĐKH cho âm “vị” với hai nghĩa: là “chưa” và là “1 trong 12 chi”. Người Việt giữ âm này (vị) ở cả hai nghĩa, nhưng về nghĩa sau (1 trong 12 chi), thì thêm âm “mùi”, và âm này được thông dụng hơn. Người ta nói “năm Tân Vị” nhưng số đông gọi là năm Tân Mùi. Ca dao có câu: “Người ta tuổi Hợi tuổi Mùi, sao tôi lại chịu một đời tuổi Thân” (coi người tuổi Hợi, tuổi Mùi có số tốt hơn người tuổi Thân bị vất vả). Âm “mùi” không có trong các từ điển Trung Quốc. Từ điển ĐDA ghi âm “mùi” giảng là “vị thứ 8 trong địa chi” cũng đọc là “vị” và “mùi”. Từ điển HTC ở vần “mùi” cũng ghi chữ này với ký hiệu “c”, tức coi đây là chữ Hán. Tại sao lại thêm âm “mùi” bên cạnh âm “vị” ? Có thuyết cho rằng do TĐKH giảng “vị” (未) là (味), âm Hán Việt là “vị” (cảm giác do lưỡi nếm, hứng thú) như nói “thú vị”, “thi vị”, ta thường dịch là “mùi”. Từ điển HTC coi chữ này là chữ Nôm, đọc là “mùi”.
Trên đây là mấy trường hợp điển hình về cách đọc riêng biệt của người Việt đối với chữ Hán. Chắc còn nhiều trường hợp khác, vì từ điển Trung Việt cho thấy, cùng một âm Trung văn, có rất nhiều chữ với âm đọc Hán Việt khác nhau.
Có thể nói rằng người Việt đã coi chữ Hán như chữ của mình, “chữ ta” như tên thường gọi trước đây, nên sử dụng đôi khi khá tuỳ tiện, bất chấp những quy định của những từ thư, từ điển Trung văn (trường hợp chữ “việt”, chữ “cạnh” nói trên). Điều này thấy rất rõ trong cấu tạo chữ Nôm. Ta viết chữ “nói” (吶 ) với chữ khẩu (口 ) bên chữ “nội” (內) mặc dầu đây là chữ Hán âm “nột” với nghĩa “nói chậm”, “nói ấp úng”; viết chữ “tươi” (鮮) cho dù đây là chữ Hán (âm “tiên”, nghĩa là “cá tươi, tươi”); viết chữ “thuở” (課) với chữ Hán vẫn được đọc là “khóa” (thi hạch, thuế), đó là những chữ Hán, ngoài âm Hán Việt, còn được thêm âm chữ Nôm. Trong cuốn Bảng tra chữ Nôm của Viện Ngôn ngữ học (Nxb. KHXH, 1976) ghi khá nhiều chữ coi như thuần Nôm, nhưng lại là chữ Hán có mặt trong TĐKH như “ghế” (椅), “toét” (茋) (toét mắt), “noi” (珁) (noi theo).
IV. Những chữ Hán được Việt hóa về mặt ngữ nghĩa.
Chúng ta không nói tới những từ chữ Hán trong một số bài thơ của Nguyễn Khuyến mà người Trung Hoa dù rất thông thạo cổ văn cũng không hiểu nổi, những “thiền sư” để chỉ thầy đồ ve gái (thiền: con ve sầu), “hòa cước” (“chân lúa” chỉ “chân ruộng lúa” tức độ phì nhiêu của ruộng), “đẩu niên” (“tuổi đấu”, tức dung lượng của đấu, tính bằng bát, mỗi bát là một tuổi)(1).
– Đầu tiên, có những từ Hán đã được dùng không đúng ý nghĩa thật chuẩn xác của nó: như từ “băng hà”, thường được dùng để chỉ cái chết của vua chúa.

Trạng chết chúa cũng băng hà,
Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn.

( Trạng Quỳnh, Nxb. Văn học, Nxb. Thanh Hóa 1987, tr.164).
Từ điển Tiếng Việt Hoàng Phê giảng: “chết” (nói về vua chúa). Nhưng từ vựng Hán ngữ không có từ “băng hà”. Để chỉ vua chết, chỉ có từ đơn “băng” (崩) và từ ghép “thăng hà” (升遐) (xem các từ điển Trung Quốc và VNTĐ của hội KTTĐ). Người Việt đã ghép “băng” với “thăng hà” thành “băng hà”.
– Từ “ưu ái”: từ này được giảng trong VNTĐ của hội KTTĐ: “do chữ ưu quân ái quốc nói tắt. Lo cho vua, thương cho nước”. Chưa rõ lấy thành ngữ này ở sách nào. TVĐTĐ Đài Bắc ở từ “ưu quốc” dẫn câu trong Chiến quốc sách (Tề sách): “Quả nhân ưu quốc ái nhân, cố nguyện đắc sĩ dĩ trị chi” (quả nhân lo việc nước, yêu dân, nên muốn được kẻ sĩ để trị nước). Nói gọn “ưu ái” hay “ái ưu” đều hàm nghĩa cả bốn chữ: “ưu quân ái quốc” hay “ưu quốc ái dân”. Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu thơ:

Ái ưu vằng vặc trăng in nước,
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa.

Chỉ cách đây ít năm, từ này không còn có nghĩa “lo việc nước, thương dân” hay “lo việc vua, yêu nước”, như trong từ “ái ưu” của câu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm; và được dùng với ý nghĩa thương yêu và lo lắng cho đối với mọi đối tượng (xem Từ điển HP).
– Từ “thế chấp” (替執) VNTĐ của KTTĐ giảng “gán nợ” kèm thí dụ: “thế chấp tài sản để lấy tiền trả nợ”. Từ này có lẽ nay ít dùng, nên Từ điển HP không ghi. Từ điển HTC không có từ “thế chấp”, nhưng đã ghi sau từ “thế”: “Thế nhà đất: cầm nhà đi mà vay nợ. Nghĩa này của chữ “thế” (替) là của riêng người Việt, các từ điển Trung Hoa chỉ ghi nghĩa “bỏ đi”, “thay thế”. Còn chấp (執) Hán tự chỉ có nghĩa là “cầm giữ trong tay” không có nghĩa của từ “cầm” thuần Việt, “trao của cho người khác làm tin để vay tiền”. Như vậy có thể nói “thế chấp” gồm một từ thuần Việt “thế” có nghĩa “cầm cố” để thành từ ghép “thế chấp” với nghĩa được định trong Từ điển KTTĐ vừa nói ở trên.
– Từ “phương du”, từ này thấy trong Từ điển KTTĐ chua chữ Hán (方 ) với nghĩa “màn che dùng trong đám ma để che cho con cháu tang chủ”. Từ điển Trung Quốc không có chữ “du” () viết với chữ “do” (由) là “bởi đó”, bên chữ “cân” (巾) là “khăn”, chỉ có chữ “du” () ở bộ “phiến” (片) với nghĩa “ván ngăn để đáp tường” (từ điển TC). Ban biên tập từ điển KTTĐ gồm nhiều nhà nho có tiếng đương thời như Bùi Kỷ, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, nên chắc chữ này cũng đã quá thông dụng và là một chữ Hán do người Việt đặt ra.
– Từ “phỏng nghĩ” (放 擬). Trong thư cuối năm 1859 của Tự Đức gửi Napoléon III, Hoàng đế nước Pháp (bản dịch đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4-1995), nguyên văn có câu “Gia Ô nhị súy phỏng nghĩ”, có nghĩa “việc phỏng nghĩ (Tạp chí Hán Nôm in lầm là “không nghỉ”) của hai chánh súy Gia và Ô”. “Phỏng” chữ Hán chỉ có nghĩa là “bắt chước”. Còn “phỏng” tiếng thuần Việt, có nghĩa là “ước chừng” (Từ điển KTTĐ) hay “ước lượng trên đại thể” (Từ điển HP). ở đây phải hiểu theo nghĩa thuần Việt của chữ “phỏng” (nghĩa này không có trong chữ Hán), nên “phỏng nghĩ” không có nghĩa là “bắt chước nghĩ”, mà là “nghĩ phỏng chừng”, “dự kiến”.
Trên đây là những từ ghép thường được gọi là những từ Hán Việt, gồm hai hay nhiều từ đơn đều là Hán tự (hay tưởng như là Hán tự, như “thế” trong “thế chấp”, “phỏng” trong “phỏng nghĩ” nói ở trên, thực ra đó là những từ thuần Việt. Ngoài ra còn có những trường hợp từ ghép gồm một Hán tự, đi cùng với một hay hai từ thuần Việt, trên nguyên tắc không thể đi liền với nhau, nhưng vẫn được chấp nhận trên thực tế. ở những trường hợp này, người Việt đã coi một số Hán tự như những từ thuần Việt, nên mới có sự ghép từ như vậy.
Như từ “bỗng nhiên” gồm một từ Việt “bỗng” và một từ Hán “nhiên” (có nghĩa như thế, như vậy). Từ ghép này trước đây chưa có, vì đã có những từ thuần Việt như “bỗng chốc”, “bỗng dưng”, “bỗng đâu”… hoặc từ thuần Hán như “đột nhiên”. Từ điển KTTĐ (1931) chỉ ghi những từ “bỗng dưng”, “bỗng đâu”, “bỗng không”, không có “bỗng nhiên”. Nhưng từ điển Thanh Nghị năm 1951 đã ghi từ này, và nó liên tiếp có mặt trong từ điển HP (1988, 1992).
Một trường hợp tương tự là từ “bất” (có nghĩa là “chẳng”) được ghép với nhiều từ thuần Việt, như “bất cần” (không cần), “bất tỉnh” (không tỉnh, bị lên cơn mê sảng). Lại có thành ngữ “bất tỉnh nhân sự”, được ghi trong từ điển Trung Quốc với 2 nghĩa: “không rõ việc đời” và “hôn mê, mất tri giác” (TVĐTĐ). Từ điển HTC còn ghi cả hai nghĩa này. Nhưng hiện nay chỉ có nghĩa thứ hai như ta thấy trong Từ điển HP. Lại có trường hợp khá đặc biệt: “bất” không còn nghĩa chính của nó là “không, chẳng”, như ở từ ghép “bất chợt”, “bất thình lình”, “bất” không có nghĩa phủ định, mà trái lại, có tác dụng nhấn mạnh thêm về ý nghĩa.
Từ “ca thán”: đã có một thời nhiều người phê phán việc dùng từ này, coi như phải nói là “ta thán” mới đúng. VNTĐ của KTTĐ, Từ điển Thanh Nghị không ghi từ “ca thán”. Nhưng nó đã có mặt trong từ điển HP. Thực ra quần chúng nói “ca thán” nhiều hơn là “ta thán” và thiết nghĩ không sai. Đây chỉ là trường hợp ghép một từ thuần Việt “ca” trong “kêu ca” (có nghĩa là phàn nàn, tỏ ý không ưng) với từ Hán “thán” (than thở). Đây là cách ghép từ khá phổ biến trong tiếng Việt hiện đại, coi một số từ Hán như từ Việt, có thể đi với nhau thành từ ghép, như từ “khác biệt”, “in ấn”. Gần đây báo chí và đài phát thanh nói tới “tái lấn chiếm vỉa hè” (không nói lấn chiếm lại), coi “lấn chiếm” như một từ Hán có thể đi với “tái” như “tái tạo”, “tái sản xuất”.
V. Chữ Hán của người Việt và cuốn Từ điển Hán Việt theo đúng ghĩa của nó.
Theo sử, trong thời Bắc thuộc, việc học chữ Hán đã có từ sớm. Thời Hán Linh Đế (168-189) đã có người Giao Chỉ đỗ Mậu tài, Hiếu liêm (tương đương với Tú tài, Cử nhân sau này), và đến thời Sĩ Nhiếp (được cử làm Thái thú vào đầu thế kỷ thứ 2), việc học càng được phát triển mạnh. Nhà sử học Ngô sĩ Liên cho rằng nước ta “thông Thi, Thư; tập Lễ, Nhạc, thành một nước văn hiến” bắt đầu từ thời kỳ này. Sau khi giành lại quyền độc lập, dân Việt đã dùng chữ Hán như một văn tự chính thức, với một hệ thống phát âm được ghi trong các từ điển chính quy phương Bắc, một phần được Việt hóa do ảnh hưởng của ngữ âm bản địa, cũng như trường hợp những nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cổ như Nhật Bản và Triều Tiên. Qua suốt nhiều thế kỷ, dân Việt đã coi chữ Hán như chữ chính của mình. Chính chữ Hán đã được dùng để tuyên cáo và xác nhận quyền độc lập dân tộc trong bài thơ mà Lý Thường Kiệt cho ngâm bên sông Như Nguyệt và trong bài Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi.
Nếu trí nhớ của người viết bài này không lầm, có lần Phan Khôi trên báo Phụ nữ tân văn có nhắc tới câu của một nhà văn Trung Quốc (có phải Lương Khải Siêu?) chê lời văn chữ Hán của mấy nhà nho nổi tiếng của ta thời đó như Phan Bội Châu là “chưa thuần”, tức chưa thật đúng văn phạm Hán ngữ. Điều này nếu đúng thực thì, thiết nghĩ cũng không có gì là khó hiểu. Thứ nhất, văn phạm Hán tự, không như nhiều ngôn ngữ phương Tây, từ trước vẫn không có gì thật chuẩn xác, nhất là với quan niệm được ghi trong sách Mạnh Tử (Thiên Vạn chương) “không vì chữ được dùng mà hại tới lời, không vì lời mà tổn hại chí người làm thơ (chỉ tác giả nói chung), phải lấy ý mình mà suy đón cái chí người đó, như thế mới được” (bất dĩ văn hại từ, bất dĩ từ hại chí, dĩ ý nghịch chí, thị vi đắc chi). Hoặc với quan niệm của Đào Tiềm “đọc sách không cầu hiểu thật tường tận” (tức chỉ chú ý đến sự ứng dụng cho chính mình, có thể không hẳn đúng với ý của sách) (Nguyên văn: “độc thư bất cầu thậm giải” – Ngũ Liễu Tiên sinh truyện). Vả chăng thời trước cũng chưa có những sách chuyên đề về văn phạm ngữ pháp để có những tiêu chí xét đoán trong địa hạt này.
Dù sao vẫn có thể khẳng định có một hệ thống chữ Hán của riêng người Việt, với cách phát âm riêng biệt đối với toàn bộ từ vựng Hán ngữ, và với cách viết, cách định nghĩa đối với một số chữ và từ, như cách viết chữ “việt”, chữ “cạnh”, cách hiểu những từ “băng hà”, “thế chấp”… vừa nói ở trên. Thiết nghĩ chúng ta cần có một cuốn từ điển thực sự là “từ điển Hán Việt”, có phần quan trọng ghi lại “chữ Hán của người Việt”, ngoài việc ghi âm và nghĩa như các từ điển Hán Việt hiện có, còn thêm cả những lối viết chữ, cách đọc và định nghĩa của riêng người Việt, như đã trình bày. Hơn thế nữa, nó còn bao gồm cả các từ ghép và thành ngữ có trong các văn bản Hán Nôm của dân Việt. Chúng ta đã có những bản chú thích khá đầy đủ các tác phẩm Hán và Nôm, những từ ngữ (và điển tích trong đó) sẽ là những từ điều và thí dụ trong cuốn từ điển Hán Việt mới. Và nhất là sẽ có mặt cả những từ ngữ không thấy ở các từ điển Trung văn, mà số lượng những từ điều này không phải là nhỏ. Đơn cử bài thơ nổi tiếng Nam quốc sơn hà do Lý Thường Kiệt cho đọc bên sông Như Nguyệt, chỉ trong bốn câu mà đã có ba từ ghép là “tiệt nhiên”, “nghịch lỗ”, “bại hư” không thấy trong các từ điển thường dùng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải. Cuốn từ điển Hán Việt mới sẽ ghi các từ ghép trên, cùng những từ khác như “Nam quốc”, “sơn hà”… kèm thí dụ lấy ở văn bản người Việt, và cả ở văn bản Trung Quốc nếu thấy cần (sẽ có ghi dấu hoa thị ở những từ điều coi như của riêng người Việt).
Ngoài ra, về mặt ghi âm đọc ở cuốn từ điển mới, chúng tôi thiết nghĩ:
– Sẽ ghi những âm đọc riêng của người Việt, như ở chữ “cạnh”, chữ “ngốc” nói trên.
– Đối với một số chữ Hán hiện được phiên âm khác nhau trên các từ điển của ta cần tiêu chuẩn hóa để thống nhất cách đọc, giúp cho việc xác định mặt chữ ở những văn bản phiên âm không có điều kiện kèm theo chữ Hán, có thể chua kèm thứ tự của chữ đồng âm được ghi ở cuốn từ điển này, giúp cho người đọc có thể xác định được chữ cần biết.
Một cuốn từ điển như vậy đòi hỏi công sức đầu tư không nhỏ.
Về việc ghi âm đọc, tuy chỉ có một số chữ có âm đọc chưa thống nhất, vẫn cần có một ban chuyên trách tiến hành việc tiêu chuẩn hóa.
Về việc thu thập các từ điều, cách giải thích, tìm thí dụ rút ra từ các văn bản Hán Nôm, việc làm phức tạp hơn nhiều. Cần rà soát lập phiếu cho hàng vạn từ điều, trên cơ sở đó, tiến hành dịch nghĩa và chọn thí dụ thích đáng. Thiết nghĩ nên phân loại các văn bản, chọn một số tiêu biểu nhất coi như thuộc loại A, để tiến hành rà soát và lập phiếu có phương pháp và triệt để. Trên cơ sở đó, có thể có một cuốn được công bố để phục vụ kịp thời và lấy ý kiến độc giả, trong khi vẫn tiến hành rà soát lấy tư liệu ở các văn bản thuộc loại B, loại C v.v… để sách này thêm hoàn chỉnh.
Theo thiển kiến, một công trình như vậy không thể thiếu sự chủ trì và lãnh đạo của Viện Nghiên cứu Hán Nôm trong việc biên soạn. Đây sẽ là một đóng góp đáng kể trong việc giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc vẫn tự hào có một nền văn hiến lâu đời.

V.T.S
CHÚ THÍCH

(1) Xem bài Về những bài thơ Hán Nôm tự dịch của Nguyễn Khuyến, Tạp chí Hán Nôm số 2 – 1990.
* Trong bài này có dùng một số chữ viết tắt sau đây.
1 . Từ điển Tiếng Việt:

HTC: Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của – Sai Gon, 1896
KTTĐ: Việt Nam từ điển – Hội khai trí tiến đức – Hà Nội, 1931.
ĐDA: Hán Việt từ điển – Đào Duy Anh – Hà Nội, 1931.
TC: Hán Việt từ điển – Thiều Chửu. Sai Gon, 1966 (in lần 2).
TNg: Việt Nam tân từ điển – Thanh Nghị – Sai Gon, 1931.
HP: Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê chủ biên – Hà Nội, 1992.

2. Từ điển chữ Hán:

TĐKH: Khang Hy từ điển, Tựa của Khang Hy, 1716.
TN: Từ nguyên – 1967.
TH: Từ hải – 1967.
ĐTĐ: Trung Hoa đại từ điển – Trung Hoa thư cục, 1951.
HN: Hán ngữ từ điển – Tân Hoa thư cục, 1957.
VVN: Vương Vân Ngũ Tứ giác đại từ điển – Thương Vụ ấn quán, 1930.
TVĐTĐ: Trung văn Đại từ điển, Đài Bắc, 1962-1968.

CHỮ "CHỚ" TRONG QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI – Cao Hữu Lạng

Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có khoảng 20 chữ “chớ” mang mã 渚(1). Chữ “chớ” này, nghĩa thông thường là đừng. Như ở các câu: “Chớ cậy sang mà ép nề” (44.1) “Bầu bạn cùng ta nghĩa chớ vong” (178.3) thì giảng là “đừng” là thoả đáng. Song ở một vài bài khác, nếu cũng giảng chữ “chớ” theo nghĩa đó thì hình như không thông. Như câu “Dứt vàng chăng chớ câu Hy Dịch”, chữ “chớ ở đây nếu hiểu là đừng thì câu thơ không có nghĩa.
Để tiện trình bày, xin được dẫn bài thơ ra đây:

Bầu bạn cùng ta nghĩa chớ vong.
Người kia phú quí nỡ quên lòng
Dứt vàng chăng chớ câu Hy Dịch
Khinh bạc màng ngâm thơ Cốc Phong.
Quân tử nước giao âu những lạt
Hiền nhan rượu thét họ là nồng
Một phen bạn đến còn đằm thắm.
Hai bữa mừng nhau một mặt không.

Đây là bài thứ 51 trong mục Bảo kính cảnh giới.
Bài thơ là những lời khuyên về tình bạn. Câu đầu, tác giả nêu lên đạo lý của tình bạn, nghĩa tương tự như câu chữ Hán “Bầu tiện chi giao bất khả vong”. Thừa tiếp ý trên, câu 2, chê những kẻ khi giầu sang đã nỡ quên tình bạn. Câu 3, mượn câu Kinh dịch “nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim), nghĩa là: hai người đồng lòng, có sự sắc bén chặt được vàng, ý khuyên người ta phải biết kết bạn để làm những việc lớn. Xét về cấu trúc ngữ pháp thì chữ “chớ” ở câu này phải mang chức năng động từ, và có nghĩa là “trái” (đạo). Nghĩa câu thơ là: Chẳng (đừng) trái câu “dứt vàng” (đoạn kim) trong Hy Dịch. Như thế mới hợp với nghĩa câu sau: Đừng mong ngâm thơ khinh bạch trong Cốc Phong (khinh bạc màng ngâm thơ Cốc Phong)(2).
Cũng như thế, câu 7 trong bài Giới Sắc (Phu phụ đạo thường chăng được chớ” (190.7), chữ “chớ” này cũng phải hiểu là “trái”. Toàn câu thơ có nghĩa là: “Không được trái đạo vợ chồng”. Hiểu như thế câu thơ mới có nghĩa và mới liền mạch với câu thơ sau: “Bối tông hoạ phải một đôi khi”.

Trường hợp nữa là “chớ” trong câu:
Cơm kẻ bất nhân ăn ấy chớ
Áo người vô nghĩa mặc chẳng thà…(3)
(Trần Tình, bài thứ 3)

Chữ “chớ” này cũng nên hiểu nghĩa là “trái” (đạo). Cả câu nghĩa là: “Ăn cơm của kẻ bất nhân là trái (đạo)” (chữ “ấy” có nghĩa như chữ “là”). Hiểu như vậy, vẫn bảo đảm được tinh thần bài thơ và giữ được vẻ trang nhã của câu thơ.
Thơ Nguyễn Trãi cổ điển, tinh nghiêm, từ ngữ bình dị nhưng chính xác, tập trung phục vụ cho chủ đề. Thơ Ông, chữ Hán cũng như Quốc âm, là những tứ cao diệu, tần, kỳ. Có điều thơ Quốc âm của Ông đến với chúng ta ngày nay qua một khoảng thời gian khá dài, nhiều từ ngữ đã mất đi lâu rồi mà các từ thư, từ điển không còn ghi lại được.
Việc tìm ra nghĩa của những từ cổ như chữ “chớ” sẽ làm giàu cho kho kiến thức từ ngữ Việt cổ, và giúp cho hiểu được những áng văn thơ cổ phong phú và chính xác.

CHÚ THÍCH

(1) Theo bản in Phúc Khê, năm 1868.
(2) Cốc phong: một thiên trong Kinh Thi, đại ý chê người đàn ông phụ bạc, có mới nới cũ.
(3) Câu sau: “áo người vô nghĩa mặc chẳng thà”, chẳng thà ở đây tương đương với nghĩa chẳng thèm
(4) Bài viết có tham khảo ý kiến cụ Nguyễn Si Lâm, xin ghi lời cảm ơn.

VẤN ĐỀ KHAI THÁC TỪ CỔ QUA HỆ THỐNG TỪ ĐIỂN VÀ CÁC VĂN BẢN CHỮ NÔM (Trần Trọng Dương)

  Tạp chí Hán Nôm >> TCHN từ 2006 về sau >> Tác giả >> D >> Trần Trọng Dương
Trần Trọng Dương
Vấn đề khai thác từ cổ qua hệ thống từ điển và các văn bản chữ Nôm .(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(98) 2010; Tr. 17 – 36)
Cập nhật lúc 22h50, ngày 14/12/2011
ThS. TRẦN TRỌNG DƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
1. Khái niệm
Từ trước đến nay, từ cổ vẫn là một khái niệm khá thống nhất, tuy rằng được định danh có đôi chỗ xuất nhập khác nhau.
Năm 1975, Đào Duy Anh dùng khái niệm “từ xưa” trong cuốn Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến [tr.24-27] khi nghiên cứu bốn bài phú Nôm đời Trần và sách Khóa hư lục. Ông coi từ xưa là những từ “hiện nay không dùng nữa” [tr.25]. Theo ông, từ xưa gồm hai loại: từ đơn và từ kép. Ngoài ra ông cũng coi các từ Hán đơn âm trong các văn bản cổ là một loại từ cổ: “trong số những từ xưa còn nên kể những từ đơn mượn ở chữ Hán (âm Hán Việt) để biểu hiện những khái niệm mà đời sau người ta chỉ dùng những từ Việt để biểu hiện thôi”. [tr.28]. Ông đưa ra một số ví dụ như: dụng (dùng), địch (cái sáo),huyền (cây đàn), hoặc (sai nhầm), ma (mài), đố (ghét), sương (rương) v.v… [tr.28, 33]. Đào Duy Anh cũng đề cập đến loại từ cổ mà âm đọc của nó là âm có từ trước thời Đường: “Cóc  là âm xưa của chữ giác (âm Hán Việt), thường dùng theo nghĩa là biết, có hàm ý giác ngộ: nếu mà cóc, miễn cóc một lòng” [tr.25] hay “Về cách viết chữ Nôm thì cả thảy có 24 chữ là chữ Hán đọc theo âm xưa, như loài, vì, khoe, chầy v.v…” [tr.34]. Đào Duy Anh cũng đã đề cập đến khả năng kết hợp của từ: “trong các từ xưa đáng chú ý nhất là từ vỉ. Ngày sau người ta chỉ dùng từ kép van vỉ chứ không dùng vỉ làm từ đơn, mà trong bài này thì ngoài từ kép vỉ khóc tương đương với van khóc thì có mấy chỗ dùng từ vỉ làm từ đơn, như trong các nhóm từ chốn vỉ chốn kêuđứa vỉ đứa kêu.” [tr.35] Cuối cùng, ông cũng coi một số từ theo phong cách giải âm là các từ cổ: “Đến như những chữ  giải là hợp  giải là mặc giải làthông thì đó là những từ đặc biệt thấy thường dùng trong Truyền kỳ mạn lục giải âm mà các sách đời sau thì hiếm” [tr.38].
Học giả Hoàng Xuân Hãn viết: “từ ngữ cổ là những từ ngày nay không dùng nữa, hoặc còn dùng trong một địa phương, hoặc còn sót lại trong một thành ngữ nào đó, hoặc còn dùng với nghĩa khác nhưng có liên can…” [tr.1091]. Cũng như Đào Duy Anh, ông coi “… một số từ Hán, nay không còn dùng cô độc nữa, cũng sẽ kể vào từ cổ” [tr.1091] như các từ tộ  (phù trợ phúc vận) [tr.1109], già  (chùa) [tr.1110], duộc (cái môi) [tr.1105], quốc  (nước) [tr.1108].
Năm 1984, Nguyễn Thiện Giáp viết: “Từ ngữ cổ là những từ ngữ biểu thị những đối tượng trong tiếng Việt hiện nay có các từ đồng nghĩa tương ứng. Chính sự xuất hiện của những từ đồng nghĩa tương ứng này làm cho chúng trở nên lỗi thời.” Gồm hai loại: những từ ngữ cổ đã hoàn toàn biến khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại; những từ ngữ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ vì chúng không được dùng độc lập nữa [tr.328-333].
Năm 1984, Nguyễn Thị Thanh Xuân trong cuốn Truyện Song Tinh-khảo đính, phiên âm, chú thíchcũng đưa ra quan niệm về từ cổ. Bà đặt từ cổ trong mối quan hệ với từ địa phương: “Từ cổ ở đây được hiểu một cách tổng quát là những từ có âm, nghĩa và cách đặt câu hơi khác hoặc khác hẳn các từ hoặc cách dùng thông dụng hiện nay. Trong trường hợp những từ cổ hoặc từ còn được lưu hành ở một vùng nhất định thì gọi đó là từ địa phương.” Đóng góp của Nguyễn Thị Thanh Xuân ở chỗ bà là người đầu tiên đề cập đến các phương diện nội tại của một từ cổ, bao gồm ba diện: âm, nghĩa và “cách đặt câu” (tức khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp của từ). Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ đề cập một chiều mối quan hệ giữa hai đối tượng từ cổ và từ địa phương. Về thực chất, hai khái niệm này không toàn toàn trùng khít về nội hàm cũng như ngoại diên. Chỉ có một số từ cổ được lưu hành trong vốn từ của một địa phương nào đó, nhưng không phải bất cứ từ địa phương nào cũng là từ cổ. Nếu là một từ địa phương, thì có nghĩa là từ cổ đó vẫn đang hiện dụng trong một cộng đồng ngôn ngữ nào đó, nhưng đã biến mất khỏi ngôn ngữ của cả vùng/khu vực rộng lớn hơn. Và như thế, đặc trưng nội hàm cơ bản nhất của từ cổ- “tính không hiện hành” là một khái niệm khá co dãn và linh động. Để biểu diễn mối quan hệ giữa hai khái niệm này có lẽ dùng hai vòng tròn hình học cắt nhau là hợp lý hơn cả. Dĩ nhiên, một quốc gia có bao nhiêu phương ngữ thì cũng có thể thêm bấy nhiêu vòng tròn giao cắt, và việc xác định các yếu tố ngoại diên cụ thể để chứng minh cho đồ hình này là một việc làm không đơn giản.
Vương Lộc: “Từ ngữ cổ là những từ ngữ: 1. Chỉ còn gặp trong các tác phẩm cổ chứ không tồn tại trong tiếng Việt hiện đại, như bợ là “vay”, khứng là “chịu”, mắng là “nghe”, v.v… ; 2. Gặp trong tiếng Việt hiện đại những đã thay đổi ít nhiều về mặt ngữ âm, như khách thứa là khách khứabàn nàn thànhphàn nànđam thành đem, v.v ; 3. Còn gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ do chúng không còn dùng độc lập nữa, như han trong hỏi hantác trong tuổi tácle trong song le, v.v hoặc đã thay đổi hoàn toàn về ý nghĩa như đăm chiêu không phải là “bên phải, bên trái, các phía”, lịch sựkhông phải là “từng trải”, vốn là nghĩa cổ của các từ này; 4. Còn gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng khả năng kết hợp có khác so với ngày trước như ban trong các tổ hợp ban già, ban muộn, ban nghèo, ban tà, v.v…; cái trong cái rắn, cái ve, cái vẹt, v.v…; con trong con gậy, con lều, con sách, v.v… ” [Lời nói đầu].
GS. Nguyễn Ngọc San cho rằng từ cổ “Là những từ đã được lưu lại trong các văn bản viết cổ hay văn bản miệng cổ (ca dao, tục ngữ) mà hiện nay không còn được sử dụng nữa…”[187]. Bao gồm: các từ cổ đã hoàn toàn biến mất trong kho từ vựng hiện đại; hay là từ vốn là “Những yếu tố mất nghĩa khi chúng nằm trong các tổ hợp song tiết đẳng lập và được xác định giá trị trong mối tương quan với yếu tố kia” [NNS 188-195]; trong cuốn Từ điển từ Việt cổ, giáo sư coi từ Việt cổ là những từ ngữ thuần Việt.
Nguyễn Thanh Tùng chia từ cổ làm sáu loại: 1. Những từ xưa được dùng độc lập, nay chỉ tồn tại như là yếu tố mất nghĩa, mờ nghĩa trong các tổ hợp từ như dể, ghẽ, rệt; 2. Những từ đã biến mất hoàn toàn trong kho từ vựng hiện đại, không còn được sử dụng nữa, chỉ tồn tại trong các văn bản cổ, như:mựa, bui, cày cạy; 3. Những từ chỉ còn dùng hạn chế trong các phương ngữ, thành ngữ, tục ngữ, thuật ngữ, như rồi trong ăn không ngồi rồi; 4. Những từ xưa là song tiết, nay đã rụng mất tiền tố, chỉ còn đơn tiết, như: la đá, bà cóc; 5. Những từ Hán xưa dùng độc lập nay không dùng độc lập nữa mà chỉ là những yếu tố Hán Việt dùng để cấu tạo từ; 6. Những từ còn xuất hiện nguyên dạng, nhưng nghĩa cũ đã mất, nay dùng theo nghĩa mới khác với nghĩa cũ, như: cặn kẽ (ân cần chu đáo/ sát sao, tỉ mỉ).
Như vậy có thể thấy, Đào Duy Anh dùng khái niệm từ xưa, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thiện Giáp, Vương Lộc dùng khái niệm từ ngữ cổ; Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện, Nguyễn Thanh Tùng dùng khái niệm từ cổ, hay từ Việt cổ.
Gần đây, năm 2002, trên Thế giới mới có nảy ra cuộc tranh luận giữa Bùi Thiết và An Chi về vấn đề từ cổ và từ cổ Hán Việt. Bùi Thiết cho rằng từ cổ là những từ thuần Việt được sử dụng hàng ngàn năm trở lại đây như:  (soát), rác (rưởi), rạn (nứt), rát (cổ)… [Bùi Thiết 2002a]. Ông viết: “Chẳng hạn từ ăn (…). Ăn là cái xảy ra từ khởi thủy, nên phải là từ Việt cổ chứ, nếu mới sinh ra thì từ bao giờ vậy?” [Bùi Thiết 2002b: 92] An Chi đã bác bỏ những ý kiến chủ quan “Không có kiến thức ngữ học đại cương” trên, rằng Bùi Thiết “không phân biệt được hai khái niệm ‘Việt cổ’ và ‘thuần Việt’ nên đánh đồng hai thứ này với nhau” [An Chi 2004:584]. An Chi quan niệm “… Từ Việt cổ là những từ nay không còn dùng nữa, thí dụ: áng (= đám), bời (= nhiều), cái (= mẹ), đồng (= gương), v.v… An Chi cũng đã trích dẫn một số định nghĩa của giới ngữ học quốc tế về từ cổ. “Từ cổ (Anh: archaism, Pháp: archaïsme) là “a form no longer in current use”, nghĩa là “một hình thái không còn hiện dụng nữa’” [Mario Pei. 1996. Glossary ofLinguistic Terminology. New York]; “no longer in general circulation” [R.E.Asher. 1994. The Encyclopedia of Language and Linguistic (10 vols). Pergamon Press. 5.644 pp].
Chúng tôi quan niệm từ cổ là những từ chỉ xuất hiện trong các văn bản Nôm hay quốc ngữ từ đầu thế kỷ XX trở về trước. Từ cổ là những từ người hiện nay không thể hiểu được nếu không sử dụng các loại từ điển để tra cứu, hoặc không đối chiếu với nguyên tác Hán văn (với những trường hợp giải âm, giải nghĩa), từ cổ có thể có nguồn gốc khác nhau (thuần Việt, thuần Hán hay giao thoa Hán- Việt). Theo ba mặt nghĩa, âm và khả năng kết hợp, từ Việt cổ có thể chia làm 3 loại [cụ thể xem Trần Trọng Dương 2006, 2007]Tuy nhiên, bài viết này nhằm mục đích nêu ra những phạm vi tư liệu mà từ cổ tồn tại, bao gồm các từ điển cổ, các từ điển từ cổ và các tác phẩm chữ Nôm.
2. Những phạm vi tư liệu để khai thác từ cổ
Khi nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt cổ, không ai là không để ý đến hai hệ thống tư liệu rất quan trọng. Thứ nhất là hệ thống các từ điển cổ; thứ hai là hệ thống các tác phẩm cổ (gồm văn bản chữ Nôm và văn bản chữ quốc ngữ). Hệ thống từ điển cổ cũng chia làm hai loại:1.Loại từ điển Hán – Việt được viết bằng chữ khối vuông do chính người Việt biên soạn; 2.Hệ thống từ điển song ngữ hay tam ngữ do các nhà truyền giáo phương Tây biên soạn.
Và vấn đề mà bài viết muốn đề cập đến là sự tồn tại của từ cổ trong các từ điển cổ và từ điển mới biên soạn. Cũng cần phải nêu qua cách phân định từ điển cổ và từ điển mới biên soạn. Dĩ nhiên việc phân định này là khá tương đối. Tạm thời, chúng tôi coi những từ điển được biên soạn trong giai đoạn trung đại và giai đoạn cận đại (tức trước năm 1945) là các từ điển cổ(1). Nhưng cũng có những từ điển được biên soạn trước năm 1945 lại không phải là từ điển cổ, vì những tiêu chí khác(2).
2.1.Hệ thống các từ điển/ tự điển cổ
Từ điển cổ là những từ điển được biên soạn từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước. Hệ thống các từ điển cung cấp dữ liệu về từ Việt cổ thường được biên soạn với nhiều mục đích khác nhau với nhiều phương thức và ngôn ngữ, văn tự khác nhau. Tác giả của các từ điển này có thể là tăng sư, Phật tử, Nho sĩ, vua chúa người Việt hoặc là giáo sĩ Thiên chúa giáo.
Các tự điển của Nho sĩ
Từ đặc trưng của tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ đơn lập đơn tiết, không chắp dính, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử của những yếu tố văn hóa khu vực, các tự điển Hán – Việt là một trong những sản phẩm đặc trưng của Việt Nam trong thời trung đại. Các tự điển này được xếp vào loại từ điển đối chiếu [Nguyễn Thiện Giáp 2005:94] mang tính giáo khoa thư [Phạm Văn Khoái 1995].
Cuốn từ điển cổ nhất là An Nam dịch ngữ(3) , cuốn Từ vựng Hán Việt đối chiếu do người Trung Quốc đời Minh biên soạn vào khoảng thế kỷ XV-XVI [Vương Lộc 1997: I]. Các chuyên luận nghiên cứu tác phẩm này chủ yếu tiến hành tái lập ngữ âm tiếng Việt. Tuy nhiên, qua những thành quả của các nhà khoa học, những người quan tâm có thể dựa vào đó để khai thác vốn từ cổ của thế kỷ XV-XVI. Trước nay, đã có một số học giả khai thác theo hướng này là Nguyễn Tài Cẩn, Vương Lộc, Nguyễn Ngọc San, Kiều Thu Hoạch, Hoàng Thị Ngọ v.v… Một số trường hợp hay được đề cập đến là blời, la đá… Trần Xuân Ngọc Lan [1999] đã có góp ý về 18 trường hợp trong bảng tái lập của Gaspadone, từ những góp ý này, ta có thể có thêm một số từ cổ, như: tóc xong (tóc mượt), ông voi sừngdớ (bít tất). Công việc cần làm là thống kê các từ cổ trong bảng tái lập của Vương Lộc.
Cuốn từ điển thứ hai là Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa(4) Cuốn này lần đầu tiên được Trần Văn Giáp giới thiệu trong một bài viết trên Tạp chí Văn sử địa năm 1969 và sau được in trong Lược khảo về vấn đề chữ Nôm năm 2002 tại Ngày nay Publishing [6-9]. Trần Xuân Ngọc Lan cũng đã thực hiện luận án Tiến sĩ mang tên Sơ bộ khảo sát quyển từ điển Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, trong đó tác giả giành riêng một phần để nghiên cứu từ vựng cổ [53-59, 64-73]. Phần đóng góp lớn nhất của tác giả là phần phiên âm và chú thích văn bản tác phẩm này. Các từ cổ mà bà nêu ra là rất thú vị, như: tu rích, cang la, nồng nàn… Hoàng Thị Ngọ [2001] thống kê được 218 từ cổ trong tác phẩm này, trong đó có: lù và (tù và), mặt mả (mặt nạ), miệt (giầy dép), ống (súng), gian (nhiều màu), mùi tui (rau mùi), cải lú bú (cải củ),nang (cau), nếp ác (nếp đen), nếp vang (nếp đỏ), nghệ máu (nghệ đỏ), lòm (đỏ), song (lắm), mèn(nhỏ), chan (nhiều), hèo (hiệu nghiệm), tít (thít, thắt), dịu dàng (mịn màng), đang dạ (ưa thích), yêu đang (yêu đương)… tác giả nhận xét: “có thể nói đó là sự bổ sung, góp mặt đáng kể vào các từ điển cổ, để từ đó làm cơ sở giải mã những tồn nghi hoặc xác định lại các từ đã bị thay thế khi phiên âm các văn bản từ Nôm ra quốc ngữ” [tr.410].
Cuốn tự điển thứ ba là cuốn Tam thiên tự(5) (hay Tự học toản yếu) của Ngô Thời Nhiệm được biên soạn vào cuối thế kỷ XVIII. Bản Vũ Khoa và bản 1938 được đề cập và nghiên cứu sơ bộ trong bài viết của giáo sư Nguyễn Đình Hòa trên Mon-Khmer Study. Trong đó, ông cũng đã đề cập đến một số từ địa phương cổ vùng Phát Diệm Ninh Bình như: lả, lọn, tua, lái… [Nguyễn Đình Hòa 1995 171-172]. Ông cũng đã quan tâm đến một số từ láy cổ, như: cút cút, chắm chắm, đáu đáu, óng óng, rẫy rẫy… [171-172]. Tuy nhiên, lối phiên âm từ Nôm sang quốc ngữ của ông lại không phân biệt vấn đề tái lập ngữ âm và từ cổ. Cuốn tiếp theo là Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca(6). Năm 1971, GS. Trần Kinh Hòa đã công bố bản phiên âm tại đại học Hồng Kông. Cùng năm đó Nguyễn Hữu Quỳ cũng công bố một bản phiên âm khác tại Sài Gòn, do Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa bảo trợ và ấn hành. Năm 1995, Nguyễn Đình Hòa đã có bài nghiên cứu về cuốn sách dựa trên tư liệu bản của Trần Kinh Hòa. Trong đó ông có đề cập đến một số từ cổ trong tác phẩm này: “nó còn cung cấp các tự vị của tiếng Việt thế kỷ XIX và tự dạng Nôm của chúng. Một ví dụ là chữ buông lung  được dùng để dịch từ Hán dịch đảng (là kẻ buông lung khác người). Hay như từ nốc  (thuyền nhỏ) [295] và xấp xỏa 習妥[297] mà âm hiện nay là chập chõa/ chập cheng.” [ NDH 1995: 213]. Tuy nhiên, việc khảo sát từ cổ của ông chỉ giới hạn qua mấy từ trên. Gần đây Đoàn Khoách công bố một bài nghiên cứu về chữ Nôm trênwww.viethoc.org. Năm 2006, Hà Đăng Việt trong luận văn Thạc sĩ cũng lấy chữ Nôm trong tác phẩm làm đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, vấn đề khai thác từ cổ chưa được các tác giả trên đề cập đến, ngoài Nguyễn Ngọc San và Đinh Văn Thiện.
Ngoài những tác phẩm trên, từ điển Hán Việt cổ còn có Đại Nam quốc ngữ(7) của Nguyễn Văn San, Nhất thiên tự của tác giả vô danh, Nhật dụng thường đàm(8) của Phạm Đình Hổ. Nam phương danh vật bị khảo(9) của Đặng Xuân Bảng, Nan tự giải âm(10)Thiên tự văn giải âm(11) của Vũ Quốc Trân, Tự loại diễn nghĩa và Ngũ thiên tự(12).
2.1.2. Từ điển của các giáo sĩ
Nhằm mục đích truyền giáo, các giáo sĩ phương Tây đã biên soạn một số cuốn từ điển. Văn tự được sử dụng trong các từ điển này là hệ chữ cái Latinh (Quốc ngữ, Pháp, Latin, Bồ), chữ Hán, chữ Nôm. Ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Latinh, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Hoa. Trong số 19 cuốn từ điển(13) loại này, có hai tác giả người Việt là Huình Tịnh Paulus Của và Trương Vĩnh Ký. Trong đó, có 12 quyển là từ điển đối dịch Việt sang một số tiếng Tây. Gần đây Ngô Thanh Nhàn và Mai Bá Triều còn phát hiện thêm một tư liệu mới của Peter Stephen Du Poncea(14).
Thú vị nhất là cuốn từ điển tường giải Đại Nam quấc âm tự vị(15) của P. Của. Năm 2003, sau khi xử lý ranh giới từ và thành ngữ, Lê Quang Thiêm đã đưa ra những số liệu thú vị như sau: “Tổng số đơn vị là 70.971 từ và thành ngữ, trong đó, mục từ là 28.896 đơn vị. Tổng số những tổ hợp hoặc từ ngữ mà nay không còn dùng là 31.304 tổ hợp. Như vậy, tỉ lệ của mục từ, ngữ chiếm 48% trong tổng số lượng những tổ hợp mà Huình Tịnh Của đưa vào để giải thích. Số lượng 52% tổ hợp là những cụm từ tự do hoặc là những từ trước đây dùng hay không dùng nữa.” [2003:54-55]. Tác giả cũng đưa ra những số liệu thú vị do Khoa Ngôn ngữ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thống kê: “Theo tài liệu đối chiếu hai từ điển ĐNQATV với TĐTV là từ điển khá chuẩn mực, bảng từ có tính phổ biến cao, con số mất đi của ĐNQATV lên đến 71,39%” [55], đồng thời so sánh với tự điển của A.de Rhodes gồm 9.000 mục từ và hơn 1 vạn từ ngữ khác được dẫn ra trong các mục từ vì có liên quan đến nghĩa mục từ [54]. Sau khi đã loại bỏ các từ ngữ lịch sử, tiếng nghề nghiệp, thuật ngữ, thì cuốn từ điển có 4,94% từ cổ, 3,33% từ địa phương [57], tác giả cũng đưa ra một số trường hợp làm ví dụ.
2.2. Các từ điển hiện đại
Trước nay người ta thường không quan niệm rằng: các từ cổ chỉ xuất hiện trong các văn bản Nôm cổ (thành văn hay truyền khẩu). Thực tế phức tạp hơn, từ Việt cổ cũng có thể được ghi nhận trong các văn bản Hán văn Việt Nam (tương tự như chữ Nôm, và dĩ nhiên văn tự ghi tiếng Việt ở trường hợp này là chữ Nôm) ví dụ như: từ cái trong Bố Cái Đại vương; từ Việt cổ cũng có thể xuất hiện ở các văn bản hiện đại qua hệ thống tục ngữ ca dao, hò vè… và lại được cố định văn bản qua hệ thống chữ quốc ngữ với nhiều phương thức định hình văn bản khác nhau, ví dụ: “No cơm ấm cật, dậm dật đôi chân”. Từ cổ có thể vẫn nằm trong hệ thống địa danh, ví dụ như từ: lò sũ, câu lậu, mê kông…và từ cổ được sưu tập trong các cuốn từ điển hiện đại.
Như trên, chúng tôi đã đề cập đến sự tồn tại của các từ cổ trong từ điển hiện đại qua trường hợp từ điển Hán Việt Thiều Chửu. Phần này, chúng tôi sẽ đề cập đến sự ghi nhận các từ cổ trong hệ thống từ điển tiếng Việt hiện đại (từ 1945 đến nay). Bởi có một thực tế là, không phải từ nào được ghi nhận trong từ điển cũng là từ hay dùng mà có thể có những từ đang bị dùng ít đi, có những từ đang mờ dần nghĩa hay cách kết hợp và có cả những từ hoàn toàn không còn được sử dụng trong xã hội nữa.
Tuy nhiên, sự phân bổ từ cổ trong các từ điển mới soạn có mức độ đậm nhạt khác nhau tùy theo mục đích, tính chất hay cách thức làm việc/ biên soạn của tác giả. Tạm thời có thể chia làm năm loại: 1.Từ điển tiếng Việt; 2.Từ điển phương ngữ; 3.Bảng tra/từ điển tác phẩm; 4.Từ điển chữ Nôm và 5.Từ điển từ cổ.
2.2.1.Các từ điển tiếng Việt
Sau từ điển của P.Của, phải kể đến từ điển tường giải tiếng Việt khá sớm là cuốn Việt Nam tự điển của Ban Văn học – Hội Khai trí Tiến đức, do Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931. Từ điển này tuy được xuất bản trước thời điểm năm 1945, nhưng đây vẫn được coi là cuốn từ điển tiếng Việt hiện đại đầu tiên được biên soạn theo những tiêu chí khá hiện đại của một số trí thức Tây học thời bấy giờ. Tuy mang tầm vóc của một cuốn từ điển tiếng Việt, cuốn sách này có xu hướng thiên về ngôn ngữ văn học. Điều này thể hiện rõ qua danh mục 31 tác phẩm trung-cận đại bằng chữ Nôm. Chính vì thế, khá nhiều từ cổ được ghi nhận trong cuốn từ điển này, mỗi từ có lại có dẫn thêm dăm ba văn liệu hay thi liệu, ví dụ như: chưng [142], chương [143] dái (sợ) [145], dạm [145], dặng [148], dấu [150]…
Năm 1951, cuốn Tự điển Việt Nam phổ thông(16) của Đào Văn Tập được xuất bản. Vì tính hiện đại nên tác giả “Chú trọng tới những nghĩa hiện đại và chỉ đề cập đến ngữ nguyên là khi nào nhận thấy tối cần”. Tác giả dẫn dụng thêm văn liệu. Vì vậy, cuốn từ điển này cũng ghi nhận một số ít từ cổ. Trong phần sách tham khảo, tác giả dẫn một số từ điển đáng chú ý như: từ điển của P.Của, Khai trí Tiến đức,Văn liệu tự điển của Nguyễn Văn Minh (Quảng Văn Thành- Hà Nội, 1942), Tầm nguyên từ điển của Lê Văn Hòe (Quốc học thư xã, H. 1941).
Cùng năm 1951, Lê Thanh Nghị ra cuốn Việt Nam tân tự điển. Cuốn này tác giả dụng công làm thêm phần tiếng Pháp và đặc biệt là chú thêm phần chức năng ngữ pháp (tính từ, danh từ…), chú cho các từ xưa, cho phương ngữ. Cuốn từ điển dẫn dụng một số tác phẩm văn chương cổ và bổ sung các văn liệu mới. Các từ cổ có thể sẽ được chú dưới ba dạng (xưa), ít dùng (itd), không dùng một mình (khd), hay phương ngữ (ph.ng) và cũng có thể không được chú gì ngoài phần chú về chức năng ngữ pháp. Ví dụ, từ chưng chỉ được chú là trạng từ (tr.t).
Các từ điển tiếng Việt của Văn Tân hay của Viện Ngôn ngữ học sau này càng ngày càng đầy đủ và cập nhật hơn. Tuy nhiên, các từ cổ vẫn được giữ lại và có khi được bổ sung do phạm vi văn liệu ngày càng được mở rộng. Từ cổ có thể xuất hiện ở những mục từ có chú thích là cũ, phương ngữ (ph.),văn chương (vch), trang trọng (trtr) và ít dùng (id).
2.2.2.Các từ điển phương ngữ
Như trên đã nói về loại từ cổ đã biến mất trong tiếng phổ thông nhưng vẫn còn tồn tại trong một số phương ngữ còn bảo lưu các yếu tố cổ. Vì vậy, các từ điển phương ngữ là một trong những khu vực xuất hiện của từ cổ.
Cuốn từ điển phương ngữ đáng kể đến trước tiên là cuốn Từ điển đối chiếu từ địa phương do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2001. Các từ địa phương trong cuốn sách được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: từ kết quả điều tra điền dã, từ các từ điển tiếng Việt xuất bản ở Hà Nội và Sài Gòn từ năm 1930 đến 1998, từ các sách báo và tạp chí ấn hành tại địa phương, các sách về địa phương chí, các luận văn luận án của sinh viên và nghiên cứu sinh về vấn đề này. Vì vậy, đây là một cuốn sách công cụ khá hữu hiệu dùng để tra cứu và xác định từ cổ, bởi nữa mỗi từ đều được ghi rõ nằm ở vùng phương ngữ nào.
Cuốn Từ điển tiếng Nghệ của Trần Hữu Thung và Thái Kim Đỉnh cũng có thể coi là tư liệu quan trọng để tra cứu. Như tác giả viết trong phần Vài lời trao đổi: “Tiếng nói của người dân xứ Nghệ vẫn còn giữ được rất nhiều từ cổ. Những từ: chiềng, chạ, ỏi min… rõ ràng là rất cổ. Nhưng trong đó, từ nào mang tính bản địa nhiều hơn? Ví dụ với từ chiềng, chúng tôi thấy trong Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự dùng 6 lần, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du dùng 1 lần… những từ nác (nước), tru (trâu), mun (tro),cươi (sân), ghín (gành)… rõ ràng là rất… Nghệ.”[5].
Trong cuốn Phương ngữ Bình Trị Thiên, Võ Xuân Trang cung cấp Bảng từ vựng phương ngữ Bình Trị Thiên [215-276]. Như GS. Cao Xuân Hạo viết thì Bình Trị Thiên là vũng phương ngữ còn lưu giữ nhiều nét cổ nhất của tiếng Việt [VXT 1997:7]. Cuốn Từ điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức là một công trình đồ sộ về vùng phương ngữ Huế (dày 1038 trang, khổ 18x26cm), in lần 1 năm 2001 tại Califonia, lần 2 là 2002 tại Sài Gòn. Ông viết: “Chúng tôi không quên các tiếng Huế xưa, “tiếng Huế cổ”. Một thời Cố A.de Rhodes đã ở lâu ngày tại Thuận -Hóa, thuộc xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn, do đó sách Từ điển Việt-Bồ-La (năm 1651) của ông đã là nguồn tra cứu của chúng tôi” [BMĐ 2004: 14-15]. Cuốn Từ điển phương ngữ Nam bộ do Nguyễn Văn Ái chủ biên (Nxb. Tp. Hồ chí Minh,1994). “Trong tập sách này, các từ ngữ địa phương được đối chiếu, giải thích bằng từ ngữ tương ứng của phương ngữ Bắc Bộ mà các nhà ngôn ngữ học coi là phương ngữ cơ sở của tiếng Việt phổ thông và tiếng Việt chuẩn mực” [NVÁ 1994:6].
2.2.3. Các bảng tra/từ điển tác phẩm
Phần tự vị (Bảng chỉ tiếng cổ) cuối sách Chinh phụ ngâm bị khảo của Hoàng Xuân Hãn [Nxb. Minh Tân. Paris 1953; tb lần 1, Nxb. Văn hóa, H.1993; tb lần 2. Nxb.Giáo dục, H. 1997, tr.237-526]. “Trong tự vị nầy, tôi để ý đến các chữ cổ, hoặc chữ thường nhưng nghĩa cổ. Còn các chữ Hán, hoặc điển tích thì cũng có chú thích…” [1997:460]. Phần tự vị cuối sách Bích câu kỳ ngộ (chuyện Tú Uyên) của Hoàng Xuân Hãn [1964; 1997: 527-712]: “Phần nầy ghi tất cả những tiếng dùng trong chuyện Bích- Câu kỳ- ngộ hoặc khó, hoặc dùng với nghĩa đặc biệt, hoặc có thể hiểu lầm… Sau mỗi chữ có giảng nghĩa thì sẽ đề rõ chữ ấy ở vế nào. Vì hiện nay còn thiếu từ điển văn liệu, tôi sẽ giải rõ những điển tích nguồn gốc của thành ngữ.” [1997:664-709] Bảng từ cổ trong sách Thiền tông bản hạnh của Hoàng Xuân Hãn công bố lần đầu trong bài viết Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần – Lê năm 1970-1980 trên tập san KHXH (Paris) [Nxb. Giáo dục, tb 1998: tr.1079-1265]. Bảng này gồm có 160 từ cổ xuất hiện trong bốn bài phú Nôm đời Trần có dẫn dụng bàng chứng từ các từ điển cổ và tác phẩm văn chương cổ.
Hoàng Thị Ngọ trong cuốn Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’ cung cấp hai bảng tra hữu ích: 1.Bảng thống kê các từ ngữ cổ trong văn bản Phật thuyết[1999: 126-131] và 2.Sách dẫn chữ Nôm trong toàn bộ tác phẩm, phần này có cả xuất xứ và tần số, rất hữu dụng [1999:180-212]. Bảng ghi từ cổ và từ địa phương [233-235] trong cuốn Truyện Song tinh do Nguyễn Thị Thanh Xuân khảo đính, phiên âm và chú thích [1984]. Đây là bảng tra hữu ích đối với các từ cổ vào quãng cuối thế kỷ XVII đầu XVIII ở xứ Đàng Trong. Phần Sách dẫn từ Nôm cổ qua Tân biên truyền kỳ mạn lục [271-320] trong Tân biên Truyền kỳ mạn lục – tác phẩm Nôm thế kỷ XVI của Hoàng Thị Hồng Cẩm và Bảng từ cổ trong cuốn Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua Thiên Nam ngữ lục của Nguyễn Thị Lâm (2006) cũng là công cụ cần chú ý.
Cuốn Từ ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu của Nguyễn Thạch Giang [Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 2000.] thu thập 3000 từ ngữ trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập. Vì vậy, đây cũng là cuốn sách tham khảo và tra cứu từ cổ tương đối hữu ích. Trước đó, còn có cuốn Từ ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu – Thơ và văn tế của Nguyễn Quảng Tuân và Nguyễn Khắc Thuần [Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1987. “Với tập này, chúng tôi thống kê và giải nghĩa những từ ngữ tương đối khó hiểu trong tác phẩm thuộc thể loại thơ và văn tế của Nguyễn Đình Chiểu… Chúng tôi coi đây mới chỉ là công việc chuẩn bị cho công trình biên soạn bộ từ điển về Nguyễn Đình Chiểu sau này mà thôi.” [1987: 6]. Hai tác giả này còn có cuốn Từ điển Lục Vân Tiên [1989], đây là cuốn từ điển tác phẩm thứ hai, sau Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh. Ngoài ra cũng phải kể đến phần Bảng tra chữ Nôm [737-848] trong cuốn Ngư Tiều vấn đáp y thuật do Lê Quý Ngưu phiên âm chú thích [Nxb. Thuận Hóa, Huế. 2006]. Bảng tra xếp theo ABC, có chua chữ Nôm và xuất xứ. Cả ba cuốn trên, là bảng tra hữu ích các từ cổ trong tác phẩm của cụ đồ Chiểu- đại diện tiêu biểu cho ngôn ngữ văn học Gia Định – Nam Kì cuối thế kỷ XIX.
Cuốn từ điển tác phẩm hữu dụng nhất là Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh [Nxb. KHXH, H. 1974]. Năm 1989, cuốn này đã được Phan Ngọc “Khoa học hóa và hiện đại hóa công việc của thế hệ trước mà nâng công trình của Đào Duy Anh lên hàng từ điển ngữ văn theo quan điểm của ngôn ngữ học.” (lời của Phan Ngọc) [Nxb. KHXH, H. 1989]. Tuy nhiên, những công trình tương đương như vậy hiện nay vẫn chưa thấy xuất hiện nhiều. Mặt khác, cuốn từ điển này đang có xu hướng không được cập nhật. Bởi chục năm trở lại đây, cùng với việc phát hiện nhiều bản Nôm cổ, ngành Kiều học, cũng như việc nghiên cứu từ cổ đã có nhiều bước phát triển với sự đóng góp của nhiều thế hệ nghiên cứu già trẻ, trong cũng như ngoài nước, như: Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Quảng Tuân, An Chi, Đào Thái Tôn, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Tuấn Cường… Cần phải có một bài viết tổng thuật tình hình nghiên cứu từ cổ qua các bản Kiều Nôm, tuy nhiên đó là công việc trong tương lai.
2.2.4. Các tự điển chữ Nôm
Các từ điển chữ Nôm đương nhiên sẽ thu thập nhiều từ cổ. Bảng tra chữ Nôm của Viện Ngôn ngữ học, mấy cuốn tự điển của Vũ Văn Kính chỉ thống kê văn tự, thì một số từ điển chữ Nôm gần đây đều dẫn dụng khá nhiều văn liệu. Đầu tiên phải kể đến cuốn Tự vị lịch sử chữ Nôm(17) của Paul Schneider [1992]. Cuốn tự vị này là sưu tâp khá công phu về từ vựng lịch sử tiếng Việt qua các văn bản Nôm. Trong đó sưu tập khá nhiều từ cổ.
Tự điển chữ Nôm (Tự điển chữ Nôm Việt) của Viện Nghiên cứu Hán Nôm do Nguyễn Quang Hồng chủ biên [Nxb. Giáo dục, 2006, 1546 tr.], cuốn tự điển này được coi là cuốn sách hữu dụng nhất hiện nay, gồm 12.000 mã chữ Nôm, mỗi mã đều có xuất xứ trích dẫn từ 50 cuốn sách và từ điển Nôm từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XX về nhiều lãnh vực của văn hóa cổ truyền Việt Nam như: văn học, tôn giáo, tư tưởng, lịch sử, từ điển… “Gặp những trường hợp mà một chữ đơn tiết như thế tự thân không có nghĩa hoặc không rõ nghĩa, thì sẽ giải thích chúng thông qua các từ ngữ song tiết hoặc đa tiết hữu quan… In case such a character has no meaning in itself or its meaning is not at all clear, its sematic content is interpreted around an approciate dissyllabic or polysyllabic character.” [TDNV: 18-19; 21-22]
Từ điển chữ Nôm của hai tác giả Trương Đình Tín và Lê Quý Ngưu [Nxb.Thuận Hóa.2003] gồm hai tập. Tư liệu cũng được trích dẫn gần như cuốn của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có đôi chỗ dẫn liệu khác, nhưng cách làm rườm rà. Tập hai (xếp theo bộ thủ) thì chỉ cần rút lại thành một bảng tra là hợp lý. Ngoài ra cũng phải kể đến cuốn Tự điển chữ Nôm trích dẫn của Viện Việt học Hoa Kỳ, bản online với khoảng 10.000 mã chữ Unicode cho phép tra cứu chữ Nôm và dẫn liệu trong 51 tác phẩm cổ. Trong danh mục này có khá nhiều tác phẩm không trùng với danh mục dẫn liệu của TĐCN Viện Nghiên cứu Hán Nôm, như: Ngọa Long cương vãn của Đào Duy Từ (1572-1634), Kim cương kinh giải lý mụcSự lý dung thông của Hương Hải (1628-1715), Song Tinh bất dạ của Nguyễn Hữu Hào (?-1713), Nam phong giải trào của Trần Danh Án (1754-1794), Thánh giáo yếu lý của Bỉ Nhu (XVIII), Hoài Nam ký của Hoàng Quang (?-1801)… Hiện Viện Việt học đã tiến hành làm bản offline và bản in.
2.2.5. Các từ điển từ cổ
Từ điển từ cổ thuộc loại từ điển chuyên đề. Đến nay, có hai cuốn loại này. Từ điển từ cổ của Vương Lộc [2001]. Trong Lời nói đầu tác giả có đưa ra khái niệm về từ cổ, như chúng tôi đã lược nêu ở trên. Cuốn này, dẫn dụng 66 tác phẩm Nôm và bảy cuốn từ điển tham khảo. Cuốn thứ hai là Từ điển từ Việt cổ của Nguyễn Ngọc San và Đinh Văn Thiện. An Chi đã có những phủ chính trong Kiến thức Ngày nay số 378. Những phủ chính này đã được sửa trong lần tái bản sau. Cuốn sách có dẫn dụng 55 tác phẩm cổ. Tuy nhiên, khái niệm về từ cổ cần được thảo luận kỹ hơn, vì trong quá trình sưu tập tư liệu, phiên âm tác phẩm sẽ nảy sinh những yếu tố mới, cách quan niệm mới khiến kho nội hàm của khái niệm này sẽ có những biến đổi. Song, đây không phải là nội dung của bài viết.
3. Vấn đề khai thác từ cổ qua từ điển và văn bản Nôm
Các loại từ điển đã nêu trên (nhất là các từ điển cổ và từ điển từ cổ) được coi là công cụ tra cứu hữu hiệu không chỉ đối với người học mà với cả những người làm công tác phiên chú, dịch thuật và nghiên cứu. Từ điển cổ, các tác phẩm cổ (Nôm, Quốc ngữ) và từ điển hiện đại có thể coi là ba khu vực xuất hiện của từ cổ. Đây có thể là thế chân kiềng về sự phân bố của chúng. Tuy nhiên, tính chất của sự phân bố này thì không giống nhau. Bản thân các từ điển cổ và tác phẩm Nôm là những sản phẩm mang tính lịch sử. Các từ cổ được ghi nhận và được sử dụng với tư cách là những đơn vị của sinh ngữ. Đó là thứ tư liệu “hóa thạch” quý báu.
Về mối quan hệ giữa từ điển cổ và tư liệu Nôm cũng cần thảo luận thêm. Tư liệu Nôm được coi là kho dẫn dụng, kho tư liệu cho các nhà biên soạn từ điển cổ, ví dụ như P.Của, Génibrel. Với hệ từ điển từ De Rhodes đến Taberd, Bỉ Nhu thì tình hình có khác; các soạn giả này, hầu như không thái dụng các tư liệu từ tác phẩm Nôm. Còn những tự điển Hán Việt cổ thì lại không mang tính chất tra cứu, mà mang tính giáo khoa thư, giúp ích cho việc học và nhớ chữ. Loại này nên nhập vào loại sách tư liệu Hán Nôm.
Từ hai nguồn tư liệu trên, các soạn giả hiện đại tiến hành biên trứ các từ điển hiện nay. Tác phẩm Nôm là kho tư liệu. Từ điển cổ vừa là kho tư liệu vừa là công cụ tra cứu và kiểm chứng. Tuy nhiên, hai cuốn từ điển của Vương Lộc, Nguyễn Ngọc San dường như không thu nạp và thống kê hết các từ cổ trong các từ điển cổ, mà chỉ sử dụng chúng để xác định các mục từ được nêu ra từ các tác phẩm Nôm. Có thể hình dung theo sơ đồ sau:
Vòng tròn to (A): từ điển cổ; vòng tròn nhỏ (B) từ điển từ cổ. Như thế những ví dụ trong (B) chỉ là tập con của (A).
Mặt khác, một số từ điển cổ cũng lấy văn liệu trong các tác phẩm Nôm (quy ước là C). Và như thế, sẽ có những từ cổ vừa xuất hiện ở (C) vừa xuất hiện ở (A). Nhưng các tác phẩm được dẫn dụng ở (C) lại chỉ giới hạn trong Truyện Kiều, hay Chinh phụ ngâm… Điều này dẫn đến hệ quả là, có những từ chỉ có ở (C) mà không có ở (A). Các soạn giả từ điển còn lấy tư liệu điền dã ở các khu giáo dân từ Trung Bộ đến Bắc Bộ, hầu hết là các tư liệu thực địa, là lời ăn tiếng nói hàng ngày, không phải là ngôn ngữ văn học. Điều này dẫn đến hệ quả thứ hai là có những từ cổ chỉ có ở (A) mà không xuất hiện ở (C). Tình hình trên có thể biểu diễn qua sơ đồ sau:
Mối quan hệ giữa các từ điển từ cổ và tác phẩm Nôm có thể biểu diễn như sau:
Từ ba sơ đồ trên, ta có thể đưa ra sơ đồ tổng quát về mối quan hệ giữa ba khu vực phân bố từ cổ:
Đặc điểm của (A) là tính bất khả biến, tức không thể co dãn được. Bởi số lượng từ điển cổ là con số xác định. Trong tình hình tư liệu hiện nay, khó có thể tìm thêm được một cuốn từ điển cổ nào kiểu như từ điển của De Rhodes hay P.Của. Đặc điểm của (C) là tính khả biến, tuy rằng độ co dãn không cao. Với con số tư liệu hơn 1350 văn bản Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, với vài trăm tư liệu lưu trữ ở các nơi khác tại Việt Nam (Viện Văn học, Viện Sử học, Trung tâm lưu trữ quốc gia, các tài liệu dân gian…) cũng như ở nước ngoài (Anh, Pháp, Nhật, Hà Lan, Vaticant…) thì độ co dãn của nó không đến nỗi quá nhỏ.
Công việc cần thực hiện tiếp tới  xác định nội hàm của khái niệm từ cổ. Sau đó, tiến hành thu thập toàn bộ các từ cổ trong nhóm (A). Công việc này cũng không đơn giản. Bởi, không phải mục từ nào trong (A) cũng là tri thức chuẩn xác. Trước nay đã có một số nhà nghiên cứu đề cập vấn đến vấn đề này, như An Chi(17). Ông nhấn mạnh rằng: “chính cách ghi nhận và cách giải thích của A.de.Rhodes ở nhiều chỗ cũng có vấn đề”(đây là điểm rất quan trọng – TTD nhấn mạnh) [Xem An Chi 131-136]. Xin nêu thêm một ví dụ: trong mục từ tạn ghi “nước lên tạn gỗ”, nhưng có lẽ phải là “nước lên tạn cổ” (nghe/ghi nhầm / c / thành / g /) [Chuyện riêng NHV]ư. Việc biên soạn một cuốn từ điển từ cổ trong đó thu thập toàn bộ các dữ liệu của từ điển cổ là công việc cần thiết. Điều này có nghĩa là làm cho các khu vực từ cổ của (B) trùng khít với toàn bộ đơn vị từ cổ của (A) nên các đơn vị từ cổ nằm trong (A) chúng tôi tạm ký hiệu là (A’). Tức là (B) sẽ đồng dạng với (A’).
Chúng ta sẽ có sơ đồ sau:
Bước thứ ba là tiến hành thống kê và sưu tầm toàn bộ các từ cổ xuất hiện ở trong (C). Muốn thực hiện được bước này, trước hết (C) phải được phiên chuyển hết sang chữ Quốc ngữ. Và trong quá trình phiên chuyển, việc giải mã các chữ Nôm ghi các đơn vị từ cổ chưa từng xuất hiện ở (A) và (B) là việc làm khó khăn nhất. Nhưng đây cũng là khâu có đóng góp và thú vị hơn cả. Trong bảng từ cổ của bốn bài phú đời Trần, Hoàng Xuân Hãn có nêu ra một trường hợp về loại từ cổ này: “Mục mục –Từ đã mất. Ý là trỏ tiếng hạt nước rơi đều đều.4/18” [1998:1107]. HXH chú mấy chữ “từ đã mất” ý muốn nói từ này đến thời A.de. Rhodes đã mất rồi, vì không hề được từ điển nào ghi nhận. Như thế, nếu thu thập được hết các từ cổ ở khu vực (C) ta sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về từ cổ. Ta tạm gọi các từ cổ ở (C) là (C’). Lúc này, ta có thể hình dung một cuốn từ điển từ cổ (B) theo mô hình sau:
Mô hình tư liệu để biên soạn cuốn từ điển lịch sử tiếng Việt (tạm kí hiệu là V) sẽ được thể hiện qua phương trình (V) = (A) + (A’+ C’) + (C) với sơ đồ dưới. Và nếu làm tốt thao tác văn bản học, chúng ta có thể tiến tới biên soạn một cuốn (N) có thông tin niên đại xác tín về sự xuất hiện, thay đổi ngữ nghĩa hay biến mất cho từng mục từ cụ thể trong suốt lịch sử phát triển của tiếng Việt (thời kì thành văn- chữ Nôm, quốc ngữ).
Tiểu kết: Bài viết điểm qua về lịch sử khái niệm từ cổ làm cơ sở xác định nội hàm của khái niệm này để từ đó giúp ích cho việc sưu tầm ngoại diên của nó. Bài viết cũng lược điểm ba khu vực tồn tại/ghi nhận từ cổ, bao gồm: từ điển cổ, các tác phẩm tiếng Việt được ghi bằng chữ Nôm (bài viết tạm chưa đề cập đến khu vực các tác phẩm chữ Quốc ngữ cổ) và từ điển hiện đại (trong đó từ điển từ cổ là quan trọng hơn cả); cuối cùng đề cập đến mối quan hệ giữa các khu vực này để góp phần cho việc nghiên cứu từ cổ và biên soạn từ điển từ cổ cũng như từ điển tiếng Việt lịch sử trong tương lai.
Chú thích:
(1Chu Bích Thu có cách phân kì khác: “Về mặt có ảnh hưởng đến lịch sử phát triển của từ điển đối dịch, có thể thấy lịch sử nước ta chia thành mấy giai đoạn lớn sau: – Trước thế kỷ XX; Nửa đầu thể kỉ XX (trước năm 1945); Nửa sau thế kỉ XX” [2005:199]. Trong đó giai đoạn I, gồm có các tự vựng đối chiếu Hán Việt (sách Hán Nôm) và một số từ điển đối dịch Pháp-Việt (từ Rhodes đến từ điển của Aubaret vào cuối thể kỷ XIX. Giai đoạn II, gồm từ điển của Barbier đến từ điển của Đào Duy Anh… Chúng tôi tạm phân loại các từ điển làm hai giai đoạn như trên và sau đó phân loại theo tiêu chí soạn giả.
(2Ví dụ: cuốn Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha. Bởi từ khi được biên soạn đến nay, cuốn sách này vẫn là tài liệu tra cứu đầu tiên và thường dụng của bất kì người mới học hay nghiên cứu chữ Hán. Đến nay, nó đã được tái bản cả chục lần từ trong Nam ra đến ngoài Bắc. Nhưng, điểm thú vị là ở chỗ, tiếng Việt được dùng để giải thích lại bảo lưu khá nhiều từ cổ của tiếng Việt Trung Cận đại.
(3Cuốn từ vựng này có 716 mục từ được xếp theo 17 môn loại. Đặc điểm của nó là: “trong mỗi môn, cứ mỗi mục là đơn vị dịch nghĩa ghi bằng chữ Hán ở dòng trên thì ngay dưới dòng đó là đơn vị tiếng Việt tương ứng, âm của đơn vị tiếng Việt cũng biểu hiện bằng những chữ vuông Hán”. [Vương Lộc 1997:3], và “đối tượng phản ánh của ANDN là tiếng Việt vùng phương ngữ Bắc Bộ” [3]. Nghiên cứu và phục nguyên ngữ âm tiếng Việt Bắc Bộ thế kỷ XV qua tác phẩm này trước nay đã có một số công trình như: An Nam kỉ lược cảo của Kondo Morosighe hoàn thành năm 1796 và in trong bộCận đằng chính trai toàn thư năm 1906 nhà xuất bản Konkusho Kanko Kwai, Tokio; Études sur la phonétique historique de la langue annamite. Les initials. BEFEO, t.12, 1912 của Henri Maspéro; cuốn Le lexique annamites des Ming. J.A.t CCXLI, 1953, fas-3.x,No 3,355-392 của Émilie Gaspardone, An Nam dịch ngữ khảo thích. Quốc lập Đài Loan Đại học, Văn Sử Triết học báo, đệ ngũ kỳ. 1953 và A Bibliographical and Linguistic study on the An-Na Yi-yu. Reprinted from Shigaku, vol, XXXIX, No3,4, vol.XL, No1,2,3,1966-1968 của Trần Kinh Hòa; cuốn A NewVersion of the Chinese – Vietnamese Vocabulary of the Ming Dynasty. BSOAS,38/2 năm 1975 của Jéremy H.C. Davidson và cuốn An Nam dịch ngữ, Trung tâm Từ điển học & Nxb. Đà Nẵng.1997 của Vương Lộc.
(4Đây là cuốn từ điển Hán Việt trong đó các mục từ Hán được chú âm giải thích bằng chữ Nôm được biên soạn vào quãng thế kỷ XVI-XVII [Trần Xuân Ngọc Lan 1984] hoặc thế kỷ XV [Ngô Đức Thọ 2004]. Cuốn sách gồm 40 chương, phản ánh khá phong phú về các vấn đề: nhân luân, nông canh, thiên văn, binh khí, pháp khí, hòa cốc… Tuy rằng, cuốn sách soạn ra phục vụ nhu cầu tra cứu và học tiếng Hán. Nhưng, giá trị của cuốn từ điển này không chỉ dừng lại ở đó. Nó cung cấp tư liệu để nghiên cứu ngữ âm lịch sử, chữ Nôm và từ vựng tiếng Việt cổ. “Toàn bộ bảng từ có 3394 mục từ,… số lượng chữ Nôm được dùng để giải thích là gần 15000 chữ. Về cách lập bảng từ, tác giả đã thu thập từ ba nguồn từ điển hoặc tự điển cổ, các vận thư, và sách ngữ văn kinh điển chứ không dựa vào một cuốn từ điển có sẵn nào của Trung Quốc” [Nguyễn Thiện Giáp 2005:101-102]. Lê Văn Quán [1981 143-153] có những khảo sát về văn bản mà không nghiên cứu về từ cổ.
(5Cuốn tự điển này “chỉ dạy 3000 chữ thông thường, đáp ứng nhu cầu cần thiết, nhớ chữ, nhớ nghĩa, từng chữ mỗi câu bốn chữ.” [14] Người đầu tiên nhắc đến cuốn này vẫn là Trần Văn Giáp [1969; tb 2000: 10-14]. Thế nhưng, trước đó đã có một số bản in mới của Trương Vĩnh Ký năm 1898, hay bản của cha Vũ Khoa năm 1908. Hay một bản in tại Hà Nội năm 1938. Lê Văn Quán khảo sát thì có 8 văn bản hiện còn lưu trữ được: AB.228, VNv.191, AB.19, VNv.121, VNv.131, VNv.133 và A.2675, A.1825 (trong Đạo giáo nguyên lưu) [168]. Theo Nguyễn Thị Lan [2002], VNCHN có 6 bản, TVQG có 2 bản (R102 và R 1667) và 2 bản in mới năm 1942 gồm bốn thứ chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ, Pháp. Cuốn này có 2988 chữ Hán được giải nghĩa. Tuy nhiên, Nguyễn Thị Lan không nghiên cứu về từ cổ.
(6Đây là cuốn tự điển ngự chế của vua Tự Đức, được in năm 1898. Cuốn tự điển này cũng được làm theo thể văn vần. Gồm trên dưới 9000 mục tự. Tác phẩm được soạn theo bảy mục; 1. Kham dư 輿: cuốn 1-2; 2.Nhân sự ; cuốn 3-5; 3.Chính hóa : cuốn 6-7; 4.Khí dụng : cuốn 8-9; 5.Thảo mộc  : cuốn 10-11; 6.Cầm thú: cuốn 12; 7.Trùng ngư : cuốn 13. Các bản Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca (Tự học giải nghĩa ca) hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: lưu giữ 9 bản in bộ 13 quyển, có mục lục, có chữ Hán:
– VHv.626/1-4; VHv.627/1-4; VHv.628/1-4; VHv.629/1-4; VHv.630/1-4; VHv.631/1-4; VHv.363/1-4. In năm Thành Thái thứ 9 (1897), 610 tr, 28 x 18. Các bản VHv.626 đến VHv.631 đều cùng một ván khắc, giấy lệnh hội. Riêng VHv.626 ngay đầu sách có sắc chỉ của nhà vua cho in sách, cùng các bài biểu do bề tôi phụng soạn, giấy còn mới, có thể in muộn hơn nhưng vẫn cùng một ván khắc với các bản VHv.627 – VHv.631.
– AB.5/1-2 in năm Thành Thái thứ 10 (1898), 602 tr, 28x17cm.
– AB.311 in năm Thành Thái thứ 10 (1898), 144 tr, 29x17cm (chỉ còn từ quyển 7 đến quyển 9). Theo Hà Đăng Việt: “Cuốn sách gồm 4.572 câu lục bát, tổng số lần xuất hiện của chữ Hán và Nôm là 32.004 (lần) chữ… tổng số mục chữ Hán được giải nghĩa sẽ là 9.028. Trong số 9.028 mục chữ Hán được giải nghĩa, có 778 từ có 2 âm tiết, và 7 từ có 4 âm tiết). Như vậy, tổng số chữ Hán (âm tiết) sẽ là 9.827 chữ (tự).” [2006a :2] “Bằng một phép tính giản đơn, ta có: tổng số lần xuất hiện của chữ Nôm là 32.004 (tổng số lần xuất hiện) – 9830 (tổng số chữ Hán) = 22.174 (lần).” [2006a:3]
(7Nguyễn Văn San tự Hải Châu tử, hiệu Văn Đa Cư sĩ, người làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, biên soạn cuốn tự điển này vào năm 1880 (Tự Đức thứ 33). Tất cả có 4779 mục tự, chia làm 50 môn loại, không xếp vần. [Nguyễn Thiện Giáp 2005:95]
(8Phạm Đình Hổ biên soạn khi ông làm chức Thự Tế tửu Quốc tử giám năm Minh Mệnh thứ 8 (1872), gồm 2560 mục tự, chia làm 32 môn loại, không xếp theo vần [Nguyễn Thiện Giáp 2005: 95].
(9Biên soạn vào năm Thành Thái (1901). Tất cả có 4461 mục tự, chia làm 33 môn loại [ Nguyễn Thiện Giáp 2005:95].
(10Chưa xác định được tác giả và năm biên soạn. Có 1066 mục tự là chữ Hán khó. Không chia môn loại [Nguyễn Thiện Giáp 2005: 95].
(11Gồm 1000 mục tự, không chia môn loại, viết theo thể lục bát trường thiên [Nguyễn Thiện Giáp 2005:96].
(12Ngũ thiên tự “là cuốn sách học chữ Hán, chữ Nôm của Việt Nam rất xa xưa- sách soạn theo thể lục bát, thể thơ thuần Việt” [Khổng Đức 2006 Lời nói đầu]. Theo Khổng Đức và Long Cương cuốn tự điển này không biết tác giả là ai. Trước đó, có một bản do Chánh tổng Nguyễn Bỉnh dịch ra quốc ngữ và viết tựa, và một bản khắc gỗ của Liễu Văn đường tàng bản in năm Duy Tân thứ ba tức năm 1909. Và bản in gần đây (2006) của hai tác giả này. Tuy nhiên, các tác giả chỉ tiến hành phiên âm, giới thiệu. An Chi [2004d] đã cải chính 600 chỗ sai sót của bản phiên âm này. Theo ông, có những kiểu sai sót như sau; viết sai chính tả quốc ngữ, sai nét chữ Hán, phiên âm chữ Hán sai, phiên âm sai chữ Nôm, nhầm lẫn Nôm với Hán và Hán với Nôm và ngắt câu sai. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu chữ Nôm, và từ cổ qua cuốn sách hiện vẫn đang bỏ ngỏ.
(13) Đó là từ điển Dictionarium Annamiticium Lussitanum Vietnamiens (1651) của Rhodes, Dictionarium Anamitico Latinum (1772) của Bỉ Nhu, Dictionarium Annamitico – Latinum (1838) của Taberd, D’un Vocabulaire (Français – Annamite et) Annamite – Français (Paris, 1867) của G.Aubaret, Dictionaire Annamite- Français (1874*) của Legrand de la Liraye, Dictionarium Annamitico – Latinum (1877) của Theurel, Dictionarium Latino – Annamiticum (1880) của MH Ravier, cuốn Dictionaire Annamite – Français (Imprimerie de la Mission de Saigon 1877*) của Mgr Caspar “tiền thân” củaDictionaire Annamite – Français (1898) của Génibrel, Dictionaire Annamite – Français (1898) của Jean Bonet, “大南國音字彙 Đại Nam quấc âm tự vị (1895-1896.) của Huình Tịnh Paulus Của., Petit Dictionaire Annamite- Français (1904*) của PG Valiot, Dictionaire Annamite – Chinois – Français (1937) của G.Hue, Dictionaire Annamite- Français (hanoi. 1934-1935) của cố G. Cordier. Dictionaire Annamite – Français và Dictionaire Français – Annamite của Trương Vĩnh Ký. Từ điển Pháp – Annam (1921) của Barbier. Hai cuốn Annamiticium Lussitanum (?*) của Gaspar de Amaral (1592-1646) vàLussitanum Annamiticium (?*) của Antonio Barbosa thì chỉ được biết đến qua lời của de Rhodes. (Các từ điển có đánh dấu sao * trên năm xuất bản biểu thị đã mất)
(14“Năm 1838, ông đã cho xuất bản tác phẩm: “Luận án về bản chất và đặc trưng về hệ chữ viết Trung Hoa” [A Dissertation on the nature and character of the Chinese system of writing]. Tác phẩm này, đã được Hội APS xuất bản, được xem là một nghiên cứu đầu tiên về Hán tự tại Hoa Kỳ. Đặc biệt trong tác phẩm này ông đã đề cập riêng biệt đến ngôn ngữ xứ Đàng Trong [Cochinchinese language] là 1 trong 5 nước (Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly, Lưu Cầu và Việt Nam) có cùng một nền văn hoá Hán tự, bằng cách cho in lại toàn bộ tập từ điển viết tay (gồm có trên 3.000 từ Việt-Latin và 333 chữ Hán Nôm) do Giáo sĩ Joseph Morrone tặng cho Trung úy Hải quân Hoa Kỳ John White ở Sàigòn trước khi ông này trở về Hoa Kỳ năm 1820.” [Peter Stephen Du Ponceau.1838. Cochinchinese language. In A Dissertation on the nature and character of the Chinese system of writing [Luận án về bản chất và đặc trưng về hệ chữ viết Trung Hoa]. APS –Historical and Literary Committee. M’cCarty and Davis, 171 Market Street, Philadelphia. Chuyển dẫn theo Mai Bá Triều (Ngôn ngữ và sử gia, Bí) & Ngô Thanh Nhàn (Đại học New York, Mỹ).2006. Giới thiệu một nghiên cứu của Peter S. Du Ponceau (1760-1844) Mỹ về ngôn ngữ và chữ Nôm Đàng Trong thế kỷ XIXHội nghị Quốc tế về chữ Nôm Huế, 1-2 tháng 6 năm 2006.]
(15Tác giả trình bày việc biên soạn như sau: “làm tự vị nầy, sơ tâm ta muốn có tiếng Langsa. Hồi mới khởi công, có nhiều quan Tây giùm giúp, sau các ông ấy có việc phải thuyên đi Bắc-kỳ, bỏ có một mình ta, lúng túng, phải bỏ phần dịch tiếng Langsa. Nhưng vậy, nhơn khi rỗi rảnh, ta cứ việc làm theo tiếng ta, chữ ta, viết đi chép lại, ngày đêm khó nhọc, hơn bốn năm trời mới thành công việc, mà cũng còn áy náy vì còn thiếu tiếng Langsa. Năm nay có quan tham tán cho quan toàn quyền là ông Landes trở về Gia-định, người cũng có giúp ta năm trước cùng bày cách cuộc cho ta phải làm tự vị thể nào, xem công việc ta làm thì người cho là công việc rất lớn, nếu có dịch sang tiếng Langsa thì lại thêm bề bộ; vã trong sự dịch ấy cũng phải tìm người, mà lại phải dụng công cho tới năm ba năm nữa, người bàn với ta rằng: ‘tự vị nước nào làm theo nước ấy, chẳng phải dịch tiếng Langsa làm chi, vã xưa nay trong nước Annam chưa hề có tự vị tiếng riêng, cứ việc in tiếng ta, chữ ta, như tự vị Trung- quấc, thì cũng là đều rất có ích’” [Huình Tịnh Của 1895 Tiểu tự: IV]. Trong tờ bìa, tác giả viết: “tham dụng chữ Nho có giải nghĩa, có dẫn chứng, mượn 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ”. Như vậy, đây là có thể coi là cuốn từ điển giải thích, từ điển tường giải, có dẫn chứng (từ văn liệu) đầu tiên trong lịch sử do chính một người Việt biên soạn. Văn tự dùng trong cuốn tự vị này là chữ Nôm, chữ Nho và chữ cái La tinh. Ông kí hiệu “C” chỉ Hán, “N”-Nôm, “C-N”-chữ Hán có dùng Nôm, tức từ Hán Việt.
(16Tác giả đã nói rõ về hoàn cảnh và mục đích biên soạn như sau: “trong giai đoạn đặc biệt này, tự nhiên là một mớ tiếng mới-nhất là những danh từ chuyên khoa-đã được thừa nhận cho lưu hành để phù hạp với những nhu cầu của đời mới. lại biết bao nhiêu danh từ cũ đã có thêm những nghĩa mới để theo kịp với tư tưởng của con người mỗi ngày một mở mang và thêm tế nhị. Vì lẽ đó, một quyển tự điển Việt ngữ mới mẻ và đầy đủ là một pho sách tối cần cho văn hóa Việt Nam hiện đại và là một công trình mà chúng tôi hằng mong mỏi ở một nhóm có tổ chức hẳn hoi, gồm có đủ các học giả lỗi lạc của toàn quốc: chúng tôi muốn nói đến Viện hàn lâm Việt Nam sau này” [ĐVT Lời nói đầu].
(17Bộ từ điển này dày 914 trang, mỗi mục từ được in bằng ba loại văn tự: Nôm, quốc ngữ, Pháp. Cuốn tự vị này lấy từ làm đơn vị, 6500 chữ Nôm được xếp theo ABC. Tự dạng của chữ Nôm dựa vào hai cuốn từ điển của Rhodes và Béhain. “Vì cuốn này là ‘từ điển lịch sử của những chữ ghi kí hiệu tiếng Việt’, nên mỗi một từ điển đều được dẫn ra các ngữ cảnh có chữ Nôm cùng âm đọc để minh họa; bắt đầu là những tác phẩm văn học xuất hiện sớm nhất, sau đó dẫn đến từ điển đan xen theo từng niên đại của các cứ liệu… Nguồn tư liệu mà soạn giả sử dụng trong cuốn từ điển này là 73 tư liệu” [Nguyễn Thị Thanh Vân 1997:81].
(18An Chi phản bác Lê Trung Hoa: “nhà từ nguyên học thời nay không nên gởi gắm lòng tin tuyệt đối của mình vào những người thợ nhà in ở La Mã đã sống cách đây 350 năm,” vì “những người này đã xếp sai phần tiếng An Nam (trong từ điển Việt-Bồ-La của A.de.Rhodes) đến hàng trăm chỗ mà A.de.Rhodes còn kịp nhặt ra và nêu lên trong bảng Cải chính những chỗ sai về tiếng Annam trong từ điển (Tên bài do chúng tôi tạm đặt trên cơ sở nội dung của bài viết – TTD) nhưng vẫn còn để lọt lưới rất nhiều chỗ khác” [An Chi 1999]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Alexandro de Rhodes. 1651. Dictionarivm Annamiticivm- Lusitanvm – Latinvm Sacre Congragationis de Propagadafide Cardinales. ROMETừ điển Việt – Bồ – La. Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính phiên dịch. Nxb. KHXH, H. 1994.
2.An Chi (Huệ Thiên). Trả lời ông Bùi Thiết về vấn đề từ cổ. Trong Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm. Nxb. Trẻ, 2004, 581-585. (Kiến thức Ngày nay, số 471, 14/01/2002), và số 478, 18/03/2002).
3.An Chi (Huệ Thiên). Cung cách “giải mã” từ cổ của ông Hồ Lê. Nxb. Trẻ, 2004, 357-367 (Thông tin Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên – Huế, số 03/1997)
4.An Chi (Huệ Thiên). Cải chính những chỗ phiên Nôm sai của Vũ Văn Kính và Khổng Đức trong quyển Ngũ thiên tự.trong Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm. Nxb. Trẻ, 2004, 587-591. (Kiến thức Ngày nay, số 478, 18/03/2002).
5.An Chi (Huệ Thiên). Ngữ học gia Phan Ngọc đã nâng cấp công trình của học giả Đào Duy Anh như thế nào? trongNhững tiếng trống qua cửa các nhà sấm. Nxb.Trẻ, 2004, tr.369-390.
6.An Chi (Huệ Thiên). Những chỗ dịch sai của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên trong Tự Vị Annam – Latinh. trongNhững tiếng trống qua cửa các nhà sấm. Nxb. Trẻ, 2004, tr.479-492.
7.An Chi: Một số chỗ in sai chính tả và một số chỗ có vấn đề trong cách ghi nhận và cách giải thích của A.de Rhodes. Trong Chuyện Đông chuyện Tây (tb lần 01). Nxb. Trẻ. Tp Hồ Chí Minh, 2006, tr.131-136. (Kiến thức Ngày nay số 337, ngày 20/12/1999).
8.Bùi Minh Đức: Từ điển tiếng Huế. Nxb. Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Sài Gòn 2004.
9.Bùi Thiết: Có nên cho quả bóng Việt vào lưới Hán. Trong Kiến thức Ngày nay, số 470, 07/01/2002.
10.Bùi Thiết. Về bài “Trả lời ông Bùi Thiết”. Trong Kiến thức Ngày nay, số 476, 2002.
11.Đào Duy Anh: Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, Nxb. KHXH, H. 1975.
12.Chu Bích Thu: Từ điển và từ điển học Việt Nam. Trong Lược sử Việt ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp chủ biên), Nxb. Giáo dục. 2005.
13.Đào Duy Anh: Từ điển Truyện Kiều, Phan Ngọc bổ sung sửa chữa, Nxb. KHXH, H. 1987.
14.Đào Văn Tập: Từ điển Việt Nam phổ thông, Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn. 1951.
15.Hà Đăng Việt. Nghiên cứu Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca. Luận văn Thạc sĩ. Trường ĐH KHXH&NV. ĐH QGHN. 2006
16.Hoàng Xuân Hãn: Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần – Lê, trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn. Nxb. Giáo dục. 1998.
17.Hoàng Hồng Cẩm: Nghiệp oan nàng họ Đào – Bản dịch Nôm của Nguyễn Thế Nghi, trong Thông báo Hán Nôm học năm 1997, H. 1998.
18.Hoàng Thị Hồng Cẩm: Tân biên Truyền kì mạn lục – Nghiên cứu văn bản và vấn đề dịch Nôm, Nxb. Văn hóa – Dân tộc, H. 1999.
19.Hoàng Thị Ngọ: Chữ Nôm và Tiếng Việt qua bản giải âm ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh’, Nxb. KHXH, H. 1999.
20.Hoàng Thị Ngọ: Điểm qua về tình hình từ cổ trong cuốn từ điển Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa. Trong Thông báo Hán Nôm học 2001. Nxb. KHXH. 2002.
21.Huình Tịnh Paulus Của. “ Đại Nam quấc âm tự vị, SaiGon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’Adran, 4. 1895-1896; Nxb.Trẻ.1998 (chụp theo ấn bản 1895-1896).
22.Ngô Đức Thọ: Thông tin mới nhất về Chỉ nam ngọc âmTạp chí Hán Nôm, số 3/2005
23.Lê Quang Thiêm: Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kì 1858-1945, Nxb. KHXH, H. 2003
24.L.M An-tôn Trần Văn Kiệm. Giúp đọc Nôm và Hán Việt 棢讀喃亼漢越, Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Hoa Kỳ & Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2004.
25.Nguyễn Đình Chiểu. Ngư tiều vấn đáp y thuật. (Lê Quý Ngưu phiên âm, chú thích, định bản), Nxb. Thuận Hóa, Huế 2006. tr.851.
26.Nguyễn Đình Hòa: Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa caA 19th century Chinese – Vietnamese DictionaryPapergiven at the 21st International Conference ong Sino – Tibetan Languagues and Linguistic, Lund, Sweden. (bản dịch Trần Trọng Dương) 1988.
27.Nguyễn Ngọc San: Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm, Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2003.
28.Nguyễn Ngọc San & Đinh Văn Thiện. Từ điển từ Việt cổ, Nxb. Từ điển Bách khoa, H. 2003. (Lần 1 Nxb. VH-TT, H. 2001)
29.Nguyễn Ngọc San: Góp vài ý kiến về âm đầu tiếng Việt cổ qua cứ liệu Phật thuyếtTạp chí Ngôn ngữ, số 3.1982.
30.Nguyễn Ngọc San: Tìm hiểu tiếng Việt Lịch sử, Nxb. Đại học Sư phạm. 2003.
31.Nguyễn Ngọc San: Lý thuyết chữ Nôm – văn Nôm, Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2003.
32.Từ điển đối chiếu từ địa phương.Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb. Giáo dục, H. 2004.
33.Nguyễn Quang Hồng: Chuyển dịch từ ngữ song tiết Hán văn sang từ ngữ văn Nôm trong bản giải âm Truyền kì mạn lục, Hội thảo quốc tế ngôn ngữ học liên Á lần VI (Hà Nội, 11- 2004).
34.Tự điển chữ Nôm. Nguyễn Quang Hồng chủ biên, Nxb. Giáo dục, H. 2006, 1546 tr.
35.Nguyễn Quảng Tuân-Nguyễn Khắc Thuần: Từ ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu – Thơ và văn tế, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1987.
36.Nguyễn Quảng Tuân – Nguyễn Khắc Thuần: Từ điển truyện Lục Vân Tiên, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1989.
37.Nguyễn Quảng Tuân: Chữ nghĩa Truyện Kiều, Nxb. Văn học, H. 2004, 272 tr.
38.Nguyễn Thạch Giang: Từ ngữ văn Nôm, Nxb. KHXH, H. 1993.
39.Nguyễn Thạch Giang: Từ ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh 2001.
40.Nguyễn Thị Lan: Tìm hiểu loại hình sách song ngữ Hán Nôm dạy chữ Hán (qua nghiên cứu ‘Tam thiên tự giải âm’). Luận văn Thạc sĩ. Trường ĐH KHXH&NV. ĐH QG HN, H. 2002.
41.Nguyễn Thị Lâm: Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua Thiên Nam ngữ lục. Nxb. KHXH. H. 2006.
42.Nguyễn Thị Thanh Vân: Đi tìm những kí hiệu viết tắt trong một bộ tự điển chữ Nôm. Trong Ngữ học trẻ 97. Hội Ngôn ngữ học Việt Nam. H. 1997, tr.80-82.
43.Nguyễn Thanh Tùng. 2001. Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt trong Thiền tông khóa hư ngữ lục (Báo cáo khoa học).
44.Nguyễn Thiện Giáp: Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H. 1985.
45.Nguyễn Thiện Giáp: Những suy nghĩ ban đầu về tiếng Việt qua sự sáng tạo chữ Nôm. Trong Lược sử Việt ngữ học, Nxb Giáo dục, H. 2005, 85-111.
46.Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu): 1772-1773. Tự vị An Nam La Tinh (Dictionarium Anamitico Latinum 1772 – 1773), Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, Nxb. Trẻ, 1999.
47.Trần Trọng Dương: Nghiên cứu các bản dịch Khóa hư lục – Chữ Nôm và tiếng Việt (Luận văn Thạc sĩ), Lưu trữ tại TV Khoa Văn học, Trường Đại học KHXH và NV. ĐH QGHN, 2005.
48.Trần Trọng Dương: Khảo sát hệ thống từ cổ trong bản giải nghĩa “Thiền tông khóa hư ngữ lục” của Tuệ TĩnhTạp chí Ngôn ngữ, số 8, 2006, tr.54-67.
49.Trần Trọng Dương: Khảo sát hệ thống từ cổ trong bản giải âm KHÓA HƯ LỤC (AB.367) của Hòa thượng Phúc Điền, in trong Thông báo Hán Nôm học năm 2006, Nxb. KHXH, H. 2007, tr.177-202 .
50.Trần Văn Giáp: Lược khảo vấn đề chữ Nôm (từ khởi thủy đến thế kỷ XIX)Ngày nay Publishing. Westminter, 2002.
51.Trần Xuân Ngọc Lan: Vài đặc điểm của 4 từ cổ: thuở, nếu, ban, no, “Một số vấn đề về các ngôn ngữ Phương Đông”, Viện Đông Nam Á, H. 1985.
52.Trần Xuân Ngọc Lan: Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Nxb. KHXH, H. 1985.
53.Trần Xuân Ngọc Lan: Góp một số ý kiến đối với bản từ vựng tiếng Việt do E.Gaspardone tái lậpTạp chí Hán Nômsố 03/1999 (Tạp chí Hán Nôm – 100 bài tuyển chọn. VNCHN, H. 2000. tr.150-156.)
54.Võ Xuân Trang: Phương ngữ Bình Trị Thiên, Nxb. KHXH. 1997. 302 tr.
55.Vương Lộc: Từ điển từ cổ, Trung tâm Từ điển học & Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội – Đà Nẵng 2001.
56. Vũ Văn Kính.2002. Đại tự điển chữ Nôm, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học & Nxb. Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 1(98) 2010; Tr. 17 – 36)
 In

Bồi là từ gốc Anh hay gốc Pháp?


Bồi là một trong số mươi từ mượn âm được thu nhận vào từ điển tiếng Việt sớm nhất. Hội Khai Trí Tiến Đức (1931:56) cắt nghĩa là người hầu hạ và ghi chú là bởi chữ “boy” tiếng Hồng-mao, nghĩa là thằng nhỏ. Phần đông các nhà nghiên cứu về sau xem bồi là từ gốc Pháp (Nguyễn Quảng Tuân, 1992:78; Nguyễn Kim Thản, 2005:166) bởi vì từ này được người Việt mượn âm trực tiếp từ tiếng Pháp khi Việt Nam bị Pháp đô hộ.

Người An-nam trước khi nhà nước Pha-lăng-sa sang Bảo-hộ thì chưa có tiếng sà-phòng (savon), nhà ga (gare), rượu bia (bière), cậu bồi (boy) v.v.

Nam Phong Tạp Chí số 59 (1922:351, Vũ Công-Nghi)

Cần vẹt là cái gì?

Cần vẹt là cái cần truyền điện vào tàu điện. Từ vẹt này xuất hiện trong tiếng Việt quãng 1900. Có điều các nhà làm từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức sống ngay tại Hà Nội, ngày ngày nhìn thấy tàu điện chạy leng keng nhưng không thèm cho cần vẹt vào từ điển. Tội của vẹt là trót sinh ra làm con Tây (perche de tramway). Xui cho vẹt là vì nhiều lý do lịch sử (chẳng hạn như tình trạng lụi tàn của hệ thống tàu điện ở Hà Nội), các từ điển sau đó cũng không thu nhận cần vẹt vào bảng từ. Bây giờ người ta vẫn nói tàu điện cần vẹt, cần vẹt tàu điện… nhưng cần vẹt không khác gì một đứa con hoang không rõ nguồn gốc, lai lịch.

Từ cảm hứng xuất hiện trong tiếng Việt khi nào?


Từ cảm hứng được ghi nhận trong từ điển vào quãng những năm 30. Đào Duy Anh (1950:859), dùng từ này để để dịch từ inspiration của tiếng Pháp. Trước đó inspiration được dịch là yên sĩ phi lý thuần, hoặc có khi gọn hơn là yên sĩ. Cả yên sĩ phi lý thuầncảm hứng đều là từ mượn của tiếng Trung Quốc, nhưng đọc bằng âm Hán Việt. Từ cảm hứng cạnh tranh với yên sĩ cả chục năm không bứt lên nổi.
 Lê Thanh trong bài báo “Từ việc dùng những danh-từ mới đến sự tiến-hóa của việt-ngữ” đăng ở Tri Tân Tạp Chí số 11 (1941:2) cho biết như sau:

Từ trước tôi đã thấy người ta theo Lương-Khải-Siêu bên Tàu mà dịch âm tiếng inspiration ra tiếng hán-việt là yên-sĩ-phi-lý-thuần. Bây giờ tiếng này đã phổ-thông lắm. Nhưng không phải là một cớ để ta giữ nó mãi mãi. Vì một lẽ là ta có thể tìm được một tiếng khác có giá-trị về phương-diện từ ngữ hơn: cảm-hứng.

Xuất xứ của hai tiếng niết bàn (An Chi – Năng Lượng Mới số 10 ,14 – 4 – 2011).

Bạn đọc : Xin vui lòng cho biết xuất xứ của hai tiếng niết bàn. (Hải Vân).
An Chi : Niết bàn là dạng tắt của niết bàn na 涅槃那. Đây là ba tiếng đọc theo âm Hán Việt của ba chữ Hán mà người Trung Hoa đã dùng để phiên âm danh từ hữu quan bằng tiếng Sanskrit. Đoàn Trung Còn đã cho xuất xứ của danh từ niết bàn như sau:
 “(Do tiếng Sanskrit) Nirvâna. Viết trọn: Niết-bàn-na (…) Niết (nir): Ra khỏi. Bàn hay Bàn-na (Vâna): Rừng. Tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não” (Phật-học từ-điển, q.II, tr.335).
Dấu mũ ( ۸ ) trong chữ nirvâna của Đoàn Trung Còn là một ký hiệu thay thế cho dấu gạch ngang ngắn () bên trên chữ cái ghi nguyên âm để thông báo rằng đây là một nguyên âm dài. Vậy từ đây xin đổinirvâna thành nirvāna. Nhưng nirvāna cũng không phải là xuất xứ của niết bàn vì xuất xứ đích thực của danh từ này trong tiếng Sanskrit lại là nir-vāa. Âm đầu của âm tiết thứ ba là phụ âm óc (cerebral consonant)  chứ không phải là nNir-vāa là một danh từ phái sinh từ động từ nir-VĀ. (Theo truyền thống Phạn ngữ học của phương Tây, người ta in căn tố động từ bằng chữ in hoa). VĀ là căn tố động từ có nghĩa là thổi, là nổi gió, là tỏa hơi ra, là xông mùi. Còn nir là biến thể hình thái học của tiền động từ (preverb) ni chỉ ý biến mất, không còn, v.v.. Vậy nir-VĀ là ngừng thổi, ngưng gió, là tắt, kể cả tắt tự nhiên lẫn bị thổi tắt. Và nir-vāa là trạng thái ngừng thổi, trạng thái tắt ngấm, do đó còn có nghĩa phái sinh là sự tiêu tan, sự tịch diệt, là cái chết, là sự thoát khỏi kiếp trầm luân để vãng sanh cực lạc, v.v.. Dictionnaire sanskrit-français của N.Stchoupak, L.Nitti và L.Renou (Paris, 1932) đã giảng nir-vāa là: “ extinction (sự tắt ngấm), mort (sự chết), néant absolu (hư vô tuyệt đối), béatitude (cực lạc), […]”. Vậy niết bàn không có liên quan gì đến “rừng” mà liên quan đến sự tắt ngấm, sự ngừng thổi, hiểu rộng ra là sự tắt thở và cái chết. Có thể so sánh cấu trúc ngữ nghĩa của danh từ nir-vāatrong tiếng Sanskrit với cấu trúc ngữ nghĩa của danh từ anima trong tiếng La Tinh để làm cho vấn đề sáng tỏ hơn. Danh từ La Tinh này có các nghĩa sau đây: 1. không khí; 2. luồng hơi, gió; 3. hơi thở; 4. linh hồn; 5. sinh vật, con người; 6. tâm hồn, tấm lòng. Vật có hơi thở, nghĩa là động vật, kể cả con người, thì được gọi là animal (cũng cho ra tiếng Pháp animal = động vật), phái sinh từ anima. Vậy sự sống và cái chết đều có liên quan đến luồng hơi, đến hơi thở. Tắt hơi, tiếng Sanskrit là nir-VĀ, tức là chết. Tóm lại, xét theo nguồn gốc thì khái niệm niết bàn chỉ liên quan đến hơi thở chứ chẳng có liên quan gì đến cảnh rừng cả.
Sở dĩ Đoàn Trung Còn liên hệ niết bàn với rừng là do đã nhầm vāna (= rừng) với a trong nira. Thực ra, trong tiếng Sanskrit thì  và n là hai phụ âm khác nhau cho nên nếu không phân biệt chúng với nhau thì sẽ dễ dàng đi đến nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa. Thí dụ: au là mịn, nhuyễn, mỏng, yếu v.v. nhưng anu thì lại có nghĩa là về sau, đằng sau, v.v.; caa là đậu mỏ (pois chiche) còn cana thì lại là một tiểu tố có tác dụng phiếm chỉ hóa một số đại từ; a là món tiền đặt trong canh bạc nhưng pānathì lại là nước giải khát, v.v..
Tương ứng với tiếng Sanskrit nirvāa là tiếng Pāli nibbāna mà Concise Pāli-English Dictionary của A.P. Buddhadatta Mahāthera (Colombo, 1957) dịch là “extinction (of a fire); emancipationthe final bliss”. Nghĩa đã cho bằng tiếng Anh trong Concise Pāli-English Dictionary cũng trùng với nghĩa đã cho bằng tiếng Pháp trong Dictionnaire sanskrit-français. Căn tố động từ trong cả nirvāa lẫn nibbāna đều là VĀ (v trở thành b trong nibbāna là do biến thể saṃdhi) với nghĩa đã nói ở trên. Vậy niết bàn (nirvāa,nibbāna) chẳng có liên quan gì đến “rừng” cả.