Phát hiện của ai? (Quách Hiền)

Thursday, June 21, 2012

Phát hiện của ai?


Vì comment của một bác nhắc nhở phía dưới (cảm ơn bác “nặc danh” lần nữa), nên mới nhớ ra cần ghi lại một nỗi băn khoăn. Trong cuốn Nhìn lại sử Việt (từ tiền sử đến tự chủ), Lê Mạnh Hùng có nhắc đến công trình nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc (năm 1971)  chứng minh “lạc” trong thư tịch Trung Quốc viết về nước ta là một phiên âm “rạc” (rặc) mà theo tiếng cổ và tiếng Mường có nghĩa là “nước”. Bài viết của PGS Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc đã in trong cuốn Hùng Vương dựng nước, (tập 4. NXBKHXH, 1974). Quan điểm này nhiều lần đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thế hệ sau trích dẫn lại  như trường hợp ông Tạ Đức với bài này; hoặc phát huy mở rộng quan điểm như trường hợp ông Vũ Thế Ngọc ở trong bài này chẳng hạn.

Tuy nhiên, tình cờ đọc bài này, tôi thật băn khoăn quá đỗi, ông Kiều Thu Hoạch viết: “Bài viết của chúng tôi đã ghi cả bốn chữ mà ta đều đọc là lạc: ,   (với các bộ thủ: điểu, mã, chuy, trãi). Theo tra cứu của chúng tôi, thì bốn chữ này đều là ghi âm Hán của từ Việt cổ (rác, đrác, đác) còn thấy trong tiếng Mường, chỉ nước.”

Rốt cục  “lạc” với nghĩa là “nước” theo tiếng Mường là phát hiện của ai? Của ông Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc (từ năm 1971) (đã được nhiều người công nhận) hay là “theo sự tra cứu của chúng tôi” của ông Kiều Thu Hoạch? “Theo tra cứu của chúng tôi” là một cụm từ rất mơ hồ. Nếu ai chưa từng đọc Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc, hoặc chưa đọc bất cứ một bài viết nào liên quanchỉ đọc bài viết trên của ông Kiều Thu Hoạch sẽ lầm tưởng rằng ông Kiều Thu Hoạch là người đầu tiên phát hiện ra điều đó. 

Nhân tiện trong bài viết trên, ông Kiều Thu Hoạch còn có một nhầm lẫn nhỏ. Ông viết “Lạc bộ mã  là ngựa trắng bờm đen. Lạc bộ chuy  là ngựa đen bờm trắng. Hai chữ này đều là chữ Kinh Thi (thiên Lỗ tụng), đều không hề có nghĩa chỉ loài chim, như cụ Đào [Đào Duy Anh] giải thích”. Trường hợp này thì tôi không bình luận, nhưng với trường hợp này, ông Kiều Thu Hoạch nhầm.  đúng là có thể dùng thông với  với nghĩa ngựa đen bờm trắng như ông Kiều Thu Hoạch đã nói. Nhưng  theo Thuyết văn giải tự thì có nghĩa là tên một loài chim: “,鵋鶀也。怪鸱” , 鵋鶀 là một loại chim thuộc cú mèo (quái si), còn gọi là miêu đầu ưng (Tham khảo thêm các trích dẫn khác về 雒 với nghĩa là một loại chim trong bài viết của ông Vũ Thế Ngọc đã dẫn link ở trên). Tuy nhiên, điều tôi rất rất rất rất  thắc mắc là cụ Đào Duy Anh đã dựa trên cơ sở nào để giải thích  vốn là một loại hậu điểu 候鳥 (một loài chim có đặc tính di cư giống như chim nhạn, chim én) ở Giang Nam? và 候鳥là khác nhau. Vì thế quan điểm của cụ Đào Duy Anh: “Lạc chính là tên vật tổ, tức loài chim hậu điểu mà chúng ta thấy hình dung trên trống đồng Ngọc Lũ” rõ ràng là thiếu thuyết phục. 

Lạc= Rác/dak/nác=nước? 

Phân tích một số từ biểu thị sinh thực khí nam giới trong cách gọi dân gian. (Nguyễn Ngọc Thanh – Người Hiếu Cổ)

Phân tích một số từ biểu thị sinh thực khí namgiới trong cách gọi dân gian. 
Xin kích chuột vào tựa để xem bài gốc với đầy đủ hình ảnh.


Bài viết dưới đây, Blog người hiếu cổ xin đưa ra một nghiên cứu sơ bộ về nguồn gốc của các từ biểu thị sinh thực khi nam giới trong cách gọi dân gian (thông tục). Trước tiên xin có một đoạn dẫn giải về tục thờ sinh thực khí và tín ngưỡng phồn thực như sau: *** Tín ngưỡng phồn thực(1) là tín ngưỡng được sùng bái từ rất lâu đời và mang tính toàn thế giới. Chúng ta ngày nay vẫn còn thấy được rất nhiều hình vẽ, họa tiết hoặc tượng và các hoạt động mang tính nghi lễ liên quan đến văn hóa phồn thực. Có thể dẫn chứng một số ví dụ sau:
Hình 1: Tượng nam nữ giao hoan của người dân tộc thiểu số Việt Nam (ảnh chụp tại Bảo tàng Dân tộc học)

Hình 2: Tượng nam nữ giao hoan tại “đền hoan lạc” của Ấn Độ 

Theo tín ngưỡng phồn thực của Ấn Độ, Nê Pan (hoặc một số nước khác như Chăm Pa), người ta gọi sinh thực khí của người nam là Linga, sinh thực khí người nữ là Yoni, người ta coi đó là 2 vị thần, là nguyên lý khởi nguyên của vũ trụ (âm – dương). Tại Việt Nam, tục thờ sinh thực khí ngày nay vẫn còn được lưu giữ tại các hội lễ mật tại miền Bắc, cùng với nghi thức “Linh tinh tình phọc” , hai vật tượng trưng này luôn được cất giữ rất trang trọng. 

***
Nam giới tượng trưng cho dương khí, và sinh thực khí người nam tượng trưng cho 1 trong 2 nguyên lý để hóa sinh vạn vật. Người Nhật Bản rất coi trọng sinh thực khí nam giới, chính vì thế có rất nhiều lễ hội thờ và rước sinh thực khí nam tại đây. Điển hình là lễ hội Kanamara (xem hình 3) Tôi xin đi vào chủ đề chính của bài viết: Sinh thực khí người nam giới (tức bộ phận sinh dục nam)  trong vốn từ dân gian rất phong phú, có rất nhiều cách gọi. Nhưng đúng với “tính võ đoán” của ngôn ngữ, ngày nay chúng ta chỉ biết từ đó nghĩa là như thế, nhưng không hiểu vì sao nó lại được dùng với nghĩa như vậy. Chính vì thế, nhân đọc về nghi lễ rước dương vật của người Nhật, tôi xin đưa ra mấy suy nghĩ về nguồn gốc của các từ biểu thị sinh thực khí nam giới trong cách gọi thông tục. Xin liệt kê những từ dùng trong dân gian (thông tục) với nghĩa chỉ sinh thực khí nam giới: 
– Buồi 
– Cặc 
– Dái 
– Nõ

***
Ta tìm hiểu từ “Cặc”: Từ này thự
c ra có liên quan đến từ “Cọc” (chữ Nôm) và “Cực” (chữ Hán). “Cực” có nghĩa là cái cột cao nhất của ngôi nhà, nôm na ta hiểu là cái cột. Mà cột với “cọc’ cùng tính chất, nên sau này người ta dùng chữ “cực” cũng với nghĩa là “cọc”. Người xưa chơi chữ rất hay, “cọc” đọc lái đi để chỉ sinh thực khí nam giới. Như vậy ta thấy ở đây có một chuỗi biến đổi khá logic:  Cực – Cột – Cọc – Cặc.

Vì thế mà khi đọc bài thơ “Quả mít” của Hồ Xuân Hương, ta thấy rất rõ ẩn ý của bà: 
“Quân tử có thương thì đóng cọc 
Xin đừng mân mó nhựa ra tay” 

Lại có một minh chứng nữa cho luận giải “Cặc – Cọc”, đó chính là cụm từ “Cặc bần” của miền Tây Nam Bộ. Có câu: 
“Nước chảy, cặc bần rung bây bẩy 
Gió đưa, dái mít giãy tê tê” 

“Bần” là một loài thực vật. Học giả Vương Hồng Sển viết về cây bần như sau: “Bần là cây gỗ tạp, mọc dựa mé nước, rễ nhiều, bám theo đất phù sa mà làm cho đất có phần vững chắc không trôi khi sóng đánh. Cây bần có lá xanh rất đẹp, ban đêm đom đóm đậu nhiều trông rất xinh. Có trái, ăn với mắm sống rất ngon. Chúa Nguyễn Ánh được nếm qua, rất hài lòng và ban cho tên chữ là Thúy Liễu. Rễ của bần dùng làm nút ve được. Phân ra có loại bần-chua, trái lớn; và bần-ổi, trái nhỏ hơn và tương đối ít chua hơn. Xưa nay, nghề uốn và chơi kiểng, phàm cây kiểng lão và gốc bần quá già, khi nào gốc dẽ ra ngoài bờ ngoài nước thì gọi là nó chiếu thủy, ý nói bóng cây ấy làm dáng và dòm xuống nước”(2)   

Nhìn hình 4 chúng ta thầy những cái nhô lên chính là “cọc bần”, nhưng người Tây Nam Bộ gọi là “Cặc bần” chính vì hiện tượng mà tôi đã lý giải ở trên. 

***
Trong từ điển tiếng Việt, ta bắt gặp nhiều cụm từ như: Dái mít, dái tai, dái khoai,… Có một đặc điểm chung, các từ đó đều chỉ những bộ phận mà có nhô ra hoặc lồi ra ngoài. Như “dái tai” chỉ phần thịt tai chảy xệ xuống; “dái khoai” chỉ củ nhánh sinh ra theo dây khoai; “dái mít” chỉ phần quả mít non nhô ra và chưa thành hình quả(3)… (Xem hình 5) Vậy những thứ gì nhô ra và có dáng lồi hoặc trĩu xuống thì được gọi là “dái”, vì thế chúng ta đã hiểu vì sao sinh thực khí nam giới lại được gọi là “dái” phải không nào.

***

Tôi từng nghe một câu ca dao “Yêu nhau hai cái nõ nường”, “nõ” tức là sinh thực khí nam giới, còn “nường” là sinh thực khí nữ giới. Lại thấy thêm từ “nõ điếu” tức là lỗ để cho thuốc lào vào hút ở điếu cày (xem hình 6) 


Cách giải thích cho từ “nõ” với từ “dái” là giống nhau, những phần nhô ra ngoài thì gọi là “nõ”. 

***
Còn từ “Buồi” thì sao? Thực ra từ này tôi cũng chưa thực sự có một cách giải thích hợp lý. Tuy nhiên, dựa vào âm đọc và tự dạng của chữ Nôm, tôi đưa ra một giải thuyết: 
“Buồi” gần âm với “Bùi” 裴, mà từ “bùi” tôi có phân tích tại bài viết “Thâm nho nhọ đít: Nỡ lòng để con cháu không có quần áo!”: “Bùi” tức là “phi y” (không có quần áo), vì thế mà người xưa dùng nghĩa chơi chữ đó để chỉ sinh thực khí nam giới chăng? Giả thuyết này xin được các học giả cùng bạn đọc góp ý để người viết được mở mang kiến thức. Xin chân thành cảm ơn!

***
Tựu trung lại, tôi vừa đưa ra một số phân tích để sơ lược nêu ra nguồn gốc của các từ ngữ thông tục chỉ sinh thực khí nam giới để bạn đọc tham khảo. Biển học vô bờ, mọi người còn nhiều kiến thức rộng rãi hơn nữa, bài viết ở mức sơ lược, Blog người hiếu cổ rất mong được sự rộng lượng châm chước.
___________________________________________________
(1) Phồn thực: có nghĩa là sinh sôi nảy nở. Tín ngưỡng phồn thực hiểu đơn giản là sự sùng bái hoạt động tình dục nam nữ, coi đó là mầm mống của sự duy trì và phát triển nòi giống. Tín ngưỡng phồn thực thể hiện rõ nhất trong việc thờ sinh thực khí (tức bộ phận sinh dục) của nam và nữ và các nghi lễ tượng trưng cho sự giao hợp nam nữ. (2) Tham khảo từ  http://lophocvuive.com/diendan/f14/c%E1%BA%B7c-b%E1%BA%A7n-v%C3%A0-d%C3%A1i-m%C3%ADt-4430/ 
(3) Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam quấc âm tự vị, Sài Gòn, 1895, trang 215

Phật lăng là gì?


Phật lăng là tên gọi cũ của đồng tiền Pháp (đồng phơ-răng; phơ-răng là phiên âm của franc). Nguyễn Văn Khang (2007:264) cho rằng phật lăng là từ mượn tiếng Pháp bằng cách đọc Hán Việt thông qua tiếng Hán. Nếu hiểu như vậy thì phải coi lộ bố từ mượn tiếng Nga bằng cách đọc Hán Việt thông qua tiếng Hán,  tuy-líp là từ mượn tiếng Thổ Nhĩ Kỳ thông qua tiếng Pháp, pa-pi-ê-ma-sê là từ mượn tiếng Pháp thông qua tiếng Nga, … Chỉ có một điều khó hiểu là tại sao nguồn gốc của từ được tính ở đời ông mà không phải ở đời cha hay đời ông cố.

Kìm công lực là cái gì?


Kìm (kềm) cộng lực là loại kìm cắt sắt thép có hai cán dài. Có thể một người nào đó đánh máy nhanh, bỏ sót dấu nặng thành ra kìm (kềm) công lực rồi rồi vì nhiều người không hiểu cái nguyên lý cơ học trong từ cộng lực, tai quen nghe công lực của phim võ hiệp hơn nên càng ngày càng có nhiều người viết kìm (kềm) công lực mà không thấy chướng nữa.

Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau (Chương Thâu)

 
1.

Trong cuốn sách Divers voyages et missions (Các cuộc hành trình và truyền giáo) của linh mục Alexandre de Rhodes do Cramoisy xuất bản tại Paris năm 1653 ở đoạn cuối chương 19 của phần thứ ba có một câu viết nguyên văn:

J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l’Orient, pour l’assujetter à Jésus Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui fussent nos Pères et nos Maitres en ces Églises. Je suis soirti de Rome à ce dessein le 11e Septembre de l’année 1652 après avois baisé les pieds du Pape”. 

Và câu này, được Hồng Nhuệ dịch ra Việt ngữ trong cuốn Hành trình và truyền giáo do Ủy ban Ðoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1994, ở trang 263 như sau:

“Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôimấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Ðức Giáo hoàng.” 

(Người dịch chú thích từ chiến sĩ ở đây: Nói chiến sĩ Phúc Âm tức là các nhà truyền giáo, chứ không phải binh sĩ đi chiếm xứ xâm lăng – trang 289).

Ðiều đáng chú ý là: người dịch bám rất sát “văn cảnh” và dịch tương đối thoát (có vài từ không được sát đúng nguyên nghĩa), đặc biệt cụm từ plusieurs soldats, dịch là “mấy chiến sĩ”.

2.

Thế nhưng, cũng chính câu nguyên văn này, tác giả Cao Huy Thuần trong bản Luận án tiến sĩ quốc gia – Khoa học Chính trị, Đại học Paris, tựa đề: Ðạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam 1857-1914, xuất bản tại Paris, năm 1968, lại đã trích không trọn câu và đã dịch ra tiếng Việt (do Hương Quê xuất bản ở Los Angeles – Mỹ, năm 1988) như sau:

“Tôi tin rằng: Pháp (ông viết: écrivait il, Cao Huy Thuần thêm hai từ này) là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để đi chinh phục toàn thể phương Ðông, cũng như ở đó, tôi sẽ có cách để có nhiều giám mục vốn là Cha và các Thầy của chúng ta ở trong các nhà thờ. Tôi rời La Mã ngày 11 tháng 9 năm 1652 với ý định đó”. 

Tác giả trích dẫn và sử dụng câu này như một luận cứ cho Luận án nhằm góp phần:

“- Trình bày những nguyên nhân và mối liên hệ giữa các nhà truyền giáo và chính quyền Pháp trong việc xâm lăng và đô hộ Việt Nam. Và

– Qua Luận án này, chúng ta sẽ có đủ bằng chứng để thấy những nguyên nhân chính yếu trong việc Pháp xâm lăng và đô hộ Việt Nam, từ đó đưa đến những tai họa mà dân tộc ta đã và đang gánh chịu trong suốt mấy thế kỷ nay” (trang 4). 

Tuy vậy, Cao Huy Thuần cũng đã đi đến một “kết luận” vừa phải:

“Tìm cách phục hồi sự thật lịch sử, không hề nhằm kết tội một ai, lại càng không phải là gieo rắc bất hòa giữa người Thiên chúa và phi Thiên chúa. Trái lại, nó giúp hiểu rõ vấn đề để không phạm lại những lỗi lầm cũ. Những lỗi lầm đã gây nên nhiều tranh chấp đẫm máu giữa người Giáo và người Lương trong quá khứ và hiện giờ chúng còn ngăn cản họ cùng nhau sống hòa bình dưới một mái nhà. (Chúng ta không) né tránh vấn đề hay che đậy sự thật như người ta thường làm ở Việt Nam.” 

3.

Một tác giả khác, người Anh, tên là Helen B. Lamb, trong công trình nghiên cứu, tựa đề Vietnam’s Will to Live, xuất bản năm 1972 cũng đã “dẫn dụng” câu trên của A. de Rhodes, dịch ra tiếng Anh.

“I believed that France, as the most pious of all Kingdoms would furnish me with soldiers who would undertake the conquest of the whole Orient, and that I would find the means for obtaining bishops and priests who were French men to man the new churches” (tr. 38, 39).


Ở đây, từ soldiers vẫn được hiểu là “nhiều binh lính”, cho nên tác giả đã “bình luận” thêm rằng:

“A. de Rhodes ôm mộng nước Pháp sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc chiếm Việt Nam làm thuộc địa” (“Alexandre de Rhodes held to his dream that France should play the key role in colonizing Vietnam”, p. 38). 

4. 

Giáo sư Hoàng Tuệ, trong cuộc Hội thảo quốc tế về “Nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam” – nhân 90 năm thành lập Trường Viễn đông Bác cổ Pháp tại Việt Nam – họp tại Hà Nội những ngày 3, 4, 5 tháng 12 năm 1992, có đọc bản tham luận “Về sự sáng chế chữ Quốc ngữ”, trong đó có đề cập đến vai trò của A. de Rhodes và có “dẫn dụng” câu trên của A. de Rhodes (nhưng lại không trích trực tiếp từ tác phẩm Hành trình và truyền giáo, nguyên bản của A. de Rhodes, bản in năm 1653, mà lại trích gián tiếp qua bản của De Francis mới viết năm 1977, và cũng không trích dịch trọn câu đủ ý).

Giáo sư Hoàng Tuệ viết:

“A. de Rhodes quê ở Avignon, lãnh địa của Giáo hoàng trên đất Pháp. Ông vẫn gắn bó với nước Pháp. Ông viết trong hồi ký: ‘Tôi nghĩ là nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôibinh lính để chinh phục toàn phương Ðông và đặt nó dưới quyền Jésus Christ’. Ông đã tiến hành một chuyến đi Pháp. Ở đây ý kiến của ông được hoan nghênh. Kết quả là sự thành lập Société des Missions Étrangères de Paris năm 1661, chỉ bao gồm các giáo sĩ Pháp… Từ đó thế lực của Giáo hội Pháp ở Việt Nam mạnh lên. Có thể nghĩ là chữ Quốc ngữ, ngoài ý nghĩa thực tiễn, còn có ý nghĩa chính trị nhất định trong phạm vi các Giáo hội khác ở Việt Nam.” 

5. 

Do có ý kiến tham luận như vậy, nên nhà nghiên cứu Nguyễn Ðình Ðầu tại cuộc Hội thảo này đã có ý kiến trao đổi lại với giáo sư Hoàng Tuệ như sau:

“Qua đoạn vừa trích trên đây, người đọc có cảm tưởng Giáo sư Tuệ đã ám chỉ A. de Rhodes là thân Pháp, xui Pháp đem binh lính xâm chiếm phương Ðông và chữ Quốc ngữ… còn có ý nghĩa chính trị”.

Và đến lượt, ông Nguyễn Ðình Ðầu đã dịch lại câu trên của A. de Rhodes đồng thời chú thích một số từ dùng trong câu của A. de Rhodes, cũng là nhằm đối thoại và biện minh với giới nghiên cứu khoa học xã hội – nhân văn, như sau:

“Tôi tin rằng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn phương Ðông và đặt dưới quyền trị vì của Ðức Giêsu Kitô, và đặc biệt tại Pháp, tôi sẽ tìm cách có được Giám mục, các ngài sẽ là cha và là thầy chúng tôi tại các Giáo hội này” (tức là Ðàng Ngoài và Ðàng Trong). 

Ông Nguyễn Ðình Ðầu biện giải thêm: “Nếu đọc nguyên đoạn trích trên đây, ta mới hiểu chữ chiến sĩ có nghĩa bóng là thừa sai (đối với giám mục là cha và thầy họ). Còn “chinh phục toàn phương Ðông” là để cho “nước Cha trị đến”, chứ không phải để cho Pháp đến thống trị. “Chinh phục” hiểu theo nghĩa tôn giáo, chứ không phải chính trị. Vì ngộ nhận trên, người ta mới gán cho chữ Quốc ngữ “còn có ý nghĩa chính trị” vậy!

6.

Cũng vào thời gian cuối tháng 3-1993, tại một cuộc Hội thảo “Tưởng niệm A. de Rhodes, nhân 400 năm ngày sinh của ông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức tại Hội trường Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, có nhiều nhà khoa học tham dự, đọc tham luận. Trong đó Giáo sư sử học Ðinh Xuân Lâm, một lần nữa lại đề cập “câu chữ” trên đây của A. de Rhodes và dịch lại (theo đúng văn cảnh, bối cảnh lịch sử thế kỷ 17) cụm từ plusieurs soldats là “chiến sĩ truyền giáo”, vào coi như “lần cuối cùng đính chính lại sự lầm lẫn” (dịch soldat là lính chiến, là quân lính đi xâm lược) như trước đây trong một số giáo trình lịch sử Việt Nam đã dẫn dụng.

Chính trong cuộc Hội thảo đó của Hội Sử học đã đưa ra nhiều kiến nghị với các cấp có thẩm quyền (Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa v.v…) nhằm khôi phục vị trí xứng đáng cho linh mục A. de Rhodes, người đã góp phần quan trọng trong việc chế tác ra chữ Quốc ngữ cũng như một số hoạt động văn hóa (trứ tác các công trình sử học giá trị).

Cũng do vậy mà hiện nay, đã có quyết định khôi phục lại tên đường phố Ðắc Lộ ở thành phố Hồ Chí Minh, dựng lại bia 1941 [1] tại khuôn viên Thư viện Quốc gia ở Hà Nội v.v…

Vấn đề đánh giá thỏa đáng công lao của A. de Rhodes đối với nền văn hóa Việt Nam, đến nay, theo tôi được biết, đã có thể về cơ bản đáp ứng đúng đắn được tâm cảm của mọi người. Chúng ta thành kính ghi nhận tầm nhìn sáng suốt của các giới lãnh đạo của Ðảng và của Nhà nước ta đối với danh nhân văn hóa Alexandre de Rhodes. Các công trình trứ tác có giá trị của A. de Rhodes, như Từ điển Bồ La, Phép giảng tám ngày, Hành trình và truyền giáo, Lịch sử xứ Ðàng Ngoài cũng đã được in ấn, xuất bản lần lượt trong mấy năm qua và được bạn đọc đón nhận một cách trân trọng. Ðiều đó nói lên rằng, nhân dân ta biết rất rõ chân giá trị của A. de Rhodes và cũng đã dành cho ông một vị trí xứng đáng.

7.

Còn có điều đáng phiền lòng là gần đây, có một số nhà nghiên cứu (?) người Việt ở hải ngoại đã có vài việc làm, xem ra không mấy thiện chí, tỏ ra không đồng thuận với cách đánh giá A. de Rhodes của chúng ta.

Cụ thể là vào hồi tháng 10-1994, tại Hoa Kỳ (San Diego) có một nhà xuất bản (không rõ tên) đã cho in lại bản dịch cuốn Thiên Hồ! Ðế Hồ!, một tác phẩm quan trọng của Phan Bội Châu viết năm 1923 nhằm vạch trần tội ác của thực dân Pháp, lợi dụng tôn giáo (Thiên chúa giáo) và thông qua một số kẻ “đội lốt thầy tu” để xâm lược, áp bức nhân dân ta, như Bá Ða Lộc (Pigneau de Béhaine).

Họ giữ lại nguyên văn bản dịch (của Chương Thâu – Nxb Khoa học Xã hội 1978) nhưng đã thay 30 trang nghiên cứu phân tích tác phẩm của người dịch bằng một Lời giới thiệu dài 13 trang do Cửu Long Lê Trọng Văn ký tên.

Trong Lời giới thiệu này, tác giả đã dẫn lại câu chữ (đã nói ở trên) của A. de Rhodes và cũng đã cố tìnhhiểu chữ “soldat” ở đây là quân lính xâm lược! Tác giả đã có những câu thêm vào bình luận về cụ Phan như sau:

“Cụ Phan còn nêu đích danh kẻ đội lốt tôn giáo Pigneau de Béhaine đã mở đường dẫn lối cho Pháp đến chiếm nước ta. Sự thật thì Bá Ða Lộc đâu phải là kẻ đội lốt tôn giáo đầu tiên. Ông ta chỉ là kẻ thừa kế để tiếp tục thực hiện ý đồ của kẻ đội lốt tôn giáo Alexandre de Rhodes (Ðắc Lộ) mà thôi!

Như vậy là Cửu Long Lê Trọng Văn vẫn dừng lại ở nhận thức của Helen B. Lamb năm 1972 trong cuốnVietnam’s Will to Live, Lê Trọng Văn cũng tỏ ra cực đoan hơn cả những người cực đoan nhất trong cách đánh giá A. de Rhodes. Ông ta cũng tỏ ra không biết gì về những thông tin mới nhất đối với A. de Rhodes ở “quốc nội” cả.

Và cuối cùng, nhân bài viết này, tôi muốn gửi thêm một ý nhỏ đối với tác giả Lời giới thiệu (mới) cuốnThiên Hồ! Ðế Hồ! và với những người tái bản (chui, không xin phép tác giả, nhà xuất bản và dịch giả) cuốn sách này rằng:

Việc cấu tạo thêm một phần Phụ lục (mới) cho lần in lại nầy là với ý đồ không mấy trong sáng.

Phần Phụ lục (mới) này tại sao lại có thể đưa thêm mấy bài viết:

  • “Mối tình giữa một nhà cách mạng Việt Nam và một nhà học giả Trung Quốc” (PBC với Hồ Thích) của Nguyễn Hiến Lê.
  • “Cụ Phan Bội Châu ở Hàng Châu” – Hồi ký của Nguyễn Thượng Huyền.
  • “Tại sao tôi không theo đạo Kitô và tại sao tôi không theo cộng sản” của Bertrand Russell và nói là “để bổ túc cho tác phẩm Thiên Hồ! Ðế Hồ! thêm súc tích (!) và… vì nó giúp cho quan điểm của Bertrand Russell được nhất quán và minh bạch hơn (!)

thì thật là không có gì vô nghĩa lý hơn, ngoài cái nghĩa lý (cái ý đồ) chống Kitô giáo và chống cả cộng sản!

Tóm lại, trở về chủ đề của bài viết này, ý kiến cá nhân tôi, sau khi phân tích so sánh các câu dẫn dụng từ một câu dịch nguyên văn của A. de Rhodes, tôi đồng ý với cách diễn giải của Hồng Nhuệ và của Nguyễn Ðình Ðầu. Ðọc kỹ toàn văn cuốn Hành trình và truyền giáo, chúng ta dễ dàng nhận thấy tư tưởng và nguyện vọng của nhà truyền giáo A. de Rhodes ở thế kỷ XVII này.

Nhưng để tránh những suy luận chủ quan, người nghiên cứu có thái độ nghiêm túc, thận trọng… Một khi gặp phải “câu chữ” có thể có nhiều ý suy đoán như câu trên đây, chúng ta nên mở đóng ngoặc ghi nguyên văn – để tiện đối chiếu, để tránh được cái lối “dĩ hư truyền hư” và chủ quan võ đoán. Âu cũng là một kinh nghiệm đối với giới khoa học xã hội nhân văn vậy.

Hà Nội 14 tháng 12 năm 1995


[1] Bia do cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ Tịch Hội Truyền Bá Quốc Ngữ xây dặt gần đền B Kiệu – Hồ Gươm, Hà Nội.

BỒ ĐÀO NHA VÀ CÔNG TRÌNH SÁNG CHẾ CHỮ QUỐC NGỮ: PHẢI CHĂNG CẦN VIẾT LẠI LỊCH SỬ? – VC+ (Roland Jacques – Người dịch Nguyễn Đăng Trúc)

BỒ ĐÀO NHA VÀ CÔNG TRÌNH SÁNG CHẾ CHỮ QUỐC NGỮ: PHẢI CHĂNG CẦN VIẾT LẠI LỊCH SỬ? – VC+

24THÁNG 4

Roland Jacques – Người dịch Nguyễn Đăng Trúc

Lời người dịch :
* ** Giới thiệu tác giả
Roland JACQUES sinh năm 1943 tại miền Lorraine Pháp.
Tiến sĩ luật học tại Phân Khoa Luật  Jean-Monnet de Sceaux, Đại Học Paris –Nam,
Tiến sĩ Giáo Luật Công Giáo tại Đại Học Paris và Học Viện Quốc Gia Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương Paris ( Faculté de Droit canonique de Paris et de l’Institut National des Langues et Civilisations Orientales de Paris) .
Đề tài luận án : Les destinataires de la mission “ad gentes” en droit canonique. La genèse du droit missionnaire de l’Eglise catholique : le cas de l’Extrême-Orient., 
Cữ nhân và phó tiến sĩ về ngôn ngữ, văn chương và văn minh Việt Nam tại Học Viện Quốc Gia Ngôn Ngữ và Văn Minh Đông Phương Paris. Ông cũng đã thực tập hai năm tại Việt Nam và nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Xã hội Quốc gia (1994-1996).
Giáo sư khoa trưởng Phân Khoa Giáo luật, Đại Học St Paul, Ottawa, Canada
Các tác phẩm đã xuất bản :
–    De Castro Marim à Fạfo : Naissance et développement du padroado portugais d’Orient, des origines à 1659 (Lisbonne, Fondation Calouste Gulbenkian, 1999)
–    “Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 / L’oeuvre de quelques pionniers portugais dans le domaine de la linguistique vietnamienne jusqu’en 1650 (Bangkok, Orchid Press, 2002, 408 p.).
–    “Des nations à évangéliser, Genèse de la mission catholique pour l’Extrême-Orient” (EÉditions du Cerf, Paris 2004)
***
Những đề tài mà Roland Jacques nêu lên hẳn đã được các bộ sách nghiên cứu lịch sử đạo cũng như đời đề cập đến, và một số nội dung được lặp đi lặp lại như đã là hiển nhiên. Tuy thế ở Phần Dẫn nhập khảo luận về «Bồ Đào Nha và công trình sáng chế chữ Quốc ngữ» của tác phẩm song ngữ « Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam- Les missionnaires portugais et les débuts de l’Église catholique au Viêt-nam), Roland Jacques không ngại nêu lên rằng :
«Có những sự việc thường được xem là hiển nhiên mà thực sự lại sai…»
Phải tìm kiếm tối đa các bằng chứng cụ thể, khách quan với những  tài liệu chính xác; phải am tường bối cảnh sâu, rộng nghĩa là toàn bộ của mọi sự kiện; phải can đảm, khiêm tốn và kiên quyết tôn trọng sự thật trong tinh thần vô chấp, không thiên kiến ; và phải trang bị khả năng chuyên môn cần thiết để sâu sát vấn đề… :  Tất cả những yêu sách để nghiên cứu về lịch sử như thế đã đòi hỏi Roland Jacques rất nhiều hy sinh để đạt đến những khám phá ghi lại trong cuốn sách nầy.
Trước hết Roland Jacques yêu mến Việt Nam. Hơn 20 năm qua, với cái tên bằng tiếng Việt-nam là Dương Hữu Nhân, Roland Jacques đã là bạn bè của vô số người Việt trong cũng như ngoài nước. Tác giả học tiếng Việt để đọc, để nói, để hát… và còn hơn thế nữa, tác giả ghi danh học xong chương trình Ban cử nhân và tiền tiến sĩ (DEA) về Việt học và Viễn Đông học tại Đại Học Viện các Ngôn ngữ và Văn minh Đông phương Quốc gia ở Paris. Nhằm đáp ứng đầy đủ hơn nữa về phần chuyên môn, tác giả đã đến cư ngụ ở Việt Nam hơn hai năm để nghiên cứu tại chỗ. Suốt thời gian nầy, Dương Hữu Nhân không những cố tiếp thu những kiến thức về ngôn ngữ, chữ hán, chữ nôm, các cách nói của từng miền, truy tìm các tài liệu lịch sử qua các viện bảo tàng, các thư viện, học viện. Nhưng tận dụng cơ hội quí báu cư ngụ ở Việt Nam, tác giả còn đến quan sát tại chỗ những vùng mà các nhà truyền giáo đầu tiên đã đặt chân đến.
Thứ đến, Roland Jacques có những khả năng chuyên môn rất đặc biệt để tiếp cận những sự kiện lịch sử một cách chính xác. Khả năng chuyên môn nổi bật là khả năng ngôn ngữ. Roland Jacques thông thạo không những các ngôn ngữ mà trước đây Alexandre de Rhodes đã sử dụng, nhưng còn sành sỏi các thứ tiếng khác như: Hy-lạp, Do-thái, La-tinh, Bồ-đào-nha, Ý, Anh, Pháp, Đức, Tây-ban-nha, Việt Nam và Hán tự… Chính vì thông thạo nhiều ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng La-tinh, Ý, Bồ-đào-nha và Tây-ban-nha mà Roland Jacques đã nhiều lần đến hầu hết các thư viện tại Âu châu, Á châu, Mỹ châu có liên quan đến các tài liệu thời khai sinh Giáo hội Công giáo Việt Nam để khám phá những tài liệu chưa từng được các sử gia Việt Nam cũng như Tây phương nhắc đến trong các nghiên cứu của họ. Khả năng chuyên môn khác nữa, đó là kiến thức về thần học *,  ngữ học, sử học…
Nói tóm lại, ai đã từng tiếp xúc với Roland Jacques, thì đều nhận ra rằng, đây là một người bạn của người Việt Nam, một người yêu mến những gì là Việt Nam, nhưng hơn thế nữa đây là người luôn cố tìm sự thật. Và ước mong của Dương Hữu Nhân cũng như Định Hướng Tùng Thư là cuốn sách «Các nhà Truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam» sẽ cống hiến được một số những sự kiện khách quan của lịch sử, đẩy lui được những tiền kiến hoặc «những sự việc thường được xem là hiển nhiên mà thực sự lại sai».
Nguyễn Đăng Trúc
Năm 1651, hai tác phẩm rất quan trọng về lịch sử tiếng Việt Nam đã được xuất bản tại Roma: cuốn Từ điển Việt-Bồ-La và cuốn Phép Giảng Tám Ngày Cho Kẻ Muốn Chịu Phép Rửa Tội Mà Vào Đạo Thánh Đức Chúa Trời; 1 điều mới mẽ đặc biệt là việc sử dụng một hệ thống chữ viết có tính cách cách mạng lấy từ vần latinh, vừa mới được sáng chế trước đó; hệ thống chữ viết ấy, ngày nay, thường được gọi chung là chữ quốc ngữ. Trong gần hai thế kỷ, mải cho đến lúc xuất hiện cuốn Từ điển La-Việt của Taberd năm 1838, 2 hai tác phẩm ấy vẫn là những công trình – duy nhất áp dụng hệ thống chữ viết nầy được in. Hai cuốn sách ấy ghi rõ trên bìa tên của tác giả Alexandre de Rhodes, thuộc Hội dòng Giêsu, nhà truyền giáo Tông tòa.
Thành ngữ “quốc ngữ” theo nguyên tự hán-việt là “tiếng nói của người Việt”. Thực ra, đây là một lối viết tiếng Việt khác với chữ hán được sử dụng chính thức trong nhiều thế kỷ. Việc áp dụng một lối viết để đọc tiếng Việt khởi thủy là chữ nôm; hệ thống chữ viết nầy lấy từ cách viết chữ hán mà chúng ta sẽ có dịp nói đến sau nầy. Nhưng từ khoảng đầu thế kỷ 20, thành ngữ “quốc ngữ”, về kỷ thuật nhằm nói đến lối viết tiếng Việt theo mẫu tự latinh; và ngày nay mọi người đều hiểu như thế. Chữ “quốc ngữ” ấy xây dựng trên căn bản vần latinh được bổ túc bởi hai kiểu-mẫu âm tiêu nhằm thích ứng với tính đa dạng của các âm tố nơi tiếng Việt, và để ghi chép rõ nét các âm. Đây là lối viết ngày nay được mọi người Việt sử dụng.
Đến khi chữ quốc ngữ đã bắt đầu được sử dụng chính thức tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, 3 người ta cố truy tìm lịch sử của nó, bấy giờ tên tuổi Alexandre de Rhodes đã sớm được công nhận như là người khai sinh ra việc chuyển vần latinh vào tiếng Việt Nam. Rồi từ đó ông được nâng lên tận mây xanh như một ngôi sao đứng một mình, soi sáng cho đêm tối của quá khứ xa xưa, của những thời kỳ truyền giáo tiên khởi, trước khi các vị truyền giáo Paris đến, trong đó Taberd và các đấng kế vị là những đại diện có tên tuổi. Chính quyền thực dân và Giáo hội đều đã ca ngợi thiên tài truyền giáo và ngữ học có một không hai của vị tu sĩ dòng Tên, tán dương những lợi ích đem lại cho Việt Nam trong thời đại mới. Một tác giả4 từng viết : “Cha Alexandre de Rhodes đưa Kitô giáo và nước Pháp vào Việt Nam”. Nhưng có những sự việc thường được xem là hiển nhiên mà thực sự lại sai…
Vậy Alexandre de Rhodes là ai? Ông sinh tại Avignon trong các lãnh địa của Giáo hoàng năm 1593, và vào dòng Tên tại Roma năm 1612. Lên thuyền từ Lisbonne đi Đông dương năm 1619, đến Macao năm 1623, và được sai đến truyền giáo tại Đàng Trong năm 1624. Hai năm sau, từ Đàng Trong, cùng với bề trên mình là linh mục người Bồ đào nha Pêro Marques, ông được cử đến thành lập vùng truyền giáo Đàng Ngoài; ông cư ngụ tại đấy từ năm 1627 cho đến lúc bị trục xuất vào năm 1630. Sau mười năm sống ở Macao (1630-1640), ông lại được gửi đến Đàng Trong và điều hành vùng truyền giáo nầy; ông ba đợt cư ngụ tại đây từ năm 1640 đến năm 1645 là năm ông vĩnh viển bị trục xuất. Cuối năm 1645 ông lên tàu đi Âu châu: ông đi chuyến ấy để thảo luận về tương lai công cuộc truyền giáo Việt Nam, tại Rôma (1639-1652), rồi tại Pháp (1652-1654). Sau đó, ông được sát nhập vào đoàn truyền giáo dòng Tên của Ba-tư, cư ngụ tại Ispahan cho đến lúc qua đời vào năm 1660.
Về việc cho rằng Rhodes là người khai sinh ra các công trình tính có cách quyết định về tiếng quốc ngữ, các nhà nghiên cứu khoa học đã từng thấy hơi vướng vấp trước một mâu thuẫn: Rhodes, sinh ở Avignon, được xem là nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ; thế nhưng hệ thống chuyển tiếng việt bằng chữ latinh lại không mang dấu vết tiếng nói của Boileau… . Tuy vậy đã không có ai cố tìm hiểu để bác khước vị thế khai sáng của Alexandre de Rhodes từng được xem là cha đẻ của chữ viết nầy; người ta lại cố tìm cách tránh né khó khăn trên bằng cách đưa ra giả thiết về gốc gác có tính cách đa quốc của vị tu sĩ người Avignon ấy, 5  đồng thời thổi phòng khả năng ngữ học vô song về nhiều thứ tiếng khác nhau của ông. Một số thấy được vấn đề và lưu ý đến những thực tế lịch sử nên đã nói đến một công trình tập thể do các nhà truyền giáo “Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và Pháp”, 6  mà dấu vết của họ còn lưu lại; nhưng vai trò nổi bật nhất luôn được dành cho Rhodes.
Bản liệt kê ấy lại làm ta phải ngạc nhiên. Nếu thật sự có sự hiện diện của các vị truyền giáo Bồ đào nha và Ý trong những năm sáng chế ra chữ quốc ngữ, và cả của Alexandre de Rhodes, thần dân của các lãnh địa thuộc Giáo hoàng, vì nguồn gốc văn hóa mà có thể gọi là có dấu tích của người Pháp, thì người Tây ban nha lại hoàn toàn không liên quan gì vào công cuộc ấy, trừ phi phải nại đến nguồn gốc di cư từ tổ tiên của chính Rhodes… Những nhà truyền giáo đầu tiên người Pháp đó là các tu sĩ dòng Tên Joseph FranÒois Tissanier và Pierre Jacques Albier, đến Việt Nam vào năm 1658; còn các tu sĩ dòng Đaminh gốc Tây ban nha đến vào năm 1676. 7
Và Haudricourt, nhà chuyên môn về Việt học, trong một bài nghiên cứu hết sức thấu đáo, từng cho rằng trong chữ quốc ngữ có những dấu vết của nhiều hệ thống phát âm của Âu Châu, kể cả các thổ ngữ miền Basque. 8
Hẳn nhiên, chủ trương chống thực dân của những năm sau khi Việt Nam giành lại độc lập không xem đây là một công trạng, mà còn mạ lị cả con người được đánh giá là đã từng đem đến mọi đều xấu xa. Việc áp dụng vần latinh làm chữ viết đã được xem như một hành động chính trị thù nghịch, một mưu đồ hủy diệt văn hóa nhằm chia rẽ cộng đồng quốc gia và áp đặt một sự thống trị của ngoại quốc; ngoài ra, Rhodes không phải đã từng được hiểu là đi Âu Châu kêu gọi quân đội Pháp đến hay sao?
Chúng tôi sẽ đề cập đến lối phê phán nầy ở phần sau và không tranh cãi theo tiền kiến ý thức hệ, nhưng dựa vào những nguồn tài liệu đang có. Sự thực thì Alexandre de Rhodes đôi khi đã dùng một lối nói bóng bảy trong các tài liệu ông đã xuất bản: “Tôi đã nghĩ rằng Pháp quốc vốn là vương quốc sùng đạo nhất trên thế giới, hẵn có thể cung ứng cho tôi nhiều chiến sĩ lên đường chinh phục toàn Đông phương, để đưa về Chúa Giêsu Kitô, và đặc biệt là tôi mong xứ ấy giúp tôi có được những giám mục, là những bậc làm cha, làm thầy của chúng tôi trong các giáo hội ấy… ”. 9  Thế mà, có những bậc học giả cấp đại học từng giải thích các hình ảnh tỷ dụ trong ngôn ngữ sùng đạo “chiến sĩ” và “chinh phục” theo nghĩa đen của chúng! 10
Còn thành ngữ mà tây phương thường dùng “romanisation du vietnamien” [la-mã hóa tiếng việt] lại là một sự trùng hợp rủi ro và dễ tạo hiểu lầm. “Romanisation = la-mã hóa” có thể bị hiểu sai như là một sự sửa đổi ngôn ngữ, bởi những người “Roma” (người Âu châu) theo quan điểm riêng của họ với những âm hưởng tiêu cực của chủ nghĩa thực dân. Kỳ thực, đây là lối diễn tả các âm tố của tiếng nói Việt Nam dựa vào một hệ thống mẫu tự của vần latinh, thay vì dựa vào các âm hiệu lấy từ hệ thống chữ viết trung hoa. Vì sử dụng đã quen, thành ngữ đó bất đắc dĩ phải lặp lại.
Nhưng dẫu thế nào, thì phải đợi đến năm 1993, người ta mới chứng kiến việc phục hồi danh dự cho ông… nhưng một lần nữa, cũng một mình ông được phục hồi danh dự mà thôi. Người ta tìm lại tấm bia kỷ niệm ông, đã được dựng lên trước đây năm trong 1941, và đưa về ở khu vườn của thư viện quốc gia tại Hà nội để khai trương lại vào năm 1995. 11 Nay ông được tôn vinh lại như “người khai sinh” ra chữ viết Việt Nam. 12
Khi theo học các khóa căn bản về tiếng Việt tại Học viện ngôn ngữ đông phương (Langues’O) ở Paris, chúng tôi thấy dáng dấp rất Bồ Đào Nha trong chữ viết nầy; sự kiện đó đã gợi hứng cho các nỗ lực nghiên cứu vừa lịch sử vừa ngữ học của chúng tôi, và giúp chúng tôi biết được phần nào những khối tư liệu trước đây ít được biết đến và ít được trích dẫn. Chúng tôi thấy những tư liệu nầy có thể đem lại một chỉ dẫn mới cho câu hỏi được đặt ra nơi tựa đề của bài nầy. Theo ý chúng tôi, nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản về Alexandre de Rhodes dường như không được thỏa đáng vì chưa lưu ý đủ về bối cảnh lịch sử và tôn giáo liên hệ đến toàn bộ sinh hoạt của ông tại Viễn Đông 13 –Thật thế, ông không phải là người đại diện cho vua nước Pháp tại đây, nhưng là cho vua nước Bồ Đào Nha mà ông đã tuyên thệ trung thành với tư cách là nhà truyền giáo đặt dưới sự bảo trợ của triều đình nước ấy. 14  Từ đó, những kết luận của các công trình nghiên cứu trước đây, theo ý chúng tôi, cần phải kiểm chứng lại. Ở đây, chúng tôi sẽ cố gắng nêu lên trước hết bối cảnh lịch sử tổng quát, đúng theo nội dung được tìm thấy nơi khối tư liệu mà chúng tôi sưu tra, để sau đó nắm kỹ hơn trong những hoàn cảnh nào, do ai và trong mục đích gì việc áp dụng vần latinh tạo ra chữ viết Việt Nam đã được thực hiện.
1. Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Bồ Đào Nha và Việt Nam
Chúng ta sẽ nghiên cứu thời gian một thế kỷ rưởi, từ năm 1498, niên kỷ đánh dấu việc các tàu thuyền đầu tiên của Bồ Đào Nha đến Ấn Độ, đến năm 1651, niên kỷ của việc xuất bản các tác phẩm được nêu lên ở đầu bài nầy. Trước hết nên nhớ rằng Bồ Đào Nha đã chiếm và đã giữ được độc quyền hiện diện của những người Âu châu tại Á châu 15 suốt một thế kỷ, về mặt buôn bán cũng như về lãnh vực truyền giáo. Đến khúc ngoặt của thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, các đối thủ cạnh tranh về thương mại mới xuất hiện: đó là người Hòa Lan và người Anh. Trong cả hai trường hợp nầy, những quốc gia liên hệ là những quốc gia không công giáo, nên cả hai đều không có ảnh hưởng trực tiếp trên các công cuộc truyền giáo của Bồ Đào Nha. Về phần mình, nước Pháp hoàn toàn vắng mặt trên vùng đất Á châu suốt cả thời kỳ chúng ta đang bàn đến. Ngược lại, người ta thấy có sự hiện diện gián tiếp của nước Ý: mặc dầu không một tiểu quốc nào của bán đảo nầy đã hiện diện với tư cách quốc gia của mình, nhưng Bồ Đào Nha đã kết tập vào trong hàng ngũ của họ, trước hết là những thuyền viên, sau đó đặc biệt là những nhà truyền giáo gốc người Ý. Về sự kiện nầy Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ; và trong công cuộc truyền bá Kitô giáo, luôn được đặt dưới sự chi phối của Bồ Đào Nha trong thời gian ấy, đã thấy có nhiều người Ý tài giỏi. Alexandre de Rhodes, thần dân của Giáo hoàng và được đào tạo tại Roma, thuộc vào nhóm đó. Nhưng trước khi nghiên cứu kỹ lưỡng về sinh hoạt của công cuộc truyền bá Kitô giáo, cần định vị rõ hơn sự gặp gỡ giữa Bồ Đào Nha và Việt Nam.
Sau năm 1511, 16  khi những thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu quay lên hướng Bắc vượt qua eo biển Malacca, thì mục tiêu chính của họ là hai đế quốc lớn, Nhật Bản và Trung Hoa. Chuổi dài các quốc gia nhỏ giữa Malacca và Macao, đối với các thuyền nhân và thương gia chỉ được xem là những bến, trạm tiếp tế. 17  Còn đối với các nhà truyền giáo, khởi từ Phanxicô Xavie 18  vào giữa thế kỷ XVI, mục đích các nỗ lực của họ là nhằm làm cho hoàng đế Trung Hoa trở lại: người ta nghĩ rằng một khi có được sự trở lại đạo nầy, thì các quốc gia lệ thuộc từ miền bắc Việt Nam (Đàng Ngoài) đến Xiêm, hẳn phải noi theo. 19  Trong khuôn khổ chiến lược truyền giáo như thế, các nước nhỏ nói trên không được xem là ưu tiên.
Trong thực tế, những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người Bồ Đào Nha và Việt Nam được biết đến như những giai thoại. Người ta kể lại, qua trí nhớ, có một bia đá được dựng lên năm 1524 trên đảo đối diện với hải cảng Phe-phô, với người làm chứng là Fernão Mendes Pinto; 20 có một cố gắng rao giảng về Kitô giáo đầu tiên vào năm 1533, mà người ta chỉ biết được qua một nguồn tài liệu duy nhất của Việt Nam, có tính cách gián tiếp và trễ; 21 và cuối cùng có một nhận định về ngữ học, không tích cực cho lắm, do Gaspar da Cruz trong một lần cập bến vào năm 1555, được kể lại trong cuốn “Bản Tường Trình Về Trung Hoa” của ông. 22
Những nỗ lực truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam, mà các nguồn tài liệu Tây phương lưu lại dấu tích, thực sự đã xảy ra sớm, từ cuối thế kỷ XVI. Trong khuôn khổ chiến lược truyền giáo của họ, các vị tu sĩ dòng Tên cố giữ độc quyền truyền giáo ở Trung Hoa và Nhật Bản; nhưng nhiều lần họ khích lệ các dòng tu khác nên có sáng kiến truyền giáo tại các “nước nhỏ”. Vì thế mà vào năm 1583, mới thấy xuất hiện đoàn truyền giáo đầu tiên dòng Phanxicô người Tây ban nha đến Đàng Trong. Và đợt nầy hoàn toàn thất bại23 . Năm sau đó, lại có đợt truyền giáo lần thứ hai; Bartolomé Ruiz, đã từng thực hiện đợt truyền giáo đầu, tuy thành công sống được một mình ở vùng Đà nẵng trong vòng gần hai năm, nhưng không gặt được kết quả gì hơn. 24  Do sự trung gian trọng tài của vua Philippe II nước Tây ban nha, hai tu sĩ dòng Phanxicô người Bồ đào nha nối tiếp đến lại, nhưng cũng chỉ lưu lại được sáu tháng. 25  Vào cuối thế kỷ ấy, các vị ẩn sĩ dòng thánh Augustinô người Bồ Đào Nha, đến phiên họ, củng cố gắng vào truyền giáo hai lần 26 nhưng kết quả rất khiêm tốn, và bỏ cuộc vì những lý do đặc biệt là tiếp liệu. 27 Ký sự của các tu sĩ dòng Phanxicô và dòng Augustinô hé cho thấy rằng vào dịp nầy việc gặp gỡ giữa các nền văn hóa thực như là một đối thoại giữa những người điếc. Nó không đem lại những kết quả thấy được một cách cụ thể trong bối cảnh Việt Nam.
Trong lịch sử cuộc bành trướng của Bồ Đào Nha, việc lưu ý thật sự đến Việt Nam xuất hiện khá trễ. Yếu tố quyết định phát sinh do việc Nhật Bản đóng cửa không cho buôn bán cũng như truyền giáo, trong những thập niên đầu của thế kỷ XVIIe. 28
Vào thế kỷ 17, Việt Nam tự gọi tên là Đại Việt, danh xưng nội bộ; tên gọi “An Nam” dùng trong khuôn khổ các mối quan hệ với Trung Hoa và thế giới bên ngoài. Biên giới phía nam bấy giờ là phía bắc của Nha Trang hiện nay, cho đến năm 1653 – Toàn xứ có một sự thống nhất trên danh xưng đặt dưới sự cai trị của nhà Lê phục hưng. Nhưng trong thực tế, hai miền do hai Chúa cai quản được phân ranh do con sông Gianh, ở vĩ tuyến 18; cha truyền con nối chúa Trịnh cai trị Đàng Ngoài phía Bắc, chúa Nguyễn, Đàng Trong, phía nam. Việc phân cách dứt khoát xảy ra vào năm 1614, năm mà xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn đuổi các quan lại từ Bắc vào. Xứ Đàng Trong tân lập, vì đất hẹp và dân nghèo, nên quyết tâm mở rộng ngoại thương để cầu sự thịnh vượng; xứ ấy sẽ là khách hàng buôn bán ưu đãi trong vùng của người Bồ Đào Nha ở đảo Macao trong một thời gian rất lâu. Từ ngữ Bồ đào nha gọi Đàng Trong là “Cochinchine” [do chữ Kochi là cách gọi tên nước Việt Nam của người Mã lai và Nhật bản, rồi thêm vào chữ “Chine” để phân biệt với Cochim là một thành phố ở Ấn độ (Cochin)], lúc đầu được áp dụng cho toàn nước Đại Việt, nhưng vào chính thời ấy lại được hiểu là vùng đất của chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn thường được gọi là “vua xứ Cochinchine” ngay trong các bản văn, dẫu các tác giả am tường tình thế vẫn thường nhắc lại rằng đây chỉ là một “alevantado”, tức là một gia thần chống lại vị vua thật đang trị vì ở miền Bắc. Còn vùng đất chúa Trịnh phía Bắc, người Bồ đào nha gọi là vương quốc “TUNQUIM” (do chữ Đông kinh) một chữ hán việt có nghĩa là “kinh đô miền đông”, và rõ rệt hơn là Thăng long, tức Hà nội ngày nay, kinh đô của nhà Lê và chúa Trịnh.29
Vào khoảng năm 1616, thể theo lời mời của chính quyền Đàng Trong Việt Nam, một số dự án di cư – định cư của Bồ Đào Nha được đề nghị  30 và được sự hỗ trợ của phó vương Jerónimo de Azevedo và triều đình.31  Nhưng các phó vương João Coutinho và Francisco de Gama nhất quyết bác bỏ, nên dự án ấy32   bị dẹp đi ngoại trừ những lãnh vực thuần túy tôn giáo được nêu lên trong dự án. Nếu chủ tâm tìm lợi ích trên bình diện chính thức của nước Bồ Đào Nha đối với Việt Nam, bấy giờ sớm nguội dần chỉ còn leo lét, thì ngược lại có một sự hợp tác thương mãi đều đặn giữa thành phố Macao và hai xứ của Việt Nam. Sự hợp tác thương mãi đó kéo dài trong hai thế kỷ với những thành quả bất thường. Những khía cạnh chính trị và thương mải nêu lên đây đã được nhiều công trình nghiên cứu lỗi lạc khai thác, đặc biệt là của Pierre-Yves Manguin 33 và của Georges Bryan Souza, 34 cũng như xuyên qua nhiều tác phẩm đã được xuất bản của Manuel Teixeira.35  Chúng ta sẽ không trở lại vấn đề ấy.
Trong địa hạt tôn giáo, các miền truyền giáo tại Việt Nam được Tỉnh Dòng Tên của Nhật Bản, liên hệ với các tòa giám mục Bồ Đào Nha ở Malacca và Macao,36 chính thức thành lập: ở Đàng Trong vào năm 1615,37 ở Đàng Ngoài vào năm 1627.38 Tỉnh dòng Nhật bản của dòng Tên hoàn toàn thuộc quyền Bồ đào nha và do nước Bồ đào nha tài trợ trong khuôn khổ bảo trợ của hoàng gia. Nhân sự đa số người Bồ đào nha, nhưng ngay từ đầu có nhiều người Ý trong đó; có người Nhật, nhưng chỉ ở vào thành phần thuộc cấp, kể từ cuối thế kỷ XVI. Tỉnh dòng ấy nới rộng dần lãnh thổ quyền hạn của mình đến Trung hoa (sau nầy trở thành phó-tỉnh dòng tự trị) và đặt trụ sở tại Macao. Vào thời kỳ chúng ta đang nghiên cứu, tỉnh dòng nầy cố nới rộng về phía Đông dương và các vùng bán đảo phía nam Thái bình dương, hướng theo các con đường hàng hải khởi từ Macao. Thường các tu sĩ dòng Tên ít khi lưu ý đến các thẩm quyền các địa phận, mặc dầu trên lý thuyết các thẩm quyền nầy được trao trách nhiệm phối trí công việc truyền giáo.
Hai cơ sở thuộc Bồ đào nha và thuộc dòng Tên tại Đàng Trong và Đàng Ngoài đã gặt hái thành quả lớn lao, xây dựng nền tảng chắc chắn cho cộng đồng Kitô giáo Việt Nam. Vào năm 1658, khi Tòa thánh từ chối không công nhận triều vua Bồ Đào Nha mới được phục hưng,39 nên đã quyết định đặt các vùng truyền giáo nầy dưới quyền mình,40 thì bấy giờ đã có gần 70 nhà truyền giáo với tám quốc tịch khác nhau kế tiếp đến Việt Nam, trong đó có 35 người Bồ Đào Nha, 19 người Ý và 7 người Nhật Bản.41
Hai vương quyền Tây ban nha và Bồ đào nha thống nhất làm một từ năm 1580 đến năm 1640; nhưng sự thống nhất tập trung vào một người không đi đôi với việc hợp nhất các chính phủ, các cơ quan hành chánh, các thuộc địa hải ngoại, mà đôi lúc quyền lợi mỗi nước lại vẫn tương phản. Dưới triều đại vua Philippe IV Tây ban nha (từ năm 1621), nước Bồ đào nha càng ngày càng gặp khó khăn và mất mát tất cả do sự thống nhất vương quyền vào một người, kể cả vùng Viễn đông. Một cuộc đảo chính đưa Jean IV de Bragance (1640-1656) lên ngôi vua. Tòa thánh vẫn tiếp tục nhìn nhận Philippe IV như là vị vua của Bồ đào nha cho đến ngày vua nầy mất (1665). Ngược lại, Bồ đào nha phục hưng lại thành công thuyết phục được nước Pháp vào phe mình (các hiệp định 1641 và 1655), sự kiện đó mở đường cho các nhà truyền giáo người Pháp đến các vùng đất truyền giáo thuộc quyền Bồ đào nha, sau năm 1655. Và công việc xảy ra thực sự kể từ năm 1658.
Cũng chính vào lúc ấy, dựa vào những ước tính ít lạc quan nhất, đã có hơn 100.000 Kitô hữu Việt Nam,42 rải rác ở trong hàng trăm cộng đoàn địa phương.43 Họ được hướng dẫn bởi những giáo dân Việt Nam có trình độ đào tạo vững chắc,44 đủ khả năng để đương đầu với những hoàn cảnh khó khăn nhất ngay từ 1644 – 1645, họ đã từng có những vị tử đạo của họ trong số đó Macao còn nhớ đến thầy giảng giáo lý trẻ tuổi An-rê, người đầu tiên trong một danh sách rất dài.45 Một thành quả như vậy còn đáng làm ta ngạc nhiên hơn nữa vì đã được thực hiện bên ngoài sự hiện diện của bất cứ hình thức quân sự hay cường lực nào. Trong cùng một thời gian ấy, cộng đồng Kitô giáo rực rỡ của Nhật Bản đang gặp nguy cơ bị tàn lụi, còn cộng đồng ở Trung Hoa đang gặp phải khó khăn; Xiêm bấy giờ có độ khoảng 200 tín hữu thôi, và Macassar thì chỉ có một nhóm nhỏ.46 Đối với toàn bộ Á châu, ngoài hai vùng nhỏ là Goa và Macao, thì chính tại Việt Nam và tại Sri Lanka mà người ta chứng kiến được rõ nét nhất sự liên tục lịch sử giữa công cuộc truyền giáo Bồ Đào Nha với các Giáo hội kitô giáo hiện nay.
2. Công cuộc truyền giáo của dòng Tên tại Việt Nam và tiếng Việt
Ở Việt Nam cũng như ở các nơi khác, nỗ lực truyền giáo đã đi đôi với những thực hiện cao độ trong lãnh vực văn hóa. Năm 1615 ngay khi khởi công truyền giáo tại Việt Nam, các tu sĩ dòng Tên của tỉnh dòng Nhật Bản đã có một kinh nghiệm hơn hai mươi năm nghiên cứu và sáng chế về ngữ học tiếng Nhật.47 Sự kiện đó rất hữu ích vì đối chiếu với tiếng Trung Hoa, tiếng Việt và tiếng Nhật có một vị thế tương tự, và vì hai thứ tiếng nầy cùng chịu chung một loại ảnh hưởng xuyên qua lối chữ vuông.48
Những bản dịch các bản văn Kitô giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm 1618, và phần thiết yếu do công của Francisco de Pina, linh mục dòng Tên sinh ở Bồ Đào Nha;49 ông đã tốt nghiệp ở trường Macao, bấy giờ nhà văn phạm nổi tiếng về tiếng Nhật Jaão Rodrigues “TÒuzzu” cũng hiện diện tại đấy từ năm 1610.50 Trong công việc của mình, linh mục Pina nhờ đến sự giúp đỡ rất hữu hiệu của một văn nhân Việt Nam trẻ tuổi có tên rửa tội là Phêrô; kiến thức uyên bác về chữ Hán của người trẻ tuổi nầy hẳn rất là hữu ích trong công việc của Pina.
Những sự kiện đó rút ra từ một bản phúc trình chính thức của cơ sở truyền giáo: “người ấy [một nhân sĩ thân quen với đoàn truyền giáo] có một người con trai mười sáu tuổi, là thanh niên lanh lợi và thông minh nhất trong vùng; anh nầy lại viết tiếng hán rất đẹp, được dân chúng hâm mộ vô cùng… Anh tên thánh rửa tội là Phêrô, nhờ có tài hay chữ nên giúp linh mục rất nhiều trong việc dịch kinh Pater noster, Ave Maria, Credo và Mười điều răn ra tiếng địa phương, (các kinh) mà Kitô hữu đã thuộc lòng. Linh mục cũng viết ra các điều phải tin bằng tiếng địa phương ấy; trong bản đó người ta tuyên xưng rõ rệt chỉ có một Đức Chúa Trời, các mầu nhiệm về Ba Ngôi, về Chúa Nhập thể làm người, về chuộc tội, cũng như sự cần thiết của đức tin và các bí tích để được tham dự vào ơn ích của Chúa Kitô, Chúa chúng ta. Các kitô hữu chép lại tất cả những điều ấy, và đã bắt đầu lần hạt mân côi y như tại xứ chúng ta.51 Theo thói quen thực hiện các biên bản hằng năm của các tu sĩ dòng Tên, “linh mục”, tác giả các công trình liên hệ không minh nhiên được nêu tên. Ba tu sĩ dòng Tên bấy giờ có mặt tại cơ sở truyền giáo Pulo Cambi (có thể tương ứng với tên gọi Quy Nhơn ngày nay), lúc công trình nầy tiến hành là: linh mục Buzomi, bị “bịnh nặng, nên không đi giảng cho người ta trở lại được”,52 linh mục Pina và linh mục Borri, một người vừa đến và mới bắt đầu học tiếng. Chúng ta hiểu rằng các công trình được thực hiện dưới sự giám sát của Buzomi, cựu bề trên cơ sở truyền giáo Đàng Trong (1615-1618) và hiện là bề trên cơ sở địa phương, nhưng những tác nhân chính yếu thực hiện công trình nầy là linh mục Pina và chàng thanh niên Việt Nam cộng tác với ông ấy. Theo chính lời xác nhận của chính linh mục Pina, ngay từ năm 1622, ông đã hoàn thành việc xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự latinh cho thích hợp với lối phát âm và thanh điệu tiếng Việt Nam. Ông đã làm được một tuyển tập và bắt đầu viết một bản văn phạm. Kết quả đó, linh mục Pina đã đạt được một cách vất vả, với sự trợ giúp của một số ít học sinh Việt Nam qui tụ chung quanh ông.53
Nhà chép sử dòng Tên Bartoli cho rằng Buzomi sáng tác một hệ thống văn phạm và ngữ vựng.54 Một trong những chứng lý là một bức thư viết năm 1662 mà chúng tôi không thể tìm ra. Có thể có sự lẫn lộn với Pina chăng. Một cách chung, các xác quyết của Bartoli liên quan đến các kiến thức ngữ học tuyệt vời của người đồng hương của ông là Buzomi lại không ăn khớp với những tài liệu tồn trữ mà chúng ta có thể truy cứu. Ngoài ra cũng cần lưu ý rằng Bartoli xem ra không biết đến những công trình sáng tác ngữ học của Pina, lại nhìn nhận khả năng của vị nầy. Tiếp sau bản tường thuật về cái chết của nhà truyền giáo Bồ đào nha ngày 15 tháng 12 năm 1625, Bartoli đã viết như thế nầy thay cho bài điếu văn: ” Linh mục Pina là người Bồ đào nha, thọ 40 tuổi. Ngài được người ngoại giáo mến chuộng , vì ngài nói tiếng của họ, như chính ngài là người bản xứ Đàng Trong vậy”.55
Năm 1624, Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho những người ngoại quốc đầu tiên,56 trong đó có hai học trò rất cự phách: linh mục người Bồ Đào Nha António de Fontes,57 một nhà truyền giáo kỳ cựu và sẽ là một trong những cột trụ cho xứ truyền giáo Đàng Trong; và Alexandre de Rhodes mà chúng ta nói đến. Vị nầy sớm được gọi để thành lập xứ truyền giáo Đàng Ngoài, nơi mà Ngài sẽ thực hiện sứ mạng của mình từ năm 1627 đến năm 1630.
Ngày 15 tháng 12 năm 1625, một tàu buồm Bồ đào nha bỏ neo ở vịnh Đà nẳng, không cập
bến được vì sợ bão. Một chiếc thuyền rời cảng đi đến tàu. Pina lên tàu để mang hàng hóa cần thiết lên bờ: rượu vang và bột lúa mì để dâng lễ. Khi trở lại bờ, một cơn gió mạnh làm chìm thuyền; bị vướng bởi chiếc áo dòng, Pina chết đuối, trong lúc thủy thủ đoàn được cứu. Đây là cái tang lớn cho dân chúng địa phương cũng như cho sở truyền giáo; một chiếu chỉ trục xuất các nhà truyền giáo được đình chỉ thi hành, cho phép cử tang trong ba tháng, và rồi lại hủy bỏ luôn.58
Nhưng đừng tưởng rằng sau cái chết bi thảm của Francisco de Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã giảm bớt nỗ lực về ngữ học. Công việc của các vị tiên phong ấy vẫn được tiếp tục ít nhất trong hai thập niên. Cố gắng của họ trước hết nhằm sáng tạo một ngữ vựng Kitô giáo và viết ra những phần căn bản về văn chương Kitô giáo.59 Vai trò của các văn nhân Kitô giáo Việt Nam ở đây cũng rất lớn; một số tên tuổi của họ cần được nêu lên.60
Mặt khác nỗ lực phân tích văn phạm và ngữ âm tiếng Việt được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống để kiện toàn dần hồi lối viết bằng mẫu tự latinh gọi là quốc ngữ, đây là một công trình tập thể, khó mà phân định được phần riêng nào của một ai. Nhưng điều chắc chắn là Alexandre de Rhodes sớm tách ra khỏi công trình tiếp tục nầy vì vào lúc ấy ông vắng mặt ở xa tận Macao từ năm 1630 đến 1640: Ở tại đây, ông thi hành tác vụ của mình trong môi trường sống của người Trung Hoa, mặc dầu vẫn tiếp tục theo dõi những tiến bộ được thực hiện tại Việt Nam.61 Chính ông đã nêu tên của hai nhà từ-vựng-học nổi tiếng nhất trong bài tựa cuốn từ điển62 : hai người Bồ Đào Nha Gaspar do Amaral63 và António Barbosa.64
Trong công trình sáng tác độc đáo nầy của các linh mục dòng Tên Bồ Đào Nha ở Việt Nam, giai đoạn trưởng thành đánh dấu bằng một cuộc định chuẩn, một cuộc thảo luận mâu thuẫn được tổ chức tại Macao vào năm 1645 để bàn về một vấn đề gây tranh cãi liên quan đến hệ thống thuật ngữ Kitô giáo bằng tiếng Việt.65 Kho tài liệu lưu trữ còn giữ lại cho chúng ta tên tuổi các chuyên gia lão luyện chi phối các cuộc thảo luận: bên cạnh Amaral, được chỉ định như nhà chuyên môn tài ba nhất (peritissimus), và Barbosa, còn thấy Baltazar Caldeira, sinh ở Macao, cũng như Manuel Pacheco và Pêro Alberto; hai vị sau nầy đều sinh ở Bồ Đào Nha. Đối diện với họ, Alexandre de Rhodes chủ trương một lập trường trái ngược; và ý kiến của ông bị gạt bỏ. Mặc dầu sau đó một vị dòng Tên người Sicilia còn trẻ, tên Metello Saccano66 hăng say hỗ trợ cho lập trường của ông, nhưng rồi quyết định trên vẫn giữ lại.
Thực ra, vấn đề không chấm dứt ở cuộc hội năm 1645. Theo đề nghị của Alexandre de Rhodes, vấn đề được đưa về Roma và được nghiên cứu lại trong những năm của thập niên 1650 trước bộ Truyền bá Đức tin, và sau đó trước bộ Thánh vụ.67 Có một bức thư khá kỳ lạ của tu sĩ dòng Tên người Ý Giovani Filippo Marini gửi cho các bề trên của mình tại Rôma về việc nầy, thư viết vào năm 1655.68 Với giọng văn có vẽ tranh cãi, trong thư tác giả nêu lên khả năng đáng nghi ngờ của Rhodes về ngữ học Việt Nam. Tu sĩ nầy cố đánh giá thấp Rhodes vì Rhodes nói theo tiếng Đàng Trong, “đánh giá là quê kệch” so với tiếng chuẩn ở kinh đô; cũng với tiếng nói phía nam ấy mà chính tả của cuốn Từ điển dường như thấy xuất hiện trong một vài trường hợp. Nhưng cốt lõi vấn đề không phải ở đó: nó liên quan đến nghĩa chính xác của lối nói hán-việt (không liên quan đến âm giọng địa phương) “nhin danh [Cha]”. Lối nói nầy về mặt thần học mơ hồ vì thiếu một chữ nhằm nói đến số ít về mặt văn phạm. Rhodes đòi phải thêm vào một phụ-từ, sợ rằng người ta nghĩ có ba “danh”, và như thế là ba quyền lực siêu nhiên khác biệt; trong trường hợp đó, phải chăng đã đi ra ngoài tín lý kitô giáo, và phải chăng phải nghĩ đến chuyện rửa tội lại các kitô hữu.
Nên lưu ý là lối nói do các vị chuyên môn của cuộc họp định chuẩn nầy vẫn còn được sử dụng trong Giáo hội Việt Nam ngày hôm nay. Tất cả các nhà chuyên môn ấy, đều là người Bồ đào nha.
3. Những người Bồ Đào Nha tại Viễn Đông: tiếng tăm của họ và những tiền kiến lịch sử
Người ta có thể tự hỏi tại sao lịch sử đã ghi lại quá ít những sự việc nầy, đến độ đôi khi xem sự hiện diện và công việc làm của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha ở Việt Nam như quá ít ỏi không đáng kể. Hẳn nhiên, hình ảnh của Bồ Đào Nha ngày nay trên thế giới đã xuống cấp: xưa kia là một cường quốc thế giới, nhưng nay quốc gia nầy đi đến độ hầu như là hình ảnh “Cô Lọ Lem” của Tây Âu. Thực ra, ngay từ các thế kỷ trước đã từng có lập trường chống Bồ Đào Nha, mà sự kiện ghi lại một cách chắc chắn trong các tài liệu. Qua các tài liệu nầy, chúng ta có hai thí dụ.
Năm 1653, tu sĩ dòng Tên người Ý Daniello Bartoli trình lên ban kiểm duyệt của Hội Dòng một bộ sách lớn viết về lịch sử rao giảng Phúc Âm ở Trung Hoa, bộ sách đó cũng sẽ là đại tác phẩm cổ điển đầu tiên về công cuộc truyền giáo tại Việt Nam;69 hai trong ba vị kiểm duyệt bấy giờ đã trách cứ tác giả về lập trường chống Bồ Đào Nha của ông.70 Người ta cũng thấy một phản ứng tương tự trong bản chính của các thư của Goswin Nickel, Bề trên tổng quyền của các tu sĩ dòng Tên, gửi vào giữa các năm 1655 và 1662 cho các tu sĩ trong dòng gốc người Ý và người Pháp ở Việt Nam và Viễn Đông. Trong các thư, ngài tỏ ra khó chịu về những lời tấn công có tính cách cố chấp của các tu sĩ trên đây chống lại những vị người Bồ Đào Nha, các phương pháp cũng như các việc họ thực hiện: các cha có quyền tố giác các lỗi lầm của người nầy hay người nọ, nhưng làm mất uy tín một quốc gia một cách chung như thế thì không thể chấp nhận được,71 ngài nói một cách thiết yếu với các vị liên hệ như thế.
Nên đặt gần hai sự kiện đó với hai dữ kiện lịch sử khác thường được biết đến. Các vị thừa sai Paris và các vị giám quản tông tòa do Tòa thánh gởi đến Việt Nam từ năm 165972 chỉ có thể cũng cố được quyền uy của mình tại nước nầy với giá của một cuộc xung đột lâu dài và cam go chống lại các tu sĩ dòng Tên: Các vị dòng Tên chống lại họ nhân danh sự trung thành hầu như không suy suyển đối với sự bảo trợ của triều đình Bồ Đào Nha.73 Trong cuộc tranh cãi sôi động nầy và tiếp theo đó, dường như người ta đã đưa ra nhiều phê phán bất công: có khuynh hướng muốn nêu lên tình trạng vô-thẩm-quyền về mặt pháp lý hoặc sự bất lực của những vị đến trước, hoặc phóng đại những thiếu sót của họ để biện minh cho sự can thiệp độc đoán của kẻ mới đến. Cuối cùng như ở phần đầu, chúng tôi đã nêu lên vai trò đặc biệt của Pháp tại Việt Nam hai thế kỷ sau đó: vì muốn truy tìm những sự kiện đã có từ xa xưa nơi “cuộc viễn chinh của mình”, trong đó việc truyền bá Phúc âm, xâm lăng bằng quân sự và ý đồ thực dân chen lẫn với nhau, mà người ta tin là khởi thủy có từ năm 1624, năm Alexandre de Rhodes đến Việt Nam, xem đây như một dấu chỉ của một sự tiền định về vai trò mà nước Pháp và người Pháp được gọi để thi hành tại xứ này.74
Chúng tôi nghĩ rằng đây hẳn là toàn bộ các sự kiện có thể giải thích phần nào về sự quên lảng, giảm thiểu, ngay cả việc xóa bỏ vai trò cốt cán mà Bồ Đào Nha đã thực hiện tại Việt Nam xuyên qua các vị truyền giáo dòng Tên trong thế kỷ XVII, nơi những tác phẩm đặc biệt nghiên cứu vấn đề liên hệ.75 Ngoài ra phần lớn các tác phẩm nầy đã được xuất bản trong khung cảnh văn hóa của Pháp76 : người ta cố ý làm nổi bật sự hiện diện và ảnh hưởng của Pháp,77 đôi khi có tính cách phản niên kỷ. Còn đối với giới nghiên cứu người Việt, cho đến nay dường như hầu hết họ khó tránh khỏi tình trạng bất cập vì không thông hiểu tiếng Bồ Đào Nha, nên phần lớn chịu ảnh hưởng của những gì đã được xuất bản bằng tiếng Pháp.78 Năm 1990, một Hội Nghị Khoa Học Quốc Tế về thành phố Hội An đã được tổ chức tại Đà Nẵng. Nếu dựa vào bối cảnh được trình bày trên đây, người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy không những cựu đế quốc thực dân bị đặt ra bên lề, mà ngay cả nước Bồ Đào Nha cũng bị lảng quên, trong khi đó lại có phần của Hòa Lan.79
Đối với người Việt Nam hôm nay, vấn đề gặp gỡ các nền văn hóa giữa Việt Nam và Tây phương còn vướng vấp nhiều điểm gây tranh cãi, như chính chúng tôi đã từng kinh nghiệm được.80
4. Cuộc tranh luận về lịch sử được nêu lên lại như thế nào?
Cũng vào năm 1645, thời điểm tổ chức tại Macao cuộc bàn luận ngữ học với nhiều ý kiến mâu thuẫn như đã nêu lên, thì Alexandre de Rhodes lại được vị bề trên Manuel de Azevedo ủy thác một sứ mệnh tại Roma.81 Chúng tôi sẽ không đề cập ở đây về những khía cạnh ngoại giao của chuyến đi, cũng như những hậu quả của chuyến đi ấy đối với các xứ truyền giáo tại Viễn Đông82 : những hậu quả nầy rất đau khổ cho Bồ Đào Nha, nhưng không thể qui lỗi cho linh mục Rhodes.83 Chúng tôi chỉ muốn ghi lại một sự thành công không thể chối cãi và cũng không ai đặt thành vấn đề: việc xuất bản tại Roma cuốn từ điển và cuốn giáo lý mà nhà truyền giáo ấy mang theo trong hành lý của mình, cũng như một số tác phẩm lịch sử khác về công cuộc truyền giáo tại Việt Nam. Dựa vào những tác phẩm được xuất bản nầy mà nhân vật Alexandre de Rhodes bắt đầu trở thành truyền thuyết, hầu như thần thoại đối với lịch sử của các công cuộc truyền giáo tại Việt Nam cũng như đối với lịch sử tiếng Việt.84
Chúng tôi thấy đây là một sự sai lầm về lịch sử. Hẳn nhiên, Rhodes là một nhà truyền giáo lớn, nhưng không phải là một siêu nhân: khẩn thiết phải trả lại thực trạng con người cho con người ấy, và đặt lại công trạng nầy trong bối cảnh lịch sử thật của nó. Ngoài những vấn đề liên quan đến nỗ lực xây dựng cho ngữ học Việt Nam, mà chúng ta sẽ bàn thảo, chúng ta nêu lên đây một vấn đề khác nữa.
Kitô giáo tại Việt Nam, mặc dầu đã được du nhập vào từ ba thế kỷ rưởi, vẫn còn là một thiểu số bị chống đối; thiểu số đó đã từng chịu đựng và còn tiếp tục chịu đựng một sự tẩy chay thực sự trong xã hội. Nhiều người gièm pha trách cứ rằng Kitô giáo đã được nhập cảng đến trong mớ hành lý của giới thực dân người Pháp, mà hẳn Alexandre de Rhodes là kẻ mở đường.85 Việc phục hồi danh dự rất gần đây cho vị nầy từ phía nhà cầm quyền không gột bỏ hết truyền thuyết xấu xa đó, đặc biệt trong sinh hoạt hải ngoại của người Việt Nam.86 Thiết định lại sự thật lịch sử về những nguồn gốc của cộng đồng công giáo sẽ nêu lên được một cách hiển nhiên những thực trạng hoàn toàn khác: chính trong khuôn khổ của một sự đối thoại và trao đổi với nhau, một cách hoàn toàn bình thản, giữa người Bồ Đào Nha và người Việt Nam mà các nhà truyền giáo, những con người tự do và chân thành, đã thành công trong việc làm cho một phần dân chúng nghe theo mình. Trong bầu khí thông cảm xâu sa, họ đã hòa mình vào ngôn ngữ và tập tục của những người đối thoại với họ; những người nghe họ đã chọn lựa một cách tự do, và gia nhập vào đức tin mới, được biểu lộ ra trong chính ngôn ngữ của mình. Trong khung cảnh như thế, linh mục Rhodes, thần dân của Giáo hoàng, đã thi hành tác vụ của ông y như các huynh đệ cùng dòng người Bồ Đào Nha, Ý hoặc Nhật Bản.
Tìm lại sự thật lịch sử, đằng sau huyền thoại được tô vẽ trong cái nhìn theo lối Pháp, là một nỗ lực đặc biệt gian nan và bạc bẽo. Nhưng để thực hiện công tác nầy, sử gia nghiên cứu về công cuộc truyền giáo tại Việt Nam lại có được những nguồn tài liệu phong phú. Đây không phải là những tài liệu chính thức, dẫu thuộc lãnh vực chính trị hay kinh tế; những tài liệu như thế đã từng được biết đến và phần lớn đã được xuất bản và khai thác. Hơn nữa, chẳng bao giờ có thuộc địa Bồ Đào Nha thực sự tại Việt Nam và những trao đổi chính trị lại rất ít: hiệp ước duy nhất là thỏa ước nhất thời Bồ-Việt năm 178687 . Loại tài liệu ấy chỉ giúp xác định bối cảnh xã hội, kinh tế của công cuộc truyền giáo, chớ không xác định được nội dung của nó.
Phần thiết yếu của các nguồn tài liệu gồm các bản chép tay do các tu sĩ, phần lớn lại chưa xuất bản. Nói chung, thì ta nên lưu ý là những tài liệu chưa xuất bản có giá trị nghiên cứu hơn những bản đã được xuất bản, nếu chúng có thể tìm được, vì thời đó việc xuất bản trước hết nhằm đào tạo những tâm hồn đạo đức của Âu châu88 và do đó có thể được gọt giũa cho ăn khớp với mục đích nầy. Những bản viết tay, đặc biệt là những bản báo cáo chính thức và trao đổi thư từ riêng tư giữa các tu sĩ dòng Tên, phần lớn được lưu trữ ở Lisbonne, ở Madrid và nhất là ở Roma, rải rác trong nhiều bộ sưu tập.89 Chúng được viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, một số ít bằng tiếng latinh, và đôi khi bằng tiếng Ý. Chính nội dung của chúng sẽ cho phép ta thiết lập lại niên kỷ của công cuộc truyền giáo một cách chi tiết, và thấy rõ vai trò của mỗi một tác nhân trong công cuộc truyền giáo nầy một một cách đúng mức. Cũng nhờ việc làm nầy, các tiến bộ và những bất ngờ của sinh hoạt ngữ học và văn hóa của các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha ở Việt Nam sẽ được đưa ra ánh sáng, với tên tuổi của những vị khởi xướng đầu tiên.
Việc xuất bản và khai thác các nguồn tài liệu nầy là một công trình còn mở ngỏ. Đối với chúng tôi, chúng tôi đã ưu tiên thực hiện việc tra cứu mục lục các tài liệu liên quan đến nửa thế kỷ đầu tiên, tức là nửa thế kỷ đã từng chứng kiến phần thiết yếu của công trình sáng chế (1615 – 1664). Nhưng việc thẩm định lại giá trị toàn bộ sẽ phải là một công trình tập thể dài hơi, đòi hỏi nhiều yếu tố, trong đó có việc nối kết lại những mối liên lạc hợp tác văn hóa giữa người Bồ Đào Nha và người Việt Nam. Cần có một thế hệ các nhà nghiên cứu người Việt trong tương lai có thể tham gia tích cực vào công tác nầy.90 Một mặt họ sẽ không chen chân vào những cuộc tranh cãi nội bộ giữa các người Âu châu, điều mà họ không dính dáng gì vào; mặt khác chỉ có sự đóng góp của chính họ mới truy cứu được thấu đáo những mối liên hệ văn hóa qua những gì đã được từng thực hiện trong cuộc gặp gỡ lịch sử vào thế kỷ XVII.
5. Tra cứu lại bộ hồ sơ ngữ học
Mặc dầu có việc xuất bản gần đây về các nguồn tài liệu của Trung Hoa về ngữ học Việt Nam trong lịch sử,91 thì cuốn từ điển và cuốn giáo lý đã xuất bản tại Roma vào năm 1651 vẫn là hai tác phẩm nền tảng không thể thay thế để biết được thực trạng của tiếng nói nầy vào thế kỷ XVII, và sự tiến hóa của nó. Nhưng sự kiện chúng đã được xuất bản dưới tên tuổi duy nhất của Alexandre de Rhodes dường như không còn được đặt thành vấn đề để truy cứu cho tận tường hồ sơ ngữ học. Đến mức độ nào ông là tác giả thật sự của các tác phẩm nầy? Bằng cách nào ông đã mượn lại những công trình của các vị đi trước mình, trong tư thế của một nhà sưu tập hoặc người biên tập bản văn cuối cùng? Thật khó mà trả lời một cách thích đáng các câu hỏi nầy; nhưng chúng phải được nêu lên, và phải được tra cứu một cách đứng đắn nhờ những chứng cớ đã được viết ra mà ta có thể có.
Thật vậy, ý niệm về sở hữu văn chương nơi các tu sĩ dòng Tên vào thế kỷ XVII không y như ý niệm ta có bây giờ; chúng ta đưa ra đây hai thí dụ: Ta thấy bản tường thuật về việc tử đạo của thầy giảng Anrê, mà bản gốc bằng tiếng Bồ Đào Nha chắc chắn do chính linh mục Rhodes viết ra, nhưng đôi khi được lấy lại từng chữ một dưới tên các tác giả Matias da Maia,92  Antônio Francisco Cardim93 hoặc Manuel Ferreira94. Ngược lại, Rhodes đã xuất bản dưới tên mình một bản tường thuật liên quan đến các vị tử đạo Nhật Bản, mà tổng thể lại lấy lại những ký sự của các tu sĩ dòng Tên.95 Như thế, khi người ta quyết định cho xuất bản hoặc tái bản một bản văn được thuận nhận để phổ biến, thì người được đề cử làm công việc nầy lại ghi tên mình vào đó, và mang trách nhiệm cá nhân về công tác của mình. Trong trường hợp của linh mục Rhodes và các vị tử đạo của Nhật Bản, có lẽ đã dựa vào danh tiếng đang lên của con người Avignon nầy để mang cho cuốn sách được phổ biến rộng rãi hơn.
Về hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt Nam do Bộ Truyền bá Đức tin xuất bản, hẳn không có vấn đề bán ra cho dân chúng; mục đích duy nhất là phục vụ công cuộc truyền giáo. Do sự kiện Rhodes là người duy nhất ở Roma biết đến ngôn ngữ ấy, thì ông cần đích thân bảo chứng các tác phẩm liên hệ, mang lấy trách nhiệm tối hậu trước các vị bề trên của mình và trước Tòa thánh. Sự kiện tên ông xuất hiện trên bìa sách không nhất thiết minh chứng rằng ông là “tác giả” duy nhất của nó và ngay cả là người biên tập chính. Chúng tôi nghĩ rằng đây là lối mang trách nhiệm mà linh mục Rhodes đã thực hiện, chứ không phải là nêu lên tư cách tác giả văn chương theo nghĩa chính xác như chúng ta hiểu; những vị có thể làm điều nầy y như cương vị của ông, hoặc có thể cùng làm việc nầy với ông, thì lại ở xa mút tại một nơi khác.                 Còn cuốn giáo lý, có lẽ phải dành tư thế tác giả cho ông trong việc biên tập dứt điểm bản văn được in ra, và chắc chắn hơn nữa là bản văn latinh, được ông minh nhiên nói đến. Nhưng cũng chính Rhodes đã ghi rằng, trong trường hợp nầy đây là “phương pháp mà chúng tôi đã dùng để trình bày các mầu nhiệm của chúng ta cho người ngoại quốc”.96 Như thế rõ rệt nó được định vị trong một công trình tập thể.
Chúng tôi giải thích từ ngữ “phương pháp” như hàm ngụ các tài liệu được viết ra. Thật thế, một bản văn của tu sĩ dòng Tên Metello Saccano chứng thực rằng các bản văn dạy giáo lý, ít nhất giống như bản của Rhodes, vừa được viết bằng chữ theo vần latinh và vừa được viết bằng chữ “nôm” đã hiện hữu rồi. Và bản văn của tu sĩ nầy được viết ra ngay trước khi cuốn Catechismus xuất bản: ”… cuốn Giáo lý của chúng tôi được viết ra nhằm truyền đạt cho dân chúng nơi ấy, trong đó các mầu nhiệm của chúng ta được trình bày rõ rệt, và những mộng tưởng của các tà phái của họ bị thực sự đánh bạt; toàn tác phẩm chia ra làm tám bài giảng cho chừng đó ngày”.97  Nhà truyền giáo Rhodes dường như có được một bản viết bằng chữ quốc ngữ để sử dụng cho mình, và một bản bằng chữ nôm khác mà người Việt Nam sử dụng.
Còn đối với những gì liên quan đến cuốn từ điển, thì cũng cần có một nhận định tương tự. Trong lời tựa nói với độc giả, cha Rhodes nói rõ rằng ngài đã thực hiện dựa trên căn bản của một cuốn từ điển Việt-Bồ do linh mục Gaspar do Amaral soạn. Nếu người ta không bao giờ tìm ra được các bản văn viết tay của hai tác phẩm có trước, theo ý chúng tôi thì chỉ vì cuốn từ điển được in ra của Rhodes đã hoàn toàn lấy lại phần cơ bản, nên hai cuốn ấy được xem là không cần phải lưu giữ làm gì.
Hẳn nhiên những kỳ công sắp xếp của linh mục Avignon nầy đáng được ca ngợi, ông là người duy nhất đã hoàn tất công trình xuất bản ấy, mặc dầu phải gặp bao khó khăn mà ta có thể tưởng tượng được. Các vị đi trước ông, chết sớm, đã không thể làm được việc ấy.
Người Việt Nam dùng kỹ thuật in theo bản khắc trên gỗ để in chữ nôm. Sở truyền giáo dòng Tên ít nhất đã dùng kỹ thuật in nầy ở Đàng Ngoài, trong thời kỳ tương đối họ có được tự do.98 Nhưng kỹ thuật nầy không áp dụng cho mẫu tự latinh, và nhất là trong một lãnh vực tế nhị như vậy sự tự do của các nhà truyền giáo rất hạn chế.
Tỉnh dòng Tên Nhật bản đã từng sử dụng một máy in chữ rời ở Macao, rồi đem qua Nhật bản và lại đem về Macao giữa các năm 1588 và 1620.99 Không hiểu vì lý do gì, máy in đó bị bỏ đi hay bán cho ai đó tại Manila, nên chữ quốc ngữ lại không có dịp in tại đây, như đã từng in chữ Nhật (vần latinh và chữ hiragana). Chỉ còn có cách là phải in chữ quốc ngữ tại Lisbonne. Nhưng vào thời nầy, công việc đó rất tế nhị, kéo dài và tốn kém. Một vị trong pháp đình Bồ đào nha đương thời đã viết: “(Pháp đình thời Trung cổ) luôn cảnh giác nhằm truy lùng các tà thuyết thật rốt ráo; và việc đó luôn xảy ra như thế tại vương quốc [Bồ đào nha], ở đấy các bản chép phải bị xem lại luôn và phải do nhiều giám sát viên duyệt một cách gắt gao, đó là một trong những lý do tại sao ít sách được xuất bản tại đây…”100
Linh mục Rhodes đã thêm vào một bản dịch La ngữ cho phần Việt-Bồ, nơi cuốn từ điển cũng như trong cuốn giáo lý. Ông đã thay thế bản từ vựng Bồ-Việt bằng một bản danh mục La-Việt ngắn, có lẽ là do công trình riêng của ông. Ngoài ra, cuốn từ điển còn cho vào một bản mô tả ngắn về ngữ học và văn phạm tiếng Việt: khi nghiên cứu bản văn nầy, đối chiếu với một bản khác nhưng tương tự hiện nay, chúng tôi thấy có chứng cớ về một nguồn gốc Bồ Đào Nha chung đi trước, nguồn tài liệu nầy cũng đã mất vì việc xuất bản tác phẩm được in cho thấy nó không còn nữa.
Chỉ có việc xuất bản và phân tích có phương pháp các nguồn tài liệu mới cho phép ta xác minh, hoặc phê bác giả thiết nầy cũng như các kết luận tạm thời khác đã từng nêu lên về sự khai sinh ra chữ quốc ngữ. Phần chúng tôi, chúng tôi đã nỗ lực chứng minh101  rằng ngữ âm Bồ Đào Nha đã được dùng một cách ưu tiên so với các loại ngữ âm khác với một sự thành công rõ rệt vào thế kỷ XVII để làm phương tiện phân tích cho ngữ âm Việt Nam trong khuôn khổ sáng chế ra hệ thống mẫu tự mới. Chính các nhà văn phạm người Bồ Đào Nha đã cống hiến phần thiết yếu về các khái niệm căn bản, và các công trình nghiên cứu tiếng Nhật Bản của các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha khác đã đem lại phương pháp. Không biết đến các sự kiện nầy, thì dễ đi đến việc mò mẫm vô ích. Những nghiên cứu giá trị hơn cả về lịch sử tiếng Việt và việc phiên âm tiếng đó qua mẫu tự latinh, đặc biệt là các nghiên cứu của André – Georges Haudricourt102, Kenneth Gregerson103 hoặc Hoàng Thị Châu104, mà chúng tôi học hỏi được rất nhiều, đã chỉ có thể hé nhận ra một cách còn lờ mờ về vai trò đặc biệt nầy của người Bồ Đào Nha trong việc sáng chế ra chữ quốc ngữ. Đối với các nhà ngữ học, đây là một dự án còn phải tiếp tục truy cứu; theo chúng tôi tiến trình nầy đòi hỏi một sự hợp tác đa phương, giữa những nhà chuyên môn người Bồ Đào Nha cũng như người Việt Nam.
6. Từ Francisco de Pina đến đệ tam thiên niên: một lối viết bằng mẫu tự latinh dùng để làm gì?
Trái ngược với một lối suy nghĩ theo thành kiến, phương tiện chuyển đạt dùng cho việc truyền bá Kitô giáo, được các tu sĩ dòng Tên dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha sử dụng khi tiếp cận với người Việt Nam, không phải là chữ viết theo mẫu tự latinh. Về điểm nầy, người Âu châu cũng bị lầm do sự xuất hiện của cuốn giáo lý và cuốn từ điển. Những nhà truyền giáo tại chỗ đã chọn chữ nôm, nghĩa là một loại chữ Việt Nam cổ xưa dựa theo chữ Hán.105 Chữ nôm có điểm lợi là tương đối được giới ưu tú của xã hội Việt Nam biết đến – tức là các người có học – nhưng bất tiện là đa số các nhà truyền giáo lại không đọc nổi. Và sự cân nhắc trong quyết định của họ là làm sao tránh việc đẩy cộng đồng Kitô giáo vừa mới được khai sinh đi ra khỏi gốc rễ truyền thống của Việt Nam trong bối cảnh của một nền văn hóa có nét Trung Hoa nầy; hơn nữa nếu làm như thế, thì còn hoàn toàn đi ngược lại những nguyên tắc và phương pháp của các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha.
Văn hóa Việt Nam có hai nguồn gốc chính liên hệ hổ tương cho nhau: một phần là các truyền thống của các sắc dân địa phương và nền tảng của tiếng nói Việt Nam, không thuộc vào nhóm Trung hoa; một phần khác là văn hóa Trung hoa, tồn trữ và lưu hành nơi ngôn ngữ của nó qua chữ viết và qua nhiều hình thái vay mượn khác nhau. Chữ nôm có một vị trí đặc biệt trong bối cảnh nầy như bản lề giữa hai cánh cửa. Những chữ viết lấy từ chữ viết Trung hoa (hán tự) và tạo được uy thế nhờ nguồn gốc nầy; nhưng chúng lại đọc thành tiếng Việt với một nghĩa đặc biệt của tiếng Việt ấy; nên chúng đúng là một quốc tự, nghĩa là chữ viết quốc gia. Những chữ viết “nôm” lại có thể trực tiếp mượn các nguồn chữ hán một cách thoải mái, nên mãi phát triển rộng và sâu. Chữ quốc ngữ không bao giờ có được sức tác dụng có tính cách tượng trưng đó.
Vấn đề chữ viết Việt Nam có vẻ rối rắm vì nhiều tác giả tây phương lẫn lộn vấn đề tiếng nói và chữ viết.106 Thật thế, các tu sĩ dòng Tên buộc phải chọn lựa giữa hai thứ tiếng nói: thay vì Trung hoa (là tiếng chính thức, tiếng dùng giáo dục và lớp người có học), thì họ thích tiếng Việt Nam (tiếng nói của dân chúng). Trong những hoàn cảnh hạn chế như đã nêu, họ cũng áp dụng chữ viết truyền thống (chữ nôm) của tiếng nói dân gian ấy; đồng thời họ sáng tác ra một vần latinh áp dụng vào tiếng nói nầy (tức là chữ quốc ngữ) để dùng riêng trong công việc của họ. Việc sử dụng tiếng hán nhiều hay ít trong ngôn ngữ Việt Nam không liên quan gì đến chữ viết. Nhưng cần xác định thêm rằng đường lối sử dụng ngôn ngữ như thế là chính sách chung của các nhà truyền giáo; không có gì cho phép ta nêu lên rằng trong lãnh vực nầy, Alexandre de Rhodes có một lập trường độc đáo cả.
Nhưng dẫu sao, chúng tôi phải nêu lên rằng lối phê bình của ông Lê Thành Khôi, một nhà viết sử Việt Nam, về việc nầy là lầm lẫn, ông ấy viết: “Sáng chế (chữ quốc ngữ) trước hết phát sinh do một mục đích truyền đạo. Thật vậy, trở ngại lớn cho việc truyền đạo Kitô phát xuất từ khung cảnh giáo dục phổ quát của Khổng học. Để đi vào tâm thức quần chúng, các nhà truyền giáo phải chống lại văn hóa Trung hoa và chữ viết tiêu biểu cho nền văn hóa đó. Họ cố trao cho dân chúng phương tiện để quẳng bỏ chữ viết đang thịnh hành, và họ đã đạt được ý định khi bày ra hệ thống chuyển âm tiếng Việt nhờ mẫu tự latinh, kèm theo những âm tiêu để có được những dấu thăng trầm khác nhau. Các người trở lại đạo dùng chữ viết quốc ngữ không còn đọc tiếng hán nữa; tiếng hán nầy lại được dùng trong các văn kiện nhà nước và phần lớn sinh hoạt văn chương. Ta thấy đó là tầm mức chính trị của sự kiện, đã làm cho người công giáo Việt Nam trở thành một nhóm riêng trong cộng đồng quốc gia trong một thời gian dài.”107 Một lối phê bình như thế phản ảnh một sự quên lảng gia trọng (bên cạnh nhiều yếu tố khác nữa) về nỗ lực văn hóa rất tích cực do chính những vị tu sĩ dòng Tên nầy của đoàn truyền giáo của Trung hoa, trong đường hướng của Matteo Ricci (+ 1610). Lối phê bình đó không đứng vững trước những sự kiện, đặc biệt là khối lượng sáng tác và phát hành của văn chương kytô giáo bằng chữ nôm, khởi đầu ngay từ các thời đầu tiên của công việc truyền giáo. Khi nhà truyền giáo Jerónimo Mayorica qua đời năm 1659, bề trên đã viết một loại điếu văn và nhắc đến ” thư viện phong phú gồm 48 bộ sách mà ngài đã viết hoặc dịch ra tiếng nói và ra chữ viết của xứ ấy”108 . Và mãi cho đến ngay giữa thế kỷ 20, dưới chế độ thực dân Pháp, các nhà xuất bản công giáo Việt Nam vẫn phổ biến cho kytô hữu nhiều sách bằng chữ nôm và chữ hán.109
Ngoài ra, trong giai đoạn đầu, rất ít kitô hữu hiểu được lối chữ Việt theo vần latinh mà các vị thừa sai có thể chỉ cho họ, vì chữ viết nầy hoàn toàn xa lạ. Như thế, tại sao lúc bấy giờ Francisco de Pina và các người kế tiếp ông lại phí nhiều công sức và tài trí để sáng tác rồi hoàn chỉnh lối viết theo mẫu tự latinh, tức là chữ quốc ngữ ấy? Sự kiện đã xảy ra vì chữ quốc ngữ có mục đích trước hết là để dạy cho các nhà truyền giáo và giúp họ sử dụng. Nó cống hiến cho các vị nầy một bước trung gian rất thuận lợi để tiếp cận với lối nói của người Việt; ngoài ra, nó còn đem lại một phương tiện trao đổi về mặt học hỏi và giao tiếp bằng chữ viết với những người Việt lãnh đạo chính yếu của cộng đoàn, mà người ta buộc phải học lối viết mới nầy trong mục đích hạn chế đó.110  Tình trạng phổ biến rất hạn chế của chữ quốc ngữ như thế, sẽ biến đổi một cách chậm chạp vào giữa thế kỷ XVIII. Chỉ đến lúc nầy, chữ viết theo mẫu tự latinh mới bắt đầu lan tràn rộng rãi hơn trong cộng đồng người Kitô giáo; đây là vì những lý do an ninh trước một chế độ cấm đạo111 và cũng có thể vì việc sử dụng rất tiện lợi.
Viễn tượng mới đó kéo theo hậu quả không thể tránh khỏi đó là sự tiến hóa dần dần chữ quốc ngữ. Mục đích chính lúc đầu đòi hỏi phải ưu tiên cho khía cạnh thuần túy ngữ âm, nghĩa là cho việc mô tả cách phát âm, nhằm giúp cho người ngoại quốc mới bắt đầu học đọc tiếng Việt cho thật đúng. Khi việc sử dụng lối viết nầy được phổ biến hơn nơi những người nói tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ, thì người ta lại ưu tiên khía cạnh âm vị học,112 thiết thực cho họ hơn.
Trong khuôn khổ của bản văn nầy, chúng tôi xin chỉ nêu lên một thí dụ. Trong lối viết quốc ngữ, mà cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes cho ta thấy, các phụ âm mũi cuối mặt lưỡi- vòm trước (consonnes nasales finales dorso-prépalatale), mặt lưỡi – vòm mềm (dorso-vélaire) và môi-vòm mềm(labio-vélaire) được diễn tả bằng ba lối chép thành chữ khác nhau, như sau: (chẳng hạn <lành>);   (chẳng hạn <làng>), và một dấu gọi là dấu apex, lấy từ dấu til (tilde) chữ viết Bồ đào nha <~> , đặt ở trên đầu chữ nguyên âm (chẳng hạn <làõ>, ngày nay viết là <lòng>). Những lối ghi chép đánh dấu đó phản ảnh cách đọc chuẩn của vùng Hà nội, đúng như một người Bồ đào nha cố nghe và phân tích được dựa vào hệ thống ghi chép mà người ấy quen thuộc. Trong lối viết nơi cuốn từ điển của Pigneau de Béhaine và Taberd (xem chú thích số 114), hai mẫu phụ âm sau cùng nêu lên trên đây lại cho chép y như nhau là “ng”, bởi lẽ chúng không đối chọi gì nhau, sự xuất lộ của chúng lệ thuộc vào nguyên âm đi trước. Việc phân biệt hai mẫu phụ âm nầy đối với một người gốc Việt Nam là việc thừa. Người ta hầu như đã đơn giản hóa đến mức tối đa khi chung lộn hai ký hiệu “nh” và “ng”: trong hệ thống tiếng Việt, không cần đến sự phân biệt nầy nếu lưu ý đến các nguyên âm /a/ và /œ/113
Cần lưu ý rằng đây không hề có việc sửa chữa những sai lầm có thể có về việc ghi chép, nhưng nhằm đơn giản hóa các luật của nó.114 Nhưng thực sự thì đổi thay không nhiều lắm, nên ngày nay chỉ cần học vài phút thì độc giả Việt Nam có thể đi vào toàn bộ các bản văn bằng quốc ngữ viết vào thế kỷ XVII.
Vì chữ nôm và chữ hán cũng rất khó học đối với giới cai trị của Pháp, không kém gì trường hợp của các vị truyền giáo trước đây, nên chế độ thực dân đã tha thiết ngay với lối chữ viết theo mẫu tự latinh nầy; sau nầy họ đã cho nó một qui chế chính thức, buộc phải sử dụng trong tất cả các dịch vụ hành chánh.115  Và như vậy, vào đầu thế kỷ XX, chữ viết theo mẫu tự latinh do người Bồ Đào Nha gợi ra trước đây bắt đầu lan tràn ra ngoài cộng đồng Kitô giáo. Nho sĩ yêu nước trong xứ, rất đông, cương quyết chống lại sự mới mẻ nầy, nại lý do bảo vệ truyền thống và bản chất Việt Nam. Nhưng dần dần, vì nhận thấy hiệu năng thiết thực của nó, họ lại cố học chữ viết lối mới và sử dụng.116  Sự thành công của chữ quốc ngữ không phải là kết quả của sự áp đặt do luật lệ của bạo quyền. Ai cũng thấy kháng cự chống lại chữ viết mới mẻ nầy chẳng lợi ích gì; tương lai xã hội lại đòi hỏi phải canh tân cơ chế xã hội và đẩy mạnh giáo dục quần chúng. Dường như sau những thất bại của các phong trào yêu nước vào năm 1930, những đối kháng về chữ quốc ngữ không còn nữa; giới ưu tú lãnh đạo đã rút tỉa bài học qua các biến cố đau thương nầy. Vậy mà chữ nôm từ lâu chỉ dành cho một thiểu số nho sĩ, giới nho quan truyền thống. Chỉ có chữ quốc ngữ mới cống hiến được phương tiện kiến hiệu nhằm thoát ra khỏi tình trạng nầy và cổ võ cho lý tưởng thoáng hé lộ.117
Những xác tín như thế trở thành phổ biến khi nhìn về một Việt Nam thời hậu thực dân. Và chữ nôm bị xóa dần đi đến độ biến mất hẳn; chữ viết của các nhà truyền giáo trước đây và của người Pháp nay trở thành chữ viết duy nhất của tất cả người Việt Nam: “quốc ngữ”. Mọi người dùng chữ quốc ngữ, và chữ viết đó đã chứng thực rằng nó có thể áp dụng một cách dễ dàng và hữu hiệu để đi vào tất cả các lãnh vực của kiến thức.118  Ngoài ra, chính chữ quốc ngữ đã cống hiến nhiều hơn cả trong việc bảo tồn sự thống nhất ngôn ngữ, ngay cả trong cuộc chiến gay gắt giữa đôi bên: nó đẩy lui được các khuynh hướng chủ trương phân cách, một cách hữu hiệu hơn điều người ta có thể mong ước thực hiện hoặc nơi một lối chữ viết áp dụng âm vị học một cách rốt ráo do một số người chủ trương.119
Làm sao quên được công trình vĩ đại mà các vị tiên phong của công cuộc truyền giáo tại Việt Nam đã thực hiện? Những điều mà các vị truyền giáo dòng Tên đến từ Bồ Đào Nha, do Bồ Đào Nha gửi đi, đã thực hiện trong phạm vị ngữ học kỳ cùng là những công trình có tính cách quyết định cho tương lai văn hóa Việt Nam đến độ ngày nay tương lai đó không thể quan niệm được nếu không có chữ viết theo mẫu tự latinh. Tấm bia tưởng niệm đã được dựng lên lại vào cuối năm 1995 ở thư viện quốc gia tại Hà Nội, và chỉ tôn vinh một mình Alexandre de Rhodes; đó là một dấu hiệu cho thấy sự đóng góp văn hóa đặc biệt của người Bồ Đào Nha còn bị quên lảng, ngay cả trong giới khoa học.
Nhưng người ta cũng thấy nơi tấm bia kỷ niệm đó một dấu chỉ chờ đợi, một mấu móc đầu tiên nhằm nối lại cuộc đối thoại văn hóa với Tây phương về quá khứ chung và về tương lai. Trong khuôn khổ đó, nước Pháp và các nước nói tiếng Pháp chắc chắn có đóng một vai trò; nhưng thật đáng tiếc là các nước nầy đã không hợp tác với các quốc gia tây phương khác nữa để cùng thực hiện cuộc đối thoại nêu trên, vì kinh nghiệm về Á châu của họ xa xưa hơn, và họ lại không có nhược điểm của một quá khứ thực dân còn gây ấn tượng đau thương nơi ý thức quốc gia của người Việt Nam.
NGUYỄN ĐĂNG TRÚC

SOLDAT: "BINH LÍNH" HAY "CHIẾN SĨ TRUYỀN GIÁO"? (Sen Việt)

Thứ ba, ngày 21 tháng bảy năm 2009

SOLDAT: “BINH LÍNH” HAY “CHIẾN SĨ TRUYỀN GIÁO”?


Lời Phi Lộ: ĐDTB, lên mạng ba bài viết trên trang Talawas, về tên cố đạo gián điệp Alexandre De Rhodes đã vận động và xúi dục triều đình Pháp gởi “binh sĩ=soldat” xâm lăng Việt Nam: Alexandre de Rhodes-Đối luận với tác giả Hoàng Trung của Bùi Kha – Xin góp ý dịch chữ “soldat” của Lý Đương Nhiên – Kính gởi Ban Biên tập talawas của Cao Huy Thuần. Thêm phần phụ lục là bức thư giáo sư Hoàng Tuệ, gửi cho anh Tâm Đạt Trần Thông, ngày 26 – 11 – 96, (sẽ Scan bức thư lên mạng), cho chúng ta thấy rằng giới học giả nghiên cứu miền Bắc trước 1975, thiếu tài liệu nghiên cứu về Alexandre de Rhodes và hai tên đại Việt gian Petrús Ký ( Trương Vĩnh Ký) và Nguyễn Trường Tộ.

Trong miền Nam, Việt gian Cần Lao Công Giáo Diệm Thiêu Ngụy VNCH, thì ngụy sử ca tụng và tiêu hủy tài liệu những tên đại Việt gian này. Niềm vui cuối đời của giáo sư Hoàng Tuệ, là được đọc toàn bộ sách Giao Điểm và sách Lê Trọng Văn, sách anh Tiến sĩ Cao Huy Thuần, sách Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ,…in chui ở Việt Nam và in ở Mỹ, và bức thư Trương Vĩnh Ký gửi cho Grand Chef, viết vào cuối tháng 3, năm 1859 ( tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu sưu tập trong văn khố Pháp tại Paris) và linh mục Nguyễn Trường Tộ đứng trong đoàn giáo sĩ gián điệp Tây tại Đà Nẵng năm 1858 đón tiếp hạm đội Pháp bắn phá Đà Nẵng (ghi chú ở tr 22*, của Nguyễn Trường Tộ Con Người Và Di Thảo của linh mục Trương Bá Cần, nxb TP. Hồ Chí Minh , năm 1988)…mà những sách và tài liệu, giáo sư Tuệ đọc được, do anh Trần Văn Thông ở Mỹ và anh Lê Nhu đến tận nhà hai lần trao cho (cám ơn vô cùng)

Catechismus (Phép giảng Tám ngày) là một trong những cuốn sách Rhodes
viết để dạy cho con chiên Việt Nam phỉ báng lịch sử và văn hóa nước ta

XIN GÓP Ý DỊCH CHỮ “SOLDAT”
Lý Đương Nhiên 

Trong bài viết “Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau” của Giáo sư Chương Thâu đăng trong tạp chí Công giáo và Dân tộc số ngày 15-3-1996 có đoạn như sau:
Trong cuốn sách Divers voyages et missions (Các cuộc hành trình và truyền giáo) của linh mục Alexandre de Rhodes do Cramoisy xuất bản tại Paris năm 1653 ở đoạn cuối chương 19 của phần thứ 3, có một câu nguyên văn: “J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout L’orient, pour l’assujetter à Jésus Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui fussent nos pères et nos maitres en ces Églises. Je suis sorti de Rome à ce dessein Le 11e Septembre de l’année 1652 après avois baisé les pieds du Pape.” 

Và câu này được Hồng Nhuệ dịch ra Việt ngữ trong cuốn Hành trình và truyền giáo do Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1994, ở trang 263 như sau:“Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Đông Dương đưa về quy phục chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và Thày chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Roma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tôi hôn chân Đức Giáo hoàng.” (Người dịch chú thích từ chiến sĩ ở đây: nói chiến sĩ Phúc Âm tức là nhà truyền giáo, chứ không phải binh sĩ đi chiếm xứ xăm lăng – trang 289)


(plusieurs soldats là “nhiều chiến sĩ”, Hồng Nhuệ lại dịch là “mấy chiến sĩ”?)

Trong bài tham luận đọc tại Hội nghị Quốc tế về Nghiên cứu Lịch sử và Văn hoá Việt Nam ngày 3, 4, và 5 tháng 12 năm 1992, ông Nguyễn Đình Đầu đã dịch plusieurs soldats trong câu văn của Alexandre de Rhodes và cho rằng chữ chiến sĩ có nghĩa bóng là thừa sai.

Đến ngày tưởng niệm 400 năm ngày sinh của A. de Rhodes, Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm đã dịch thẳng câu chữ plusieurs soldats là “chiến sĩ truyền giáo” không phải e dè gì nữa vì ý kiến của ông là ý kiến quyết định. A. de Rhodes là tên gián điệp đội lốt tôn giáo đã trở thành danh nhân Việt Nam được đặt bia ở Thư viện Quốc gia Hà Nội và tên đường ở Sài Gòn.

Trong bài viết “Ai làm ra chữ quốc ngữ?” đăng trong báo Tuổi Trẻ ngày 31-1-1993, Giáo sư Hoàng Tuệ đã dịch plusieurs soldats là binh lính như sau: “Tôi nghĩ nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôi binh lính để chinh phục toàn phương Đông, đặt nó dưới quyền Jésus Christ”. Giáo sư Nguyễn Khắc Xuyên đã viết bài “Gửi GS Hoàng Tuệ bàn về chữ Quốc ngữ trên tờ Tuổi Trẻ” đăng trên báo Ngày Nay số 277 ngày 1-7-1992 ở Houston, Texas. GS Xuyên đã mạt sát GS Tuệ là “ngu xuẩn”, “ngu dốt”, “thật là dốt lại thích nói chữ”… GS Xuyên đã chất vấn GS Tuệ như sau: “Từ điển Pháp Việt của Trương Vĩnh Ký dịch soldatlà ‘lính, binh lính, lính tráng’. Từ điển Pháp Việt của Đào Duy Anh dịchsoldat là ‘lính, bộ đội, chiến sĩ…’” Như vậy GS Tuệ lùi lại hơn nửa thế kỷ khi chỉ dịch theo Trương Vĩnh Ký mà không theo từ điển mới nhất 1981. GS chủ ý chụp mũ cho Đắc Lộ về Âu châu mộ lính”. Theo thời gian, có chữ thêm nghĩa hoặc thay đổi nghĩa, ví dụ như chữ Jésuite thời linh mục A. de Rhodes có một nghĩa là giáo sĩ Dòng Tên. Sau này giở từ điển ra có thêm nghĩa là “người giả nhân nghĩa, đạo đức giả, xảo trá, tráo trở”. Nước ta trước đây có đạo Gia tô sau đổi là đạo Thiên chúa, đạo Kitô, rồi sau cùng là Công giáo. Khi Gs Ngô Đức Thọ dịch quyển sách Hán văn ở thế kỷ 18 là quyển Tây dương Gia tô bí lục thì ông không dịch là Tây dương Công giáo bí lụcđược. Cuối thế kỷ 19, tức vào thời ông Trương Vĩnh Ký, chữ soldat chưa có thêm nghĩa là chiến sĩ. Như vậy thời của A. de Rhodes chữ soldat chỉ có nghĩa là “lính, binh lính, lính tráng” mà thôi. Cho nên khi dịch chữ soldat do linh mục A. de Rhodes viết ra chỉ có nghĩa là binh lính, lính tráng mà thôi. Đọc cả đoạn văn bằng Pháp văn ở trên chẳng có chỗ nào là nghĩa bóng cả. GS Hoàng Tuệ dịch là “Tôi nghĩ nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôi binh lính để chinh phục toàn phương Đông, đặt nó dưới quyền Jésus Christ” là dịch đúng vào thời điểm A. de Rhodes viết ra chữ soldat. Tôi đã lớn tuổi, có đọc sách hiểu rằng chữ “chiến sĩ” đứng một mình có nghĩa chỉ về quân đội. Chữ “chiến sĩ” muốn có thêm nghĩa bóng hoặc văn vẻ thì phải thêm chữ chỉ nghĩa vào đằng sau, như: chiến sĩ văn hoá, chiến sĩ tự do, chiến sĩ Phúc Âm… Thời của A. de Rhodes muốn chỉ các nhà truyền giáo thì có chữmissionnaire, mà A. de Rhodes muốn xin các nhà truyền giáo thì ông đương nhiên hiểu thẩm quyền nào có quyền cấp cho ông, như:
Toà thánh Vatican;
Ngày 4-5-1493, Giáo hoàng Alexandre 6 chia đôi thế giới, một nửa cho Bồ Đào Nha, một nửa cho Tây Ban Nha được phép đi chinh phục thế giới và truyền đạo. Linh mục A. de Rhodes đi sang Á châu qua ngả Bồ Đào Nha. Khi A. de Rhodes về Pháp sang Vatican vận động với Giáo hoàng cho Giáo hội Pháp được thành lập Giáo đoàn Pháp quốc Hải ngoại, Giáo hội Bồ Đào Nha phản đối và không cho A. de Rhodes sang Á châu. Giáo hoàng phải cử ông sang Ba Tư, sau đó phong ông lên làm Giám mục. Sau khi ông chết, Toà thánh mới cho phép Giáo hội Pháp thành lập Giáo đoàn Pháp quốc Hải ngoại.
Như vậy, A. de Rhodes muốn xin các giáo sĩ thì chỉ được phép xin với Vatican hay Giáo hội Bồ Đào Nha mà thôi. Thời đó cả Á châu chưa có súng, chỉ một ít quân có súng đã chiếm đượcMacao để lập căn cứ truyền đạo. A. de Rhodes sang Việt Nam phải trốn, lẩn và bị trục xuất. Ông đã vẽ bản đồ Việt Nam và viết báo cáo về việc truyền giáo của ông ở Việt Nam. Vì chưa có đường hàng không mà chỉ có đường biển, nên các nhà truyền giáo hiểu rằng muốn xâm nhập vào Đông Nam Á thì Việt Nam là cửa ngõ cần phải chiếm để lập căn cứ. Nước Bồ quá nhỏ, ít quân, không đủ khả năng nên A. de Rhodes đã xin với chính phủ Pháp soldats là xin quân lính sang chiếm nước ta.
Chứng minh tham vọng của các nhà truyền giáo như sau:
Không phải chỉ người Việt Nam mà cả người Pháp cũng ngạc nhiên và lo sợ lối hành binh của Tây Sơn. Ngày 11-8-1788, trong một lá thư gửi cho ông Letoudal, giáo sĩ (Giám mục) La Bertete có viết: “Tôi không rõ cuộc viễn chinh của người Pháp khi nào sẽ xảy ra, nhưng tôi sợ rằng quân Pháp của chúng ta vì khinh thường bọn này (Tây Sơn) và không am hiểu tường tận về cách hành binh của họ và sẽ không đủ sức mạnh thì có thể trở thành nạn nhân bi thảm” (tài liệu Hội Truyền giáo Hải ngoại ở Paris. Cochinchin, tập 102 trang 176). ( Đỗ Bảng – Những Khám phá về Hoàng Đế Quang Trung, tr 209) – Vua Quang Trung đang khỏe mạnh lăng đùng ra chết, có dư luận cho rằng vua Quang Trung có thể đã bị nhà truyên giáo tây phương thuê người đầu độc là có cơ sở lắm?
Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) dẫn Hoàng tử Cảnh sang Pháp xin với vua Louis 16 (1754-1789) đem quân sang giúp Nguyễn Ánh.
Năm 1857, Giám mục Pellerin, Hồng y Bonnechose, Linh mục Legrand de Liraye, Linh mục Huc vận động Pháp hoàng Napoléon đệ Tam qua ngả Hoàng hậu Eugenie Marie Montijo, được Pháp hoàng chấp thuận. Năm 1858, Đô đốc Rigauit de Genoully đem quân qua đánh chiếm nước ta.
Như vậy, A. de Rhodes xin các nhà truyền giáo với Giáo hội Pháp không được và xin với chính phủ Pháp cũng không được luôn vì không phải thẩm quyền của họ. A. de Rhodes xin chính quyền Pháp soldat là xin binh lính. Giáo sĩ đi trước binh lính theo sau, đó là sách lược của các nước Âu châu đi chiếm thuộc địa vào các thế kỷ trước đây. Thời của linh mục A. de Rhodes, chữ soldat chưa có thêm nghĩa “chiến sĩ” mà dịchplusieurs soldats là “chiến sĩ truyền giáo” chỉ là ngụy biện. Mà ngụy biện thường đi với ngoan cố rất là khắng khít.
Còn về chữ Quốc ngữ, các nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên người Bồ sang Việt Nam có nhu cầu truyền đạo nên họ phải phiên âm học tiếng Việt để giảng đạo, đó là do nhu cầu của họ. Họ sáng chế ra chữ Quốc ngữ mục đích không phải cho dân tộc Việt Nam. Ông Charlie Nguyễn đã viết: “Tên cướp xông vào nhà mình bị chủ nhà phản công phải bỏ chạy để quên con dao. Chủ nhà nhặt lên thấy dao sắc thì dùng để thái thịt, đâu có chạy theo tên cướp để cám ơn.” Người Nhật, người Tàu, người Đại Hàn họ vẫn dùng chữ của họ mà nước Nhật là cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai thế giới, nước Tàu đứng thứ tư thế giới, và Đại Hàn cũng đang trở thành cường quốc về kinh tế. Cách đây gần năm, tờ Newsweek có bài viết cho biết trước đây sinh viên Mỹ học thêm ngoại ngữ như Nga, Tây Ban Nha, Đức và Pháp ngữ. Nhưng nay sinh viên Mỹ một số đã chuyển sang học chữ Tàu. Nếu Việt Nam vẫn sử dụng chữ Hán như ông cha trước đây biết đâu lại có lợi cho ngày hôm nay?
Trích Talawas
*******
Alexandre de Rhodes – Đối luận với tác giả Hoàng Hưng
Bùi Kha
Tác giả Hoàng Hưng, trong bài viết “Những băn khoăn từ lá thư trả lời của ông Nguyễn Hoà” trên talawas ngày 1.4.2006, đã đề cập nhiều chi tiết thú vị và oái oăm về tình trạng dịch thuật ở Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, trong bài viết đó, có một đoạn văn không những liên quan đến vấn đề trích dịch mà còn mở lại một vấn đề học thuật tưởng đã chấm dứt: Vấn đề “Công và tội” của linh mục Alexandre de Rhodes.

Ông Hoàng Hưng viết nguyên văn như sau:

“Chuyện thứ nhất: Một sai lầm nghiêm trọng đã xảy ra trong lịch sử văn hoá Việt Nammà nguyên do chỉ tại một trích dẫn có nguồn gốc hồ đồ.
Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời dẫn hay năm tháng, vì tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư liệu để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung. Số là khoảng năm 1992 (1993?) trong khi làm công việc biên tập trang văn hoá văn nghệ của báo Lao động Chủ nhật, tôi nhận được một bài viết đặt vấn đề hoài nghi tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes đã lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công trình viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp. Các nhà nghiên cứu lịch sử của ta khẳng định Alexandre de Rhodes đã viết (đại ý): Chúng ta là những người lính… chúng ta có bổn phận đi mở mang bờ cõi. Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng! Câu trích này thậm chí đã được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lý do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đã bị xoá bỏ. Từ bài viết trên, anh em trong ban văn hoá văn nghệ báoLao động đã bỏ công sưu tầm tài liệu, cuối cùng biết được rằng câu trích tai hại kia là rút từ cuốn hồi ký của một thuyền trưởng người Pháp nào đó, trong khi tìm mỏi mắt không thấy có trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre de Rhodes! Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi, các “nhà” khác sau đó cứ “ôtômatích” trích lại như một sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo! Tôi cho công bố bài viết trên, bản thân lại viết một bài phân tích rõ việc trích dẫn hồ đồ đã nêu (đồng thời chứng minh câu trích đã dỏm lại còn bị dịch sai nữa chứ!), rồi viết thư đề nghị Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Lịch sử, cho ý kiến. Ít lâu sau, báo Lao động đã đăng bài viết của Giáo sư nêu công lao của Alexandre de Rhodes (mà không hề nêu tội). Đó có lẽ là văn bản chính thức đầu tiên “phục hồi nhân phẩm” cho ông cố đạo này. Tiếp đó, ông phó tổng biên tập của tôi thông báo Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu cung cấp toàn bộ tư liệu liên quan đến Alexandre de Rhodes. Chúng tôi đã gửi lên gần 1000 trang photocopy khổ A4, trong đó phần quan trọng do các đồng nghiệp ở báo Công giáo và Dân tộc cung cấp.”
Trước khi góp ý với ông Hoàng Hưng, tôi xin có hai nhận xét và một đề nghị nhỏ sau đây:
Vì tác giả đã cẩn thận cho biết rằng “Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời dẫn hay năm tháng, vì tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư liệu để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung”, nên những góp ý của chúng tôi hôm nay cũng xin “được” nằm trong cái khung đó. Và sẽ được ông Hoàng Hưng điều chỉnh hay bổ sung phần viết của ông sau này.
Theo ông Hoàng Hưng, sau khi nhận được bài viết của một “độc giả” báo Lao động hoài nghi về tính trung thực của một câu trích (và dịch) được gán cho Alexandre de Rhodes, “anh em trong ban văn hoá văn nghệ báo Lao động đã bỏ công sưu tầm tài liệu” và “tìm mỏi mắt không thấy có trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre de Rhodes!”. Ông cũng cho biết rằng “người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi”, và sau nầy, “vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo!”. Tôi tự hỏi sao báo Lao động(và riêng cá nhân ông Hoàng Hưng), ngay từ đầu, không liên lạc thẳng với tác giả (hay nhiều tác giả) của câu trích (và dịch) đó để được xác nhận nguồn gốc trích dịch, trước khi… bỏ công sưu tầm  tìm mỏi mắt! (nhưng có tìm trong cuốn Hành trình và truyền giáo của A. de Rhodes không?) Như vậy, vừa khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc, nhưng quan trọng hơn cả, vừa tôn trọng và chứng tỏ được thái độ công bằng và khách quan với cả hai đương sự, “người dịch thuật” lẫn “kẻ hoài nghi”.
Trong đoạn trích dẫn ở trên, ông Hoàng Hưng có cho biết “Câu trích này thậm chí đã được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội” và “cuối cùng biết được rằng câu trích tai hại kia là rút từ cuốn hồi ký của một thuyền trưởng người Pháp nào đó”. Là một người quan tâm đến cố đạo Alexandre de Rhodes và chữ Việt La-tinh hoá (mà rất nhiều người Việt chúng ta từ lâu quen gọi là Quốc ngữ), tôi đề nghị ông Hoàng Hưng, khi về lại nhà để có trong tay tư liệu để trích lục, công bố nguyên văn câu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và nguồn gốc cuốn hồi ký cũng như tên ông thuyền trưởng người Pháp nào đó. Xin nói rõ: đề nghị này hoàn toàn vì nhu cầu học thuật chứ không vì nghi ngờ tính trung thực của tác giả Hoàng Hưng.
Bây giờ tôi xin góp ý:
1. Tạm thời, về mặt trích dẫn, tôi xin tiếp cận bằng hai giả thuyết: (a) Có hai câu viết khác nhau đến từ hai tác giả khác nhau, nhưng nội dung thì hao hao giống nhau. Một của cố đạo A. de Rhodes, và một của ông thuyền trưởng người Pháp. Và (b), chỉ có một câu của cố đạo A. de Rhodes mà thôi. Giả thuyết nào đúng có lẽ phải chờ ông Hoàng Hưng công bố tài liệu chúng ta mới đối chiếu và kết luận được tính chính xác của câu trích và dịch ở Bảo tàng Viện Hà Nội?
Sở dĩ cố đạo A. de Rhodes hiện diện trong cả hai giả thuyết (giống ông thuyền trưởng hay chính A. de Rhodes), mà từ và do đó ông Hoàng Hưng đã mỉa mai gọi là “lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công trình viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp” và “là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!” là vì chính ông cố đạo này chứ không phải ai khác, đã là tác giả của một câu viết trong cuốn Divers voyages et missions(Hành trình và truyền giáo, bản dịch của linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Ủy ban Ðoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994). Nguyên văn câu viết ở trang 263 như sau:
Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương, đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Ðức Giáo hoàng.”
Ngoài ra, ở trang 264, A. de Rhodes còn viết tiếp:
“Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Ðể ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé nầy.” (Chữ đậm là của BK.)
Ngoài chuyện linh mục Hồng Nhuệ, theo tôi, có thể vì tình cảm tôn giáo mà cố tình dịch sai nguyên bản hai chữ “plusieurs soldats” của A. de Rhodes thành “mấy chiến sĩ” (thay vì “nhiều lính chiến”) tại vì trong tiếng Pháp, “plusieurs” được hiểu là nhiều, còn muốn hiểu là mấy thì A. de Rhodes đã dùng chữ “quelque”, và cụm từ “la conquête de tout l’Orient” Hồng Nhuệ cũng cố ý dịch và chú thích sai là “Nước cha trị đến” mà đúng nghĩa phải dịch là “Thống trị toàn cõi Ðông phương”. Chúng ta còn thấy thêm hai điều:
Câu “mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cõi Ðông phương” của A. de Rhodes có vẻ… hao hao giống câu “Chúng ta là những người lính… chúng ta có bổn phận đi mở mang bờ cõi”mà ông Hoàng Hưng nhớ mang máng khi đọc tại Bảo tàng Lịch sử Hà Nội.
Nội dung của phần trích dẫn ở trang 264 của A. de Rhodes (nhờ đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu vận động để đưa tôi lọt vào triều đình vua) thì hoàn toàn phù hợp với nhận định đúng đắn rằng “truyền giáo đưa đến xâm lăng”, nhưng ông Hoàng Hưng thì lại mỉa mai rằng “là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng.”
2. Theo ông Hoàng Hưng, vì xác định sai nguồn trích dẫn (đáng lẽ là từ hồi ký của thuyền trưởng Pháp nào đó thì lại nhầm thành của A. de Rhodes) nên “ác thay, nó là lý do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đã bị xoá bỏ”.
Tuy nhiên, A. de Rhodes có phải là người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữkhông? Ta hãy để chính A. de Rhodes tự cải chính lấy điều mà hậu thế chúng ta, vì vô tình hay có hậu ý nào đó, cứ sai lầm gán cho ông. Trong mấy dòng đầu của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La(Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, trang 3, phần Việt ngữ), ông viết như sau:
Quyển từ điển tam ngữ này, gồm tiếng An Nam, Bồ Ðào Nha và La tinh tôi đặt nó vào trong tay và để trước mắt bạn được, là nhờ vào sự tài trợ của Thánh bộ Truyền bá Ðức tin…
Tuy nhiên trong công việc nầy (soạn chữ quốc ngữ, BK) ngoài những điều mà tôi học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm thời gian mà tôi lưu trú lại hai xứ Cô-sinh (Ðàng Trong, BK) và Ðông Kinh (Ðàng Ngoài, BK) thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pinangười Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng nầy, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là củaCha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Ðào, nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông tôi còn thêm tiếng La-tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn…” (phần nhấn mạnh là của BK).
Rõ ràng A. de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ Việt La-tinh hoá, lại càng không phải là tác giả hoàn toàn của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (được Vatican xuất bản năm 1651), vì ông chỉ thêm tiếng La-tinh mà thôi.
Cho nên, dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho Alexandre de Rhodes, người góp phần quan trọng như ông Hoàng Hưng đánh giá, theo tôi, là phản học thuật, không có sử liệu. Nếu cần phải xác nhận người có công với chữ Việt La-tinh hoá, thì đó là Francisco de Pina, người thật sự có công nghĩ ra một văn tự hoàn toàn mới bằng mẫu tự La-tinh. Tiếp sau đó là Gaspar de Amaral (Từ điển An Nam – Bồ Ðào Nha) và Antonio Barbosa (Từ điển Bồ Ðào Nha–An Nam và Nhập môn Tiếng Ðàng Ngoài – Munuducio Ad Linguam Tunkinensem), hai người có công kiện toàn văn tự này. Còn A. de Rhodes chỉ dựa vào đó để góp công bồi đắp thêm mà thôi.
Ngoài ra, để làm rõ thêm, tôi xin đặt một giả thuyết lịch sử phản diện: Nếu gần 200 năm sau khi các vị này chế ra chữ Việt La-tinh hoá đó, không phải là thực dân Pháp mà “thực dân Bồ Đào Nha” xâm chiếm và đặt ách đô hộ lên nước ta, thì ông Hoàng Hưng nghĩ chính quyền thực dân Bồ Ðào Nha sẽ dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho ai? Hỏi như thế để ông Hoàng Hưng thấy rằng việc Pháp vinh danh A. de Rhodes như người sáng chế ra một văn tự mới thì không phải lúc nào cũng thuần văn hoá, thuần lịch sử đâu.

Tôi ngờ rằng chính quyền thực dân Pháp lúc bấy giờ vinh danh A. de Rhodes là còn vì hai lý do: Một là để ghi ơn vai trò vận động đặc biệt của vị cố đạo này trong quá trình khai sinh chế độ thực dân tại Việt Nam. Và hai là biểu diễn một chiến thắng văn hoá trong cuộc tranh giành ảnh hưởng bá quyền và thần quyền giữa hai nước Pháp và Bồ trong thế kỷ thứ XVI.

3. Tuy nhiên, phần góp ý số 2 ở trên là chỉ để tranh biện với ông Hoàng Hưng về “công” của A. de Rhodes mà thôi. Tại vì về mặt học thuật, ít nhất là cho đến nay (2006), người đầu tiên thật sự sáng nghĩ ra chữ Việt la-tinh hoá một cách quy mô thì đã được xác định rõ ràng: Không phải là hai ông Gaspar de Amaral và Antonio Marbosa nói trên, lại càng không phải là Alexandre de Rhodes, mà là một giáo sĩ Bồ Đào Nha khác tên là Francisco de Pina mà A. de Rhodes đã có nhắc đến nhưng người Việt ta thì lại… cố tình quên.
Tôi xin trích đăng một phần bài viết “Ai là người thật sự sáng chế ra chữ Quốc ngữ” (Tạp chíHuế, Xưa & Nay số 62 tháng 3-4/2004) của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương mà chúng tôi, trong giới hạn của mình, đã kiểm chứng tính trung thực của các dữ kiện:
“Thời Pháp thuộc, người Pháp tuyên truyền rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã có công sáng chế chữ Quốc ngữ. Nhưng theo nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Pháp Roland Jacques thì người có công đầu nầy chính là giáo sĩ Bồ Ðào Nha Francisco de Pina.
Roland Jacques đã bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu vấn đề nầy và đến cuối năm 1995. ông đã công bố chuyên luận “Công trình của một số nhà tiên phong Bồ Ðào Nha trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt Nam cho đến năm 1650”. Ðến năm 2002, công trình được tái bản có bổ sung bằng song ngữ Pháp-Anh.

Sau nhiều năm tìm kiếm trong hàng vạn trang viết về Ðàng Trong ở thế kỷ 17-18 còn được lưu trữ tại Thư viện Hoàng gia của cung điện Ajuda ở thủ đô Lisbonne, ông may mắn phát hiện được một bức thư viết dở, dài 7 trang, của giáo sĩ Francisco de Pina vào đầu năm 1623 gửi cho khâm sai Jéromino Rodriquez ở Macao, báo cáo về công việc truyền giáo và Latinh hoá tiếng Việt.

Giáo sĩ Francisco de Pina đến Ðàng Trong vào đầu năm 1617, đặt chân đầu tiên ở Ðà Nẵng, sau đó vào giữa năm này, đến truyền đạo ở cảng thị Hội An. Ðầu năm 1618, ông chuyển đến Nước Mặn, Quy Nhơn. Ðến đầu năm 1621, ông quay lại truyền đạo ở Hội An cho đến đầu năm 1625. Giáo sĩ A. de Rhodes đến Hội An năm 1624 và học tiếng Việt với ông tại đây.

… Trong bức thư viết vào đầu năm 1623 nói trên, Francisco de Pina đã viết: “Về phần tôi, tôi đã biên soạn một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tức tiếng Việt) và tôi đang bắt tay viết về ngữ pháp. Tuy nhiên, tôi cũng đã tập hợp được những cổ tích, thuộc nhiều loại khác nhau, nhằm cung cấp các trích dẫn của các tác giả để xác minh nghĩa của các từ và các quy tắc của ngữ pháp, cho đến nay tôi có thể yêu cầu một người nào đó đọc để tôi phiên dịch sang các chữ Bồ Ðào Nha (tức chữ La tinh)… Ngoài ra, tôi đã có ba bốn cuốn tập hợp các bài viết có lý luận trong số các bài viết hay nhất mà tôi tìm thấy được ở Vương quốc nầy.”

Những điều Francisco de Pina đã viết trước khi Alexandre de Rhodes đến Ðàng Trong một năm cho thấy ông đã tiến hành việc La tinh hoá tiếng Việt chậm nhất là vào năm 1622, và đã tạo ra những cuốn sách viết bằng chữ Quốc ngữ sớm hơn bất kỳ một giáo sĩ Tây phương nào đến Ðàng Trong lẫn Ðàng Ngoài.

… Sau khi người Thầy Francisco de Pina qua đời, các công trình La tinh hoá tiếng Việt đầu tiên của ông đã vào tay người học trò Alexandre de Rhodes và ông nầy đã mang theo khi ra Ðàng Ngoài năm 1627.

… Về việc người Việt có tham gia trong sự phát minh chữ Quốc ngữ, theo Roland Jacques, gồm hai nhóm: Thứ nhất là giới trí thức gồm có các thầy đồ, sư sãi, các trưởng tông phái (đạo Lão, đạo Khổng,…), quan lại hưu trí và sĩ tử là những người giỏi tiếng mẹ đẻ, am hiểu nền văn hoá dân tộc. Nhóm thứ hai gồm các phiên dịch là thanh niên giáo dân biết tiếng Bồ Ðào Nha. La tinh giúp giáo sĩ truyền đạo. Và số người Việt nầy phải đông hơn gấp nhiều lần so với số các giáo sĩ.

… Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học hiểu rất rõ nếu các giáo sĩ phương Tây không được sự hợp tác của người Việt thì không thể La tinh hoá tiếng Việt được. Bởi vậy Roland Jacques đã viết: “Chính cả Pina và các đồng nghiệp đã tập hợp được những người hợp tác có chất lượng mà nếu không có họ, mọi công trình ngôn ngữ học nghiêm túc sẽ không thể có được”. Và ông đề nghị: “Cần thiết phải đặt đúng vị trí việc làm của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công trình tập thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân thứ yếu, trong đó người Bồ Ðào Nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt Nam của họ đã giữ vai trò hàng đầu”.
Bài viết nầy của tác giả Nguyễn Phước Tương làm tôi suy nghĩ 2 điều:
Vai trò góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ của A. de Rhodes mà những người như ông Hoàng Hưng đang muốn nỗ lực xiển dương thì cần phải được đánh giá lại cho đúng. Nhất là nỗ lực đó nhằm“phục hồi nhân phẩm” cho ông cố đạo này như ông Hoàng Hưng viết, và lại còn (hàm ý) muốn dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho ông ta nữa.
Những khám phá mới của nhà ngôn ngữ học Roland Jacques được công bố năm 2002 trên toàn thế giới, sau đó được tác giả Nguyễn Phước Tương thông báo trong nước trễ nhất là năm 2004, thế mà đến năm 2006 (nghĩa là 2 năm sau), ông Hoàng Hưng có vẻ vẫn lập luận và mang tâm cảnh (mindset) dựa trên những thông tin lỗi thời của ông từ năm 1992.
4. Như đã viết ở trong phần dẫn nhập và trong góp ý 1, về mặt học thuật, chúng ta đang chờ đợi ông Hoàng Hưng cho biết xuất xứ của các tài liệu, và còn vấn đề gì cần thảo luận thêm không? Tuy nhiên, dù là giả thuyết nào đúng, thì bàng bạc khắp bài viết ông Hoàng Hưng có vẻ như đã đóng chốt một kết luận về công và tội của ông cố đạo Alexandre de Rhodes này rồi.
Thật vậy, ông đưa ra 4 sự kiện có thật mà ông có vẻ mỉa mai không bằng lòng:
a. … tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes đã lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công trình viết về lịch sử xâm chiếm Việt Namcủa thực dân Pháp

b. … Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!

c. … Câu trích này thậm chí đã được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lý do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam(người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đã bị xoá bỏ.
d. … Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi, các “nhà” khác sau đó cứ “ôtômatích” trích lại như một sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo!
Qua 4 câu đó, tôi có thể hiểu rằng, theo ông Hoàng Hưng, ông cố đạo Alexandre de Rhodes là người có công lớn với dân tộc ta (chí ít cũng là công thần với văn hoá Việt Nam), xứng đáng vinh danh trên toàn nước (thế mà tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam… đã bị xoá bỏ).

Chắc không ai có thể đồng ý với một kết luận tùy tiện và đơn giản như thế được. Lịch sử cần sòng phẳng. Công thì khen, tội thì phạt. Công ít thì khen ít, tội nhiều thì phạt nhiều, không thể mập mờ được.

Công của ông cố đạo nầy thì đã quá rõ: Ông A. de Rhodes dứt khoát không phải là người đầu tiên sáng chế ra chữ Việt La-tinh hoá, nhưng ông đã cùng với các ông cố đạo Bồ Ðào Nha khác, cùng như cùng với những trí thức Việt Nam khác (thầy đồ, sư sãi, quan lại,…), góp phần chỉnh trang, hệ thống hoá và đặt nền móng cho tiếng Việt của chúng ta ngày nay. Và cái công tập thể đó thì chỉ giới hạn trong lãnh vực ngôn ngữ mà thôi, rõ ràng chưa xứng đáng để vì đó mà ta nâng chỉ mỗi mình ông cố đạo này lên thành công thần văn hoá, lại càng không xứng đáng để xây bia, đúc tượng, đặt tên đường như những vị danh nhân văn hoá khác của Việt Nam.
Huống gì khi mở rộng ra trên bình diện lịch sử dân tộc, tội của ông thì cũng đã quá rõ, và quá nặng: Ông Alexandre de Rhodes là ông cố đạo Pháp đầu tiên đã vận động chính quyền Pháp xâm chiếm nước ta với ý đồ làm cho hai chính sách truyền đạo của nhà thờ và đô hộ của nhà nước quấn quyện vào nhau trong một thế hỗ tương quyền lợi, dù ý đồ đó không thành tựu ngày ông nhắm mắt. Tuy nhiên chính vì “tiền lệ” đó mà sau này, những giáo sĩ Pháp như Pallu, De la Motte, Huc, Pellerin, Puginier,… đã triển khai để thành công trong việc thuyết phục, kế hoạch, và tiến hành cuộc xâm lăng nước ta và áp đặt nền đô hộ trên dân ta.
Xin giới thiệu với ông Hoàng Hưng một vài đầu sách xuất bản tại nước ngoài, để ông tham khảo thêm về chủ đề nầy: Histoire moderne du pays d’Annam, Charles Maybon; Vietnam: History, Documents and Opinions, Marvin Gettleman; L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine, Yoshiharu Tsuboi;La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Vietnam de 1851 à 1870, Etienne Vũ Ðức Hạnh; Fire in the Lake, Francis Fitzgerald; Vietnam’s Will to Live, Helen Lamb; The New Face of the War, Malcolm Browne; Vietnam A History, Stanley Karnow; Vietnam, A Political History, Josepph Buttinger –– Rhodes đã làm gì cho Việt Nam, Trần Quý – Việt sử toàn thư, Phạm Văn Sơn;Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn Thế Anh; Việt Nam Pháp thuộc sử, Phan Khoang; Ðạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, Cao Huy Thuần; Thập giá và lưỡi gươm, Trần Tam Tỉnh;Lịch sử nội chiến Việt Nam, Tạ Chí Ðại Trường; Tìm về dân tộc và Tôn giáo và Dân tộc, Lý Chánh Trung; Histoire de la pénétration Francaise au Vietnam (1858-1897), Nguyễn Xuân Thọ, …
Ngoài ra, cũng để xác định với ông Hoàng Hưng rằng quy luật “thập giá đi trước, lưỡi gươm theo sau” của giáo hội Vatican là nhất quán và có tính toàn cầu, xin lại giới thiệu với ông một số đầu sách khác để ông có một cái nhìn tổng thể hơn: The Vatican Empire, Nino Lo Bello;American Freedom and Catholic Power, Paul Blanshard; Pope, Premier, President, Roland Flamini; Catholicisme et sociétés asiatiques, Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi; The Roman Catholic Church in Colonial Latin America, Richard E. Greenleaf; The Catholic Church in World Politics, Eric O. Hanson;The Missionaries: God Against the Indians, Norman Lewis; Catholic Imperialism and World Freedom  The Vatican’s Holocaust, Avro Manhattan; Công giáo chính sử: 2000, Trần Chung Ngọc; The Politics of the Vatican, Peter Nichols;Christ or Evil? The Corrupt Face of Christianity in Africa, Anene Obianyido; The Holy Humbugs, Padchi; Missionaries, Julian Pettifer & Clive Prince; The Roman Catholic Church in Modern Latin America, Karl M. Schmit; Công giáo trên bờ vực thẳm, Charlie Nguyễn; The Keys of This Blood, Malachi Martin…

Cuối cùng, để kết thúc bài viết này, tôi cho rằng việc đặt lại tên đường và dựng tượng Alexandre de Rhodes cách đây mấy năm là một quyết định hoàn toàn sai lầm của những người trách nhiệm về văn hoá và sử học của nước ta, cả trong lẫn ngoài nhà nước. Như hàng ngàn sai lầm khác trong quá khứ mà nhà nước và nhân dân đang từ từ sửa sai. Sự thật dù có bị chôn vùi hay bóp méo bằng những lớp bụi chính trị nhất thời và quyền lợi tôn giáo, thì cuối cùng vẫn là sự thật.

Trích Talawas
*******

Kính gởi Ban Biên tập talawas

Tôi thấy tên tôi trên bài viết của tác giả Chương Thâu trong talawas ra ngày 2-6-2006 Tôi nhờ Ban Biên tập vui lòng thông tin cho tác giả và độc giả biết rằng luận án của tôi mà tác giả trích dẫn đã xuất bản trong nước từ bốn năm nay (NXB Tôn Giáo 2002) dưới nhan đề Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, 1857-1914 và trong đó không có câu viết của A. de Rhodes. Vì vậy tôi không muốn thấy mình bị liên hệ vào cuộc tranh luận liên quan đến câu viết này và cũng từ khước trước những tranh luận tương tự trong tương lai
Tuy nhiên, tôi thấy tranh luận xảy ra trên chữ “soldat” của câu viết cho nên xin nêu ra đây nghĩa của từ đó trong từ điển Robert của Pháp:
Soldat: 1. Homme équipé et instruit par l’Etat pour la défense du pays. 2. Tout homme qui sert ou qui a servi dans les armées.
Dịch: 1. Người được nhà nước trang bị và huấn luyện để bảo vệ xứ sở. 2. Bất kỳ người nào phục vụ hoặc đã phục vụ trong quân đội
Như vậy “soldat” bao hàm ý nghĩa quân sự, quân đội. Đó là người mà nhiệm vụ là làm chiến tranh, chiến tranh phòng vệ hay chiến tranh xâm lược, dù là nghĩa đen hay nghĩa bóng. Trong tôn giáo, dùng chữ “soldat” không làm mất đi cái ý nghĩa đánh nhau. Dù đánh nhau vì chân lý đi nữa, thì cũng đánh nhau và đánh nhau vì chân lý thì ghê rợn lắm. Đừng trách ai dịch soldat là “binh sĩ”.
Kính thư,
Cao Huy Thuần
Trích Talawas

*******

BỨC THƯ GIÁO SƯ HOÀNG TUỆ

Hà Nội, ngày 26 – 11 – 96
Anh Trần Văn Thông thân mến,

Hoàng Tuệ đây? Đã nhận sách và thư của Anh và cả a. Lê Nhu. Cám ơn các anh. Tôi cũng đã có đọc. Đọc chậm lắm. Làm sao đọc cho nhanh được các anh ơi!
Về các tài liệu gửi về, tôi thấy là quý. Đúng là ở trong nước, còn thiếu tài liệu cho các nhà nghiên cứu.
Đối với A, de Rhodes, không ít vị còn giữ ý kiến như các anh biết. Họ ca tụng ông này thật quá lời và muốn “rộng rãi” trong sự kỷ niệm ông ta, tôi nghỉ các anh nên viết thư về cho các vị trong chính phủ, một số vị đang có thái độ như trên, cả một số học giả!
Về Pétrus Ký, Nguyễn Trường Tộ và nhiều người khác, tôi có ý nghĩ hơi khác (giới nghiên cứu, học giả trong nước và giáo sư Hoàng Tuệ xác nhận thiếu tài liệu, ĐDTB) là phải chăng nếu thấu cáitâm sự của họ (Phản quốc Việt gian, ĐDTB) trong thời bi kịch đất nước bế tắc về học vấn, về văn hóa.
Chúc Anh và các anh em bên đó làm được nhiều việc có ích trong nghiên cứu, khoa học. Và chúc hạnh phúc.

Thân
Ký tên
Hoàng Tuệ
Khu Thành Công, B5 – 62
Q, Ba Đình, Hà Nội
Tel: 8343591
TB: Tôi có chuyển một số sách cho Ô. Đặng Nghiêm Vạn, Viện trưởng Viện Tôn Giáo. Ông ấy có ý muốn liên hệ với Anh. Các ông ở Viện Sử không tỏ ra có ý muốn ấy, Ông Vạn, Viện Tôn giáo, 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội

Ghi Chú:
* Trong những lần điện đàm anh TT với gs Hoàng Tuệ, gs Tuệ cho biết là gs. Nguyễn Khắc Xuyên, ra Hà Nội có quỳ tạ lỗi gs Tuệ tha cho NKX đã viết những lời thô tục bất kính đối với gs Tuệ, nhưng không viết bài đính chính trên báo chí ( quá gian manh xảo trá). Địa chỉ mới của gs Tuệ, tòa nhà lầu 3 tầng kiến trúc hiện đại (gia đình Bảo Ninh ở chung ): 100/3 Hoàng Hoa Thám, Q Hoàn Kiếm, Hà Nội. Theo anh TT, trong lần gặp tại 100/3 Hoàng Hoa Thám vào năm 2000, gs Tuệ bị căn bệnh lạ, cho nên không biết Gs Tuệ còn hay mất mà hơn 5 năm mất liên lạc (không có số điện thoại mới) và bận công việc không thăm quan Hà nội và kính viếng Di lăng Cha già Dân tộc Hồ Chí Minh trong những lần về Việt Nam sau này.
* Theo lời khai của một lang y (người thôn Thuận An, tổng Thanh Vân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) tên Trần Vinh, bị tàu Pháp bắt đem đi rồi sau trốn thoát được, kể lại thì ngày10 tháng 9 ( tức 16-10-1858), tàu Pháp ( trên đó có Trần Vinh) đến đảo Nhân Sơn, trước cửa Mành Sơn, để đón ( Đức thầy Huy và Cố Lý) (tức Giám mục Gauthier và Linh mục Crox, cũng có tên Hậu và Hòa) nhưng (hôm qua hai vị đã lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi). Khi tàu Pháp trở về Sơn Trà, Đà Nẵng, thì thấy thuyền nNhà Chung đã ở đó rồi. ( Xem Châu bản Triều Nguyễn CBR 22/47).Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Saigòn. Do đó, trước khi đem quân vào Saigon, Đô đốc Rigauit de Genoully đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong, Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tô và những người tháp tùng đã đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế nào vào đầu năm 1859. ( ghi chú ở tr 22*, của Nguyễn Trường Tộ Con Người Và Di Thảo của linh mục Trương Bá Cần, nxb TP. Hồ Chí Minh , năm 1988 )
ĐDTB, ngày 28/8/06
PHỤ LỤC:
Từ điển Việt – Bồ – La tinh

Tuy thế, dù sao đi nữa chúng ta cũng ghi nhận rằng Alexandro de Rhodes đã đưa ra xuất bản những công trình về chữ quốc ngữ sáng tạo bởi hai người Bồ Đào Nha: Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa.
Hai vị thầy vĩ đại này xứng đáng gợi chúng ta lập tượng đài tưởng niệm, chứ không phải Alexandro Rhodes!
Francesco do Pina
Sinh năm 1585 tại Guarda, Bồ Đào Nha
Nhập giáo đoàn Jesus, Christo giáo năm 1605 tại Coimbra. Đến Macau từ 1613.
Đến truyền giáo ở Đàng Trong năm 1617, thông thạo nhiều thứ tiếng Đông Nam Á, nhất là tiếng Nhật và tiếng Việt.
Dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ Âu châu mới qua Á Đông, trong số có Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa và Alexandro Rhodes.
Phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự Bồ Đào Nha và La tinh. Đắm thuyền chết tại cửa biển Đà Nẵng ngày 15-12-1625.
Gaspar do Amaral
Sinh năm 1594 tại Curveceira, Viseu, Bồ Đào Nha ngày nay. Nhập giáo đoàn Jesus, Christo-giáo, năm 1617 tại Coimbra, Bồ Đào Nha. Đi Á Đông năm 1624 ở Macau; Viện trưởng Viện Truyền đạo ở Macau. Đến Đàng Ngoài năm 1629.
Trở về Macau năm 1638 sau khi hoàn thành phiên âm chữ quốc ngữ Việt Nam. Đắm thuyền, chết ngoài biển Macau tháng 2-1646 trên đường đi Việt Nam.
Antonio Barbosa
Sinh năm 1594 tại Amifana do Souza nay là Penafiel gần Porto, Bồ Đào Nha. Nhập giáo đoàn Jesus, Christo giáo tại Lisboa năm 1624. Đi Á Đông đầu năm 1624.
Đến Đàng Trong 1629, rồi Đàng Ngoài năm 1636 cho đến 1642 đi Macau. Hợp tác với Gaspar do Amaral trong việc hoàn tất phiên âm chữ quốc ngữ.

GS-TS Phạm Văn Hường
Trích Người Lao Động, ngày 7/1/07

Nguồn: http://www.dongduongthoibao.net/view.php?storyid=290

“TƯỢNG ĐÀI ALEXANDRE DE RHODES”: AI LÀ NGƯỜI HÔ BIẾN? (TRẦN ĐIỀU)

“TƯỢNG ĐÀI ALEXANDRE DE RHODES”: AI LÀ NGƯỜI HÔ BIẾN?


Mảnh đất Việt Nam đã phải chịu 1.000 năm Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc. Những thế kỷ ngoại thuộc đầy tủi nhục và đau thương ấy cung cấp cho ta cái nhìn nhiều chiều về hệ lụy chiến tranh và bộ mặt thật của những đồng thủ phạm đã tạo ra nó. Chiến tranh xâm lược được cổ động qua những bộ óc và cả những “văn tự” chứa đựng âm mưu đồng hóa. Trong âm mưu đó, nhiệm vụ căn bản để người dân bản địa quên gốc mất nguồn chính là những hành động triệt tiêu bản sắc văn hóa, phá hoại di sản, áp đặt giáo dục… Điều khủng khiếp là nó được ẩn núp dưới hóa những từ như “văn minh”, “khai hóa” hết sức thâm độc. Nhưng âm mưu đồng hóa đó lại được một số người chủ ý ca tụng trong một xã hội mà nhiều việc làm, nhiều mối quan hệ đang cần phải làm sáng tỏ dưới khía cạnh “động cơ”.
Đó là những điều người viết buộc phải nhắc đến qua bài viết “Một Tượng đài ALEXANDRE DERHODES, sao không…” (sic) của Nguyễn Hàng Tình trên Tia Sáng online ngày 16/7/2009.
Hàng Tình quả là biết “Tàng Hình” khi viết:
Hằng ngày khi những cuốn sách được giở ra trong trường học, những trang báo được lật ra đây đó trên khắp các đường phố Việt Nam, cả những trang Web Việt ngữ được bày ra mênh mông trên mạng… có khi nào ta bình tâm để nghĩ về cái gốc gác thiêng liêng của “Tiếng” nước mình, về con chữ, và cả người đã tạo ra”.
Hàng Tình muốn “văn vẻ” đến cái chữ viết La-tinh, và quy hết “công” cho Alexandre de Rhodes (linh mục Dòng Tên, có tên Việt là Đắc Lộ). Đắc Lộ đã học tiếng của người Việt, đã mượn cái tiếng đó để “sáng chế” ra chữ quốc ngữ (chưa đầy đủ khi đó).
Trong bài thuyết trình đọc tại Giáo xứ Công Giáo Việt Nam ở Paris nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ (1593-1993), Nguyễn Khắc Xuyên đã viết:
Thực ra Đắc Lộ không phải là người sáng chế ra thứ chữ viết theo tự mẫu Latinh. Đây là một sự nghiệp chung của một số giáo sĩ thuộc nhiều dân tộc khác nhau, trong đó đặc biệt là người Bồ, rồi tới người Ý, người Pháp. Nhưng Đắc Lộ là người được nói tới nhiều hơn hết và vì đó kể như có công nhất, bởi vì các tác phẩm của ông còn tồn tại cho tới ngày nay, trong khi nhiều tác phẩm của các đồng nghiệp đã thất lạc…” (Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) 1593-1660).
Và Nguyễn Đình Đầu, một trong những người bênh vực Đắc Lộ hết mực, cũng phải công khai thừa nhận “không một ai trong hội thảo cho rằng Đắc Lộ “là người sáng nghĩ ra chữ Quốc ngữ”, mà chỉ là người học nói tiếng ta từ chính người Việt…” (Bùi Kha – Biện chính với Nguyễn Đình Đầu).
Chúng ta “bình tâm” nhưng không phải để nghĩ về “cha đẻ” ấy mà là để hiểu rõ hơn về những cố gắng sáng tạo chữ viết của ông cha trong nhiều thế kỷ đã dần định hình một thứ chữ Nôm nhưng đã bị những âm mưu đồng hóa thủ tiêu bằng mọi cách.
Thực ra Hàng Tình chưa tiếp xúc với những tranh luận gần đây (năm 2008) giữa Bùi Kha và Nguyễn Đình Đầu về Đắc Lộ trên tạp chí Hồn Việt và trên sachhiem.net, nên mới nhắm mắt mà viết “cha đẻ ra chữ viết tiếng Việt hiện đại, chữ Quốc ngữ, ông Alexandre de Rhodes – một người sinh ra từ vùng Avignon (Pháp), có gốc Do Thái ấy, biệt khuất chúng ta kể từ rất lâu rồi, vào thế kỷ XVII”.
Hàng Tình so sánh: “Nhìn quanh các nước Đông Á, nhận ra lịch sử đã đưa đẩy ngôn ngữ Việt ta thoát ra khỏi hệ thống chữ viết tượng hình, khỏi món nợ “vay mượn” dai dẳng lối ghi âm (chữ viết) Trung Hoa, cái ước mơ đau đáu Nhớ Cụ mà người Nhật, Triều Tiên chưa thực hiện được. Với chữ viết (có được như hiện nay), rõ ràng là cái rõ nhất chúng ta có độc lập, đang thực sự độc lập”.
Ông cha ta đã từ chữ viết tượng hình của người Trung Hoa mà sáng tạo ra chữ Nôm trong hoàn cảnh ý thức về một dân tộc cần phải có chữ viết riêng. Chưa thể làm gì hơn cho việc phổ biến chữ viết ấy thì quân Pháp xâm lược Việt Nam. Đắc Lộ từng thừa nhận: “Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Quốc, ở Ðàng Trong, ở Ðàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm những nơi cùng kiệt cõi đất.” (Hành trình và truyền giáo).
Giám mục Puginier, người có công lớn trong việc chiếm phá chùa Báo Thiên để xây nhà Thờ lớn Hà Nội (hiện nay) thì không ngần ngại tuyên bố: “…tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An Nam (chữ Quốc ngữ, BK), rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Ðông.
Cứ như lời của Puginier nói thì mục tiêu cuối cùng trong công cuộc đồng hóa là người Việt sẽ sử dụng tiếng Pháp. Và nếu không có những người cộng sản thì chắc người Việt sẽ không viết như chúng ta hôm nay, để cho ai đó “kể công” của Đắc Lộ mà không màng đến liêm sỉ quốc gia. Không hiểu sao Hàng Tình “đóng đinh” rằng “chúng ta có độc lập, đang thực sự độc lập” khi thoát ra khỏi cái chữ tượng hình. Mượn của Trung Hoa thì không có “độc lập”, còn mượn của Latinh thì có “độc lập” thực sự chăng?
Hàng Tình hiểu “độc lập” này như thế nào? Giống như quốc gia Philippinne nói và viết hoàn toàn bằng chữ Latinh, còn bản sắc thì mất gần hết chăng? Còn người Nhật, hiện nay họ vẫn sử dụng phần lớn chữ Trung Hoa nhưng văn hóa của họ, tiếng nói của họ có biến mất không? Có ai bảo họ không có “độc lập” không? Các nước sử dụng mẫu tự Latinh ở phương Tây sẽ định nghĩa sao về “độc lập” cho riêng mình?
Chưa hết, trong Thư đề ngày 12/01/1882, từ Chợ Quán “Kính gởi các vị trong Hội Đồng Thuộc Địa”, Bao-ti-xi-ta Trương Vĩnh Ký viết rõ hơn về mục đích các tác phẩm của ông:
Thưa quí vị,
Tôi hân hạnh gởi đến quí vị một bản trình bày từng tác phẩm xuất bản mà tôi đã biên soạn.
Làm như vậy, ý định của tôi là để chứng tỏ với quý vị rằng trong 13 cuốn sách tôi đã xuất bản cho đến nay do tiền tôi bỏ ra, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết vừa cho nhà cầm quyền, vừa cho Ủy ban Phụ trách Cứu xét những tác phẩm của tôi. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam” (Nguyễn Sinh Duy, “Cuốn sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký”, NXB Nam Sơn, Sài gòn, tháng 3,1975).
Hàng Tình: “Có quá lời không chưa rõ, nhưng ai đó đã từng bảo: “Với việc Latin hoá chữ viết tiếng Việt, Alexandre de Rhodes đã đặt Việt Nam tiến bước văn minh, hòa nhập cùng nhân loại trước các dân tộc Đông Á khác 300 năm”. Không phải ngẫu nhiên mà từ cuối thế kỷ XIX, và đầu thế kỷ XX ngay giới trí thức Nho học Việt Nam cũng đã quyết liệt cổ suý, truyền bá chiến lược cho sự lớn mạnh của Quốc ngữ, đẩy hệ thống chữ tượng hình, chữ Hán – Nôm vào cáo chung, để rồi chúng ta có được một di sản ngôn ngữ/chữ Việt như ngày hôm nay”.
Tại sao Hàng Tình phải viết “có quá lời không chưa rõ”? Rõ là “quá lời” lắm chứ. Vì ai cũng biết những lời nhận xét trên phát xuất từ Nguyệt san MISSI [do các cha Dòng Tên (một dòng tu với những lời thề rất thiếu tính người) người Pháp điều khiển]. Vatican thì mở “Hội thảo” về Đắc Lộ, còn MISSI thì giật tít Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ“.Chẳng lẽ ông Hàng Tình không hiểu nổi “tính khách quan” trong câu tục ngữ của người Việt “mẹ hát con khen” à?
Đắc Lộ là một người không thật thà, hay phóng đại về việc làm của mình tại An Nam. Và những “bốc phét” của ông ta đã bị Yoshiharu Tsuboi lột tả trong cuốn Catholicism et Sociétés Asiatiques, trg. 136, về “nghệ thuật” phóng đại sự việc để lừa dối chính quyền Pháp cũng như Tòa Thánh Vatican của Rhodes:

“Vào khoảng 1650, Alexandre de Rhodes tuyên bố rằng, người Việt Nam cải đạo theo Ca Tô giáo với nhịp độ 15000 một năm, con số mà khoảng hai mươi năm sau, những thừa sai Pháp cho rằng đã phóng đại, vìhọ chỉ thấy có độ 60.000 thay vì 200.000 tín đồ Ki Tô như các giáo sĩ dòng Tên đã tuyên bố”.

Hàng Tình: “Suốt 20 năm gắn bó với Việt Nam, đến và đi thầm lặng, rồi tạo ra thứ chữ Việt có kiểu ký hiệu phổ biến như bao dân tộc châu Âu, Mỹ, Phi, Úc đó, Alexandre de Rhodes đã có đến 6 lần bị chính quyền phong kiến Việt Nam, chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh… trục xuất (nhưng ông vẫn luôn tìm cách để được quay lại). Khi về châu Âu, ông vẫn đeo đuổi cho ngôn ngữ Việt, bỏ ra tiếp 6 năm nữa để hoàn thành công trình ngôn ngữ ấy (bộ Từ điển Việt – Bồ – La “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum”, vào năm 1651, tại Italia) cho sứ mệnh tinh thần của mình (rao giảng Phúc Âm), cùng lúc cho văn hoá Việt, dân tộc Việt”.

Hàng Tình ngày càng lộ rõ mình là một kẻ “Tàng Hình” trong đánh tráo khái niệm. Vì viết như vậy là không lương thiện với lịch sử, bởi nó sẽ làm cho người đọc (ít tiếp cận thông tin về Đắc Lộ) hiểu lầm rằng Đắc Lộ đến Việt Nam khi ấy chỉ để “tạo ra thứ chữ Việt…”, “theo đuổi ngôn ngữ Việt”. Hàng Tình nên đọc lại lịch sử về Đắc Lộ và xem 6 lần bị trục xuất ấy có phải do “theo đuổi ngôn ngữ Việt” không?

Hàng Tình tìm người “bảo kê”: “Chúng ta – dân tộc Việt Nam – mang ơn ông ấy (Alexandre de Rhodes) là một sự thật!”. Ông Võ Văn Kiệt – vị cố Thủ tướng được dân yêu quí và ngưỡng vọng, từng bảo thế. Những tháng ngày về hưu, ông Kiệt càng nghĩ nhiều hơn về công lao của Alexandre de Rhodes (ông tự đặt tên Việt cho mình là Đắc Lộ). Và thế là ông đã mời điêu khắc gia Phạm Văn Hạng và nhà sử học Dương Trung Quốc đến nhà ở TP.HCM để “đặt hàng”, nhờ tạc cho được một bức tượng về Alexandre de Rhodes, mà ông bảo trước hết cho chính ông, để ông với tư cách một người Việt tỏ lòng tri ân người có đóng góp cho dân tộc yêu dấu mình. Nhưng rồi buộc phải trách nhiệm hơn, ông bảo với nghệ sĩ Hạng và ông Quốc: “Đợi khi nào thuận lợi, cố tìm cách để tượng đấy được đặt ở Thủ đô Hà Nội, chúng ta biểu thị một sự hàm ơn, và vinh danh người có công, tỏ rõ sự quí trọng văn hoá, khoa học…”.
Tôi không biết đây là lời khen hay chê ông cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Vì ông Kiệt không thể “lớn lối” đại diện dân tộc này để mang ơn một trong những kẻ đã chủ mưu dẫn binh đến cướp nước và đồng hóa dân tộc ta được. Ông Kiệt tạc tượng, hay “cúc cung bái” Đắc Lộ là quyền tự do cá nhân của ông ấy. Nhưng việc “Đợi khi nào thuận lợi, cố tìm cách để tượng đấy được đặt ở Thủ đô Hà Nội, chúng ta biểu thị một sự hàm ơn, và vinh danh người có công, tỏ rõ sự quí trọng văn hoá, khoa học…” (nếu đúng như Hàng Tình nói) thì là một việc làm hồ đồ, xúc phạm đến tình cảm dân tộc và máu xương đã đổ xuống vì độc lập dân tộc của đồng bào.
Và tôi cũng không nghi ngờ gì về việc ông Dương Trung Quốc tại sao lại a dua bàn bạc cái việc “đại sự” này, vì ông cũng từng phát biểu: “Nếu nói cho đủ thì trong tiến trình lịch sử của mình, Việt Nam lại còn có cơ hội tiếp cận (vì lý do chiến tranh và ý thức hệ) với nhiều nền văn minh…” và “Chiến tranh thật khốc liệt với nhiều tội ác và thương tích nhưng đó là một thế kỷ đủ giúp Việt Nam bứt ra khỏi cái thế giới Trung Hoa truyền thống không chỉ về chính trị mà quan trọng hơn là sự tiếp nhận những giá trị văn của văn hoá phương Tây, trở thành một phần di sản và bản sắc của văn hoá Việt Nam hiện đại”.
Đó là nhận thức “không vỏ dưa thì vỏ dừa” về chiến tranh của ông Dương sử h(ọc). Miễn chê!
Một cái tên đường ở Tp.HCM (và chỉ nên có ở Tp.HCM) đã là quá đủ để dành cho Alexandre de Rhodes. Khi ông Võ Văn Kiệt còn đương chức đã “thỏa thuận” theo lời đề nghị “ngoại giao” của quốc gia Vatican để tôn vinh cho Đắc Lộ. Việc làm này khi ấy vốn dĩ đã là việc làm “xé rào dư luận”, nếu không muốn nói là “đi đêm”. Người ta nghi ngờ về bộ óc của những người “thẩm định”, vì họ đã có đủ tư cách và thẩm quyền văn hóa để làm điều đó hay không, hay do họ bị quan (tiền) chi phối. Chỉ cần đọc kỹ lịch sử về Đắc Lộ đủ thấy một số người đã đánh tráo sự thật nhằm đưa một kẻ cướp nước với âm mưu đồng hóa thành “tượng đài” của dân tộc. Muốn làm điều này nhanh gọn, không có việc “thiết thực” hơn là mở “Hội thảo khoa học”. “Hội” thì có, “thảo” thì không, còn “khoa học” thì vô cùng lờ mờ.
Hàng Tình: “Với Alexandre de Rhodes, tượng ông đã được tạc xong (bằng đá hoa cương, cao 3m, rộng 2m, nặng 43 tấn) lâu rồi, đang để ở ngoại ô thị xã Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương), nhưng vì người “bảo hộ” cho sự chào đời (và tồn tại) của nó cũng đã khuất, nên ông Hạng lẫn ông Quốc giờ chỉ nhìn tượng ông Rhodes rồi nhìn vào nhau (!), bởi không biết phải “đặt đâu”, và “làm sao đặt được”, dù biết rằng động thái tri ân ấy vào những năm 1941 đã từng diễn ra (do Hội Trí Tri và Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ người Việt ở Việt Nam thực hiện): Một bia vinh danh Alexandre de Rhodes được đặt ngay bên trái tim Thủ đô, ở hồ Gươm”.
Người Việt không bao giờ quên ơn những người nước ngoài có đóng góp về văn hóa, khoa học cho dân tộc. Nhưng những người nước ngoài đó không thể là những kẻ vận động binh đao để tiến hành chiến tranh xâm lược với âm mưu đồng hóa. Đó chính là thái độ ứng xử rất phân minh của người Việt. Vì vậy Hàng Tình so sánh Đắc Lộ với Pasteur, A.Yersin, Calmette, Marie Curie… là rất khập khiễng.
Năm 1941 Hội Trí Tri cùng với Hội Truyền bá Quốc ngữ đã quyên góp để dựng một tấm bia kỷ niệm ngày sinh nhật thứ 350 của giáo sĩ Đắc Lộ ở gần bên bờ hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu.
Cụ Hoàng Xuân Hãn viết về Hội này như sau: “Lần đầu nghe nói đến tên hội này, tôi lấy làm ngạc nhiên, rồi đáp: “Không ai mời tôi cả. Vả chăng ngày nay ai mà chẳng học quốc ngữ; thì lập hội làm gì ? Hoặc quốc ngữ đây nghĩa là tiếng ta. tiếng và văn Việt ngữ?Lập hội với mục đích ấy cũng tốt, vì ngày nay ai cũng muốn nói tiếng tây cho thoáng, chứ không hiểu đúng tiếng ta, đến đỗi hạng lầm hiểurằng ”yếu điểm” là điểm yếu, ngày càng nhiều”. Cụ để tôi nói dài mới ngắt lời, rồi đáp: “Truyền  quốcngữ là truyền  cách viết tiếng ta bằng những chữ la-tinh A, B, C” (Nhớ lại hội Truyền bá quốc ngữ… – Báo Đoàn Kết tháng 9-10-1988).
Hành động lập bia của họ ở thời điểm Pháp đang đô hộ có thể do chưa tiếp cận chính xác tư liệu đểđánh giá về sự thật Đắc Lộ. Nhưng phần nào động cơ kỷ niệm của họ là trong sáng vì họ sớm nhận ra “ngày nay ai cũng muốn nói tiếng Tây cho thoáng”. Mục đích cuối cùng của các cha đạo là người bản xứ sẽ nói và viết tiếng Tây, chứ không phải thứ chứ quốc ngữ chưa hoàn thiện như ở thời Đắc Lộ.
Hàng Tình: “Tượng đài Nguyễn Trãi sừng sững ở Québec (Canada), hay 18 danh nhân Việt Nam được đặt tên đường ở Houston (Texas, Hoa Kỳ)… là thông điệp nhắc nhở về những giá trị đóng góp cho hạnh phúc của con người được chấp nhận và thừa nhận luôn không biên giới, huống gì “nhân vật” Alexandre de Rhodes, người hằng ngày đồng hành cùng chúng ta, đóng góp cho sự phát triển, văn minh của chúng ta. Hình như chúng ta đang mắc nợ một tượng đài, cùng dăm ba con đường phố hiền hoà mang tên “người cho ta cái chữ” ấy”.
Càng so sánh càng thấy Hàng Tình rất ngu ngơ về lịch sử. Nguyễn Trãi là một danh nhân văn hóa thế giới, ông chẳng có âm mưu gì với nước Canada. Dĩ nhiên, về ngoại giao, các nước từng đặt quan hệ với nhau, có những ứng xử như vậy là bình thường. Ông Lê Nin chẳng có ngày nào ở Việt Nam mà Việt Nam vẫn có tượng đài của ông ta. Những tượng đài người nước ngoài được xây dựng để bày tỏ sự tôn trọng và gắn kết tình hữu nghị. Nếu những nước đó từng xây dựng tượng đài của những kẻ dẫn quân vào xâm lược đất nước họ, thì Hàng Tình (Tàng Hình) hãy đem ra so sánh, bằng không chính việc làm này, Hàng Tình đã miệt thị những danh nhân văn hóa của người Việt.
Những người Việt (đa số là Phật tử) sẽ nghĩ gì, nếu tượng đài Đắc Lộ xuất hiện ở Hồ Gươm (Hà Nội) – một mảnh đất thiêng vốn dĩ đề cao những giá trị văn hóa hòa bình. Ý nghĩa của hồ Hoàn Kiếm không chỉ bằng hành động trả vật dụng gươm thần mà còn phải trả cả cái gươm trong bụng. Đắc Lộ đã không ngừng miệt mài rèn gươm bụng, để “nhào nặn” chữ quốc ngữ dùng làm bao để bọc nó. Và chúng ta không thể tưởng tượng được rằng mỗi khi đi qua “tượng đài” Đắc Lộ chúng ta nghĩ về mảnh đất Thăng Long mà biết bao chùa chiền di sản bị thực dân Pháp kết hợp với các cha đạo nước ngoài tàn phá. Và người Phật tử sẽ nghĩ gì khi một cha đạo như Đắc Lộ từng nói rất “văn hóa” như sau: “Bởi Tam giáo này, như nguồn độc, nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa. Như thế có chém cây nào độc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cũng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca là thằng hay dối người ta, ngã xuống, …”. (Phép giảng tám ngày). Ôi! Có lẽ nào sẽ có một “tượng đài chữ viết” cho những ngôn ngữ “thiêng liêng” như vậy sao?
Trong khi thiền sư Vạn Hạnh với tầm nhìn xa rộng cố vấn và thuyết phục vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long để tạo kế lâu dài cho dân tộc còn chưa có một tượng đài xứng tầm ở Thủ đô thì Đắc Lộ đang được người ta “rục rịch cổ vũ” kéo ra đứng ở Thăng Long. Trong khi hai di sản nổi tiếng của Phật giáo là chùa Báo Thiên và Báo Ân tại khu vực Hồ Gươm còn chưa được phục dựng thì Đắc Lộ (bằng đá hoa cương) lại được giật tít trên Tia Sáng để dọn đường đến đó đứng.
Năm 1624, Đắc Lộ đến đàng Ngoài, đánh dấu sự khởi đầu của khối liên minh thực dân đế quốc Pháp-Vatican. Sau 10 năm hoạt động ở Việt Nam, Đắc Lộ đã có đầy đủ bản đồ Việt Nam, có một bản báo cáo tỉ mỉ về tình hình Việt Nam đệ trình cho Giáo hoàng ở Vatican và đồng thời đệ trình cho vua Louis XIV của Pháp vào lúc bấy giờ, kèm theo bản báo cáo đề nghị “Đánh chiếm Việt Nam“.
“Tượng đài” cho con người này? Đây quả là một huyễn thuật “hô biến” rẻ tiền mà một số người đã và đang cố tình dựng ra.
TRẦN ĐIỀU

Chuyện về tấm bia Alexandre de Rhodes (Nguyễn Ngọc Tiến)

Nhà bia Alexandre de Rhodes khánh thành vào 5h chiều ngày 29/5/1941. Đó là phương đình bốn mái trên nền xi măng gấp khúc 12 cạnh có ba lối lên 5 bậc. Bên trong là bia đá cao 1, 7mét, rộng 1, 1mét, dầy 0, 2 mét trên đế cao 0, 5 mét. Trên mặt bia tóm lược cuộc hành trình truyền giáo và công lao của Alexandre de Rhodes trong việc chế tác chữ quốc ngữ được khắc bằng ba thứ tiếng: Quốc ngữ, Hán và Pháp. Trong văn bia có đoạn: “Khi phải rời bỏ xứ Việt Nam, người lấy làm tiếc nên có nói: Phần xác ta rời bỏ đất Nam với đất Bắc nhưng thực lòng ta vẫn quyến luyến, nói cho đúng, vẫn bàng hoàng với cả hai nơi và ta chắc rằng không bao giờ lòng ta lại quên hai xứ ấy”.
Tuy có sự đánh giá khác nhau về ông Alexandre de Rhodes nhưng theo GS.TSọ Nguyễn Duy Quý thì đã có sự thống nhất ở những điểm: Việc chế tác chữ quốc ngữ là công trình tập thể của nhiều linh mục dòng Tên người châu âu trong đó nổi bật là vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de Rohodes. Công việc này cũng có sự cộng tác tích cực hữu hiệu của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục) mà cho đến nay chưa ai biết tên tuổi của họ. Alexandre có công lớn ở chỗ ông đã góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ quốc ngữ, đặc biệt ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn, tổ chức in ấn lần đầu cuốn Từ điển Việt – Bồ – La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và Phép giảng tám ngày. Xét từ góc độ ngôn ngữ, Diễn giải vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng Đàng Ngoài (in chung trong từ điển) có thể xem như công trình khảo cứu đầu tiên về ngữ pháp tiếng Việt và cuốn Phép giảng tám ngày là tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII. Chữ quốc ngữ năm 1651 của Alexandre trong Từ điển Việt – Bồ – La mặc dù đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải 121 năm sau (1772) với những cải cách quan trọng của Pigneau de Béhaine thì chữ mới có được diện mạo giống như hệ thống chữ viết hôm nay.
2. Nói đến Alexandre de Rhodes không thể không nói đến việc truyền đạo của giáo sỹ này và Nhà Thờ lớn Hà Nội. Nhà thờ này được xây dựng trên nền chùa Báo Thiên, hoàn thành vào năm 1890 do giám mục Puginier thiết kế và giám sát việc xây dựng. Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã thỏa mãn mong muốn ý định của Puginier xây nhà thờ mới bằng cách xui người dân nói rằng chùa hư hại nặng nếu để sẽ nguy hiểm cho người qua lại nên cho phép phá và chính Nguyễn Hữu Độ tận tay đưa miếng giấy thu hồi đất cho Công sứ Bonnal. Việc xây dựng bắt đầu vào năm 1884 với nguồn vốn đầu tiên thu được từ tiền cuộc xổ số 10.000 vé, mỗi vé 1 đồng. Giám mục Puginier tự kiểm tra gạch và ngói của các lò nung dành cho công trình này. Ngoài ra còn tiền cúng biếu và đợt phát hành xổ số lần thứ hai cho phép Nhà Thờ nhanh chóng có được số tiền cần thiết.
Nhà Thờ có hai tháp chuông cao 31, 5 mét. Theo sử sách, vào năm 1056 vua Lý Thánh Tông cho lập một ngôi chùa ở khu vực này đặt tên là Sùng Khánh. Năm 1057 lại cho xây tháp rất cao và đặt tên là tháp Đại Thắng Tư Thiên. Gọi tắt là Báo Thiên tháp. Do vậy chùa cũng có tên là chùa Báo Thiên. Đời nhà Trần, Phạm Sư Mạnh có bài “Vịnh Tháp báo Thiên”: “Trấn áp Đông Tây củng đế kỳ / Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy / Sơn hà bất động kình thiên trụ / Kim cổ nam ma lạp địa chùy / Phong bãi chung linh thời ứng đáp / Tinh di đăng chúc dạ quang huy / Ngã lai dục thủ đề danh bút / Quản lĩnh xuân giang tác nghiễn trì”. Tạm dịch: (Trấn áp từ Đông sang Tây làm vững đất kinh kỳ / Ngọn tháp sừng sững cao vòi vọi / Là cột chống trời, giữ cho non sông chẳng động / Là dùi cắm đất, xưa tới nay không mòn / Tiếng chuông, tiếng gió chen nhau / Ảonh đền ánh đuốc ánh sao băng làm đêm rực sáng / Ta tới đây muốn dầm ngòi bút đề thơ / Phải giữ cho dòng sông làm nghiên mực). Rồi chùa và tháp bị đổ nát vì giặc giã và thời gian.
3. Ông Nguyễn Việt Minh (nhà ở tập thể của bảo tàng lịch sử phố Trần Khánh Dư), học khóa đầu tiên 4 năm rưỡi về bảo tồn bảo tàng tại trường Nghiệp vụ Bộ Văn hóa (hiện là trường Đại học Văn hóa).
Năm 1992, sau mấy năm đổi mới, Hà Nội bắt đầu chuyển mình, nhiều hộ gia đình khá lên rục rịch xây nhà, ông thuê cửa hàng mở nghề làm cửa sắt các loại. Một buổi sáng ông Minh lên chợ Đồng Xuân mua vật liệu đến đúng trước cửa nhà máy Nước đá (Phố Trần Quang Khải), ông muốn đi vệ sinh liền ghé xe vào gần bờ đê và vô tình ông thấy phiến đá phẳng bị cỏ phủ lên. Tò mò, lật đám cỏ ra và cỏ đất bám trên mặt ông giật mình vì đó là tấm bia, lại càng thót tim hơn khi đó là tấm bia Alexandre de Rhodes.
Thời kỳ Bắc thuộcT, Sĩ Nhiếp, Thái phụ Giao chỉ có công truyền bá chữ Hán cho dân Việt Nam đã được suy tôn làm Nam bang học tổ, gọi là Sĩ Vương và được nhân dân lập đền thờ, trong khi Alexan de Rhodes có công mang lại chữ viết cho cả người Việt và trở thành chữ Quốc ngữ lại nằm ngoài bờ đê, ông thấy nhói trong lòng. Từng làm việc ở Bảo tàng ông hiểu nếu mang về nhà không kín đáo có thể bị kết tội chiếm đoạt di tích cho dù nó nằm ở bờ đê. Đêm muộn ông nhờ Hùng “toét” lái xe chở về và phải thuê cửu vạn bí mật khiêng vào đặt lên chỗ cống không có nắp. Không một ai trong khu nhà ông biết. Phần tiếng Pháp trên tấm bia đã bị bào mòn, nhưng phần chữ Việt thì còn nguyên. ông có một người bạn là họa sỹ Nguyễn Quang Cậy, ông Cậy cũng biết ông Dương Trung Quốc và qua ông Cậy, ông Dương Trung Quốc có ý định đưa ba triệu đồng để lấy bia nhưng ông không đồng ý. Khi nghe tin Hội nghị Pháp ngữ tổ chức tại Hà Nội (1997), cũng biết Thủ tướng Võ Văn Kiệt coi trọng di sản văn hóa nên ông nhờ người báo cáo lên Bộ Văn hóa – Thông tin. Sau đó Bộ cử người xuống và mang đi. Từ khi tình cờ phát hiện ra tấm bia đến khi giao cho cơ quan chủ quản, ông đã đi lần mò ra tấm bia bị tháo bỏ ngày nào và hành trình lưu lạc của nó…
Đêm ngày 9/10/1984, xe cẩu, công nhân kéo đến bia Alexandre de Rhodes rồi người ta dùng cần cẩu loại nhỏ cẩu tấm bia mang quẳng ra mép hồ xí nghiệp Cơ khí 204 (ngoài đê sông Hồng). Tấm bia nằm đó không lâu thì một ông xích lô ở ngõ Pháo Đài trong lúc đi vệ sinh phát hiện ra tấm đá to lại bằng phẳng liền gọi vợ con lại và nhờ đám bạn xích lô mang về lát chỗ rửa rau vo gạo. Nhưng được một thời gian trong gia đình ông có nhiều người đau ốm, thuốc men tốn rất nhiều tiền mà bệnh tình không lui. Đi xem, thầy phán nhà có đồ thờ cúng lạ, ông nghĩ ngay đến tấm bia. ông lại nhờ bạn bè khiêng lên xe chở ra bờ đê và hạ xuống ngay trước cửa nhà máy Nước đá. Đoạn đê này lúc đó còn là đất, cỏ dại mọc um tùm. Từ khi quẳng tấm bia đi vợ con ông hết bệnh tật ốm đau…
Nguyễn Ngọc Tiến

GIÁO SĨ ĐẮC LỘ VỚI CHỮ QUỐC NGỮ (Nguyễn Khắc Xuyên)

GIÁO SĨ ĐẮC LỘ VỚI CHỮ QUỐC NGỮ

Bàn về việc thành lập chữ quốc ngữ, các tác giả đều đi tới một kết luận chung này: nhiều người, chứ không phải một mình giáo sĩ Đắc Lộ đã sáng chế ra thứ chữ viết theo mẫu tự Roma hay Việt ngữ phiên âm. Thật vậy, sử gia Ch.B.Maybon, trong bộ sách xuất bản năm 1919, đã công nhận việc thành lập chữ quốc ngữ là một công cuộc chung, trong đó phải kể nhiều giáo sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, chứ không riêng gì giáo sĩ người Bồ Đào Nha. [1] Trong bộ Việt Nam văn học sử yếu, ông Dương Quảng Hàm có viết: “Việc sáng tác chữ quốc ngữ chắc là một công cụ chung của nhiều người, trong đó có cả các giáo sĩ người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Pháp lan tây. Nhưng người có công nhất trong việc ấy là cố A-lịch-sơn Đắc Lộ, vì chính ông là người đầu tiên đem in những sách bằng chữ quốc ngữ, thứ nhất là một cuốn tự điển khiến cho người sau có tài liệu mà học và kê cứu”. [2] Ông Đào Duy Anh cũng đồng ý tưởng như trên khi viết: “Xưa kia Việt ngữ vốn viết bằng chữ nôm, nhưng từ khi phép học đổi mới thì Việt ngữ lại viết bằng một thứ chữ mới gọi là chữ quốc ngữ. Thứ chữ này nguyên do các nhà truyền giáo Giatô đặt ra. Vào khoảng thế kỷ XVII, khi các nhà ấy mới sang nước ta, thì có lẽ mỗi người lấy mẫu tự của nước mình mà đặt ra một lối chữ riêng, để dịch tiếng bản xứ cho tiện việc giảng dạy tín đồ. Các lối chữ riêng ấy, sau do hai nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, rồi sau đến cố A-lịch-sơn Đắc Lộ người Pháp tổ chức lại thành một thứ chữ thông dụng chung trong truyền giáo hội tức là thuỷ tổ của chữ quốc ngữ ngày nay”. [3]
Gần đây trong bộ lịch sử và văn hóa Việt Nam, ông Lê Thành Khôi, cho rằng việc thành lập chữ quốc ngữ đã bắt đầu chuẩn bị do các giáo sĩ người Ý, nhất là người Bồ Đào Nha, tỉ như giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa, nhưng người hoàn tất chính là giáo sĩ Đắc Lộ. [4]
Các tác giả chúng tôi vừa nêu lên, đã đồng thanh công nhận nguồn gốc chung của chữ quốc ngữ và đồng thời quyết định phần hoàn tất cho giáo sĩ Đắc Lộ. Thực ra, còn một khía cạnh của công việc mà các tác giả trên chưa đề cập tới.
Giáo sĩ dòng Tên Henri Bernard, trong bài diễn văn đọc tại Hà Nội ngày 16 tháng 11 năm 1938, đã nói về chữ quốc ngữ như sau: “Thực ra, giáo sĩ Đắc Lộ đã không sáng nghĩ ra nguyên tắc, bởi những người cộng sự của ngài truyền giáo cho những người Nhật ngụ cư tại Hội An gần Đà Nẵng đã dùng các sách viết bằng chữ Nhật phiên âm hay romaji, xuất bản từ quần đảo Nhật; tuy nhiên ngài (giáo sĩ Đắc Lộ) đã làm cho hoàn hảo và theo thiển ý tôi, đã hợp lý hóa bằng việc theo phương pháp học hỏi các cung giọng, để đạt tới sự hoàn thành một dụng cụ văn tự mà người Trung Hoa ngày nay phải thèm muốn”. [5]Hai ông Huard và Durand cũng đồng ý kiến trên và còn nói rõ tên người Nhật đầu tiên đã phiên âm tiếng Nhật người đó là Yajirô, một đồ đệ của Xaviê tòng giáo vào năm 1548. Từ đó các nhà truyền giáo đã dùng thứ chữ romaji này. Bởi vậy, hai ông đã kết luận, “từ việc phiên âm tiếng Nhật đến La Mã hóa Việt ngữ, chỉ còn có một bước”. [6] Chúng tôi đồng ý với hai ông về sáng kiến đầu tiên của Yajiro và lớp giáo sĩ truyền giáo đầu tiên tại Nhật, song chúng tôi không công nhận sự chuyển tiếp nhanh chóng và trực tiếp từ chữ quốc ngữ Nhật đến chữ Việt phiên âm. “Một bước” của hai ông có lẽ chỉ là một lối nói chữ, vì thực ra, như sau này chúng ta sẽ thấy, việc La mã hóa Hoa ngữ mà các tác giả, kể cả các tác giả người Việt cũng như người Pháp, đã không đề cập tới, phiêm âm Hoa ngữ ấy họa chăng mới có ảnh hưởng một phần nào tới việc phiên âm Việt ngữ hay thành lập chữ quốc ngữ. Còn romaji Nhật chỉ là một sự việc xa xa, chứ một bước, theo thiển ý chúng tôi, chưa thể đạt tới được.
Vậy căn cứ vào những kết luận của đa số các tác giả và dựa theo những khảo cứu sơ thiển của chúng tôi, chúng tôi chia bài này làm hai phần. Trong phần thứ nhất, chúng tôi sẽ trình bày ý tưởng: việc thành lập chữ quốc ngữ là một sự nghiệp chung của nhiều người. Chúng ta sẽ lần lượt đề cập tới những thực hiện xa như việc phiên âm Nhật ngữ và Hoa ngữ, rồi tới những thực hiện gần của những giáo sĩ tiên phong hoạt động chính trên Việt Nam đầu thế kỷ XVII. Phần thứ hai sẽ dành cho công cuộc của giáo sĩ Đắc Lộ mà các sử gia đã tặng cho danh hiệu “người hoàn thành chữ quốc ngữ”, “thủy tổ chữ quốc ngữ” vậy.
CHỮ QUỐC NGỮ: MỘT SỰ NGHIỆP CHUNG
Chúng ta biết rằng việc phiên âm là công cuộc của các giáo sĩ thừa sai đi truyền đạo tại miền Á đông. Mục đích việc phiên âm này là một mục đích thực tiễn và tôn giáo bởi vì để có thể giảng dạy cho người bản xứ, các ngài phải học tiếng của người bản xứ và để tránh học chữ nho, chữ Hán, chữ nôm phiền phức, các ngài phải dùng mẫu tự La tinh để phiên âm các tiếng đó.
Quả vậy tại Nhật, sau “tác phẩm” của Yajiro, chúng ta thấy nhà in của các giáo sĩ dòng Tên đã cho xuất bản các sách bằng chữ Nhật La mã hóa gọi là romaji. Một loại sách tôn giáo được phát hành ngay từ năm 1592, nghĩa là trước chúng ta hơn 50 năm. Trong số những sách này, người ta nhận thấy một cuốn giáo lý (Doctrina Iesus), một cuốn Tự điển La-Bồ-Nhật (Dictionarium La tinho-lusitanicum ac japonicum…) ấn hành năm 1595. Thực ra, trong thời kỳ này đang khi các giáo sĩ cho in các sách bằng romaji thì cũng xuất bản các sách bằng chữ Nhật-Hán văn, tương tự như sau này, tại Việt Nam, trong khi thành hình chữ quốc ngữ thì các sách cũng còn được biên soạn bằng chữ nôm.
Những sách thuộc lớp đầu này, đã được in trên quần đảo đất Phù tang. Nhưng hơn ba mươi năm sau, nghĩa là năm 1632, tại Thánh bộ truyền giáo La Mã, một loại sách thuộc lớp thứ hai đã được ấn hành để dùng vào việc truyền giáo tại Nhật. Đó là ba cuốn bằng chữ Nhật phiên âm của một giáo sĩ dòng Họ Đỗ hay Đaminh Didaco Collado: cuốn Phương pháp cáo tội và xét mình, cuốn Văn phạm tiếng Nhật (Ars grammaticae japonicae linguae) và cuốn Tự điển tiếng Nhật (Dictionarium sive Thesouri linguae japonicae Compendium). Thực ra, muốn cho đầy đủ, chúng ta còn phải kể nhiều loại sách khác do các giáo sĩ dòng Tên tại Nhật, hoặc các giáo sĩ dòng Họ Đỗ tại Manila (Phi luật tân) biên soạn.
Như vậy, trước khi giáo sĩ Đắc Lộ qua Việt Nam và trong khi ngài ở Việt Nam, người ta đã dùng những sách bằng chữ Nhật phiên âm. Hơn nữa không những dùng tại Nhật hoặc ở Macao mà còn dùng chính trên đất nước Việt, tỉ như tại Đà Nẵng là nơi có nhiều giáo dân Nhật Bổn di cư. Chính giáo sĩ Đắc Lộ đã được chỉ định đi truyền giáo tại Nhật, song chỉ vì hoàn cảnh mà ngài được chuyển tới Việt Nam. Chúng tôi chưa đo đượcmực thước ảnh hưởng này đối với giáo sĩ Đắc Lộ, nhưng chúng tôi thiết nghĩ rằng: bởi chữ Nhật là thứ chữ đa âm và không có các thanh riêng biệt như tiếng Trung Hoa, nên phần ảnh hưởng của romaji Nhật cũng ít. Trái lại, ảnh hưởng của chữ Tàu phiên âm mới thật là một ảnh hưởng, nếu thật nó đã ảnh hưởng đến giáo sĩ Đắc Lộ.
Thật vậy, tại Trung Hoa, công cuộc phiên âm Hoa ngữ đã được hai giáo sĩ dòng Tên tiên khởi là Ruggieri và Ricci khởi thảo vào năm 1584-1588. Đó là cuộn Tự điển đầu tiên Bồ Đào Nha-Trung Hoa, hiện nay còn bản viết tay lưu trữ tại Văn khố dòng Tên tại Roma. Người ta nhận thấy rằng trong cuốn này, các tác giả mới chỉ phiên âm thôi, chứ chưa có dấu hiệu để ghi các thanh, một yếu tố tối ư quan trọng trong thứ tiếng độc âm như Hoa ngữ. Nhưng kết quả ghi trong bộ ngữ vựng hay tự điển kể trên mới chỉ là bước đầu. Công cuộc học hỏi ở đây sẽ còn phải tiến hành thêm lên nữa. Thật vậy, trong một cuộc hành trình, giáo sĩ Ricci và Cattaneo, một người giỏi về âm nhạc, cả hai đã bắt đầu phân biệt các thanh trong Hoa ngữ và đồng thời cũng sáng chế ra những ký hiệu để ghi các thanh ấy. Để thực hành và áp dụng ngay, cũng trong năm đó, 1598, cả hai đã soạn một tập ngữ vựng đầy đủ hơn bộ tự điển nói trên. Các thanh được đại khái biên soạn như sau:
Bình thượng : gạch ngang –
Bình hạ : dấu mũ sấp â ^
Thượng thanh : dầu huyền `
Khứ thanh : dấu sắc
Nhập thanh : dấu mũ ngửa
Theo sự nhận xét của các giáo sư d’Elia, thì hai tác giả đã mượn giọng mềm và giọng cứng (esprit doux, esprit rude) của tiếng Hy Lạp mà áp dụng vào tiếng Trung Hoa, tiếng này cũng có giọng mềm và giọng cứng như vậy.
Phát giác được các thanh và sáng chế những ký hiệu ghi các thanh đó là năm 1598, thì năm 1605 hoặc 1606, giáo sĩ Ricci cho phát hành tại Bắc Kinh một cuốn giáo lý vắn tắt bằng hình ảnh. Trong cuốn này, bên cạnh chữ Hán, có ghi theo cách đọc viết theo tự mẫu La tinh với đầy đủ các thanh. Hơn nữa, về các âm, nếu trong Tự điển đã được soạn theo cách phát âm tiếng Ý, thì ở đây lại theo tiếng Bồ Đào Nha. Điểm này sẽ giúp chúng ta hiểu những giai đoạn thành lập chữ quốc ngữ sau này, bởi vì có giáo sĩ người Ý đã phiên âm theo lối Ý ngữ, trước khi có sự ấn định theo cách thức phát âm theo Bồ ngữ, là thứ chữ thông dụng trong thời chúng ta đang tìm hiểu, tương tự như tiếng Pháp hoặc tiếng Anh ngày nay.
Một khi sáng chế ra cách ghi chép các âm và các thanh trong một ngôn ngữ như Hoa ngữ, thì công cuộc La tinh hóa kể là đã hình thành. Bởi vậy, năm 1626, một giáo sĩ dòng Tên người Pháp là Trigault đã cho phát hành bộ sách vĩ đại nghiên cứu tường tận và một cách khoa học về lối phiên âm Hoa ngữ đã bắt đầu thành với Cattaneo và Ricci: đó là bộ Âm vận kinh toàn thư gồm 699 tờ giấy nhỏ hai mặt, khổ 16*26. Một cảm giác gần như sự sửng sốt đã xâm chiếm các nho gia thời đó, bởi vì một người Âu đã gia công nghiên cứu các âm vận Hoa ngữ một cách rõ rệt và tỉ mỉ. Tác giả đã xếp các chữ Hán không phải theo bộ hay theo nét trong chính chữ nho, song ngài đã xếp chữ Hán chiếu theo tự mẫu phát âm La tinh. Do đó ngoài việc kê cứu theo các tiếng đồng âm gọi là “đồng minh tự phụ”, và nguyên âm gọi là “tự minh nguyên mẫu”, tác giả còn phân biệt hai giọng đọc mềm và cứng. Giáo sĩ cũng theo Cattaneo và Ricci trong việc ghi các thanh. Như trên chúng tôi đã nói, theo Ricci thì các thanh đó là:
Bình thượng : gạch ngang –
Bình hạ : dấu mũ sấp â ^
Thượng thanh : dầu huyền `
Khứ thanh : dấu sắc
Nhập thanh : dấu mũ ngửa
Còn theo Trigault thì cũng có một lối tương tự:
Thanh thanh : gạch ngang –
Trọc thanh : dấu mũ sấp â ^
Thượng thanh : dầu huyền `
Khứ thanh : dấu sắc
Nhập thanh : dấu mũ ngửa
Riêng về hai chữ nguyên âm O và U, chúng ta thấy có nhiều ký hiệu đặc biệt, kiểu như O, Ơ, Ô và U, Ư của Việt ngữ.
Bộ Âm vận kinh này sau năm năm đã tái bản tại Trung Hoa. Như vậy, đủ tỏ sự thành công và phổ cập của nó, ít ra trong các giáo đoàn và nhất là đoàn thể giáo sĩ thừa sai truyền đạo.
Xét về ảnh hưởng của những công cuộc phiên âm Hoa ngữ này đối với giáo sĩ Đắc Lộ, chúng tôi chưa dám quả quyết cách tích cực, song chúng tôi có thể nói: một sự nghiệp quan trọng cho việc truyền giáo tại Trung Hoa như việc phiên âm Hoa ngữ này không thể không gây ảnh hưởng và không thể không góp vào những công việc tương tự, tỉ như việc phiên âm Việt ngữ. Những giáo sĩ, trước khi sang Việt Nam, đã ở lại Ao Môn và đây là giao điểm gặp gỡ không những giữa các nhân vật, mà còn là nơi chung đúc các sáng kiến. Cho nên về vấn đề này, chúng tôi có thể kết luận như sau.
Nói chung, thì công việc thành lập chữ quốc ngữ đã nằm trong vị trí chung của thời đại do ý tưởng chung của một số người. Những người này gồm các giáo sĩ đi truyền đạo tại Nhật và Trung Hoa. Các ngài đã góp sức phiên âm các tiếng bổn xứ ngõ hầu xúc tiến việc truyền giáo một cách đắc lực hơn.
Riêng về Hoa ngữ phiên âm chúng tôi thấy có một bước tiến quyết liệt hơn, đó là việc sáng chế ra các ký hiệu để ghi các thanh. Tiếng Việt là một thứ tiếng có các thanh tương tự như tiếng Trung Hoa. Hơn nữa Việt ngữ có đến sáu thanh, chứ không phải năm thanh như trên chúng ta đã thấy. Bởi đó, một khi người ta đã tìm ra những dấu riêng biệt để chỉ các thanh, thì trong Việt ngữ sự thực hiện cũng sẽ không xa. Nói vậy, chúng ta không hề thấy một thứ “tự ti mặc cảm”, song là một sự thực lịch sử, và thực ra giữa hai dân tộc cũng như giữa hai văn hóa, vẫn có nhiều liên lạc mật thiết. Hơn nữa, ở đây, chúng tôi mới chỉ nhận thấy những sự kiện, còn về ảnh hưởng thì chúng tôi chưa quyết định.
Sau khi đã đặt vấn đề thành lập chữ quốc ngữ vào khung cảnh chung, vào vị trí của nó, chúng ta hãy rảo qua căn phòng triển lãm các hình thức thô sơ của chữ quốc ngữ để vừa thưởng thức những sáng kiến vừa nhận xét những biến chuyển từ những giai đoạn sơ khởi cho tới giai đoạn kể là hoàn thành. Khi chúng ta thấy một chiếc xe hơi nhãn hiệu Hoa Kỳ ngạo mạn lướt trên các đường phố Sài Gòn bên cạnh một chiếc xe hơi khác nhãn hiệu Pháp quốc song mã lạch bạch nhún mình cũng trên những con đường phố đó; chúng ta thầm khen kỹ thuật ngày nay! Song nếu chúng ta được biết lịch sử những xe hơi đó, hoặc lai lịch những xe tự động “automobile” nói chung, thì chúng ta sẽ thấy: để đi tới giai đoạn hiện tại tinh xảo, tiện nghi, lịch sự, đã phải trải qua thời kỳ phôi thai, thô sơ và thiếu sót. Chữ quốc ngữ cũng vậy, khi chúng ta đọc câu ca dao:
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây;
Hoặc mấy câu Kiều:
Mai sau, dầu có bao giờ… Đốt lư hương ấy…
Hoặc khi con em chúng ta học vần quốc ngữ: bê a ba, bê a ba huyền bà, bê a ba sắc bá, bê a ba hỏi bả, bê a ba ngã bã, bê a ba nặng bạ, thì chúng ta đừng tưởng, thoạt kỳ thuỷ những vần chữ kia đã có đủ các ký hiệu để ghi âm thanh như vậy. Bởi vì đã có một thời kỳ, người ta chưa sáng chế ra năm dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, cũng như người ta chưa phân biệt nhiều âm vận khác nhau. Nhưng đấy là điều chúng tôi đem trình bày ở đây.
Các người ngoại quốc, và nhất là các giáo sĩ truyền giáo đặt chân đến nước ta vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, các ngài đã phải dùng đến tự mẫu La tinh a b c để ghi chép các danh hiệu thuộc về nơi, về người của xứ ta. Để học tiếng nước ta các ngài cũng đã dùng chữ La tinh để ghi chép. Nhưng trong những buổi đầu, chỉ là công việc của cá nhân và để tiện dùng riêng cho cá nhân. Nếu là người Ý thì phiên âm theo tiếng Ý, là người Tây Ban Nha thì theo tiếng Tây Ban Nha, là người Bồ Đào Nha thì theo tiếng Bồ Đào Nha… Có thể nói là chưa có một tôn chỉ chung, chưa theo một đường lối thống nhất với những quy luật xác đáng.
Tài liệu cổ nhất mà chúng ta có thể kê cứu được, đó là mấy dòng chữ quốc ngữ cổ rải rác trong cuốn Tường trình về giáo khu miền Nam của giáo sĩ Christoforo Borri, người Ý, viết bằng tiếng Ý và xuất bản tại Ý năm 1631. [7]
Trong tài liệu này, chúng ta nhận thấy mấy điểm sau:
1. Chưa có ký hiệu để ghi các thanh, nghĩa là chưa có năm dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, tỉ như lụt thì viết “lut”, cỏ thì viết “co”.
2. Chưa có phân biệt a với ă, o với ô, u vơi ư, e với ê, tỉ như mặn thì viết “man”, muốn thì viết “muon”, nước thì viết là “nuoec”, biết thì viết là “biet”.[8]
3. Bởi viết ở miền Nam và giáo sĩ cũng lưu tại miền Nam, nên nhiều chữ có màu sắc địa phương rõ rệt, tỉ như nhân hay nhơn thì viết là “gnin”, tôi thì viết là “tui”…
4. Bởi vì Borri là người Ý, nên cách phiên âm có khuynh hướng ngã về tiếng Ý, do đó:
NH đã được viết là GN, tỉ như gnin thay vì nhin, gnoo thay vì nho; X đã được viết là SC, tỉ như scin thay vì xin; CH đã được viết là C, tỉ như ciam thay vì chăng.
Ngoài ra còn nhiều dị điểm chúng tôi không thể bàn giải cặn kẽ ở đây.
Một tài liệu thứ hai cho phép chúng ta biết về tình trạng chữ quốc ngữ trước 1651, đó là tài liệu viết tay vào năm 1645, nghĩa là sáu năm trước khi xuất bản những bộ sách của giáo sĩ Đắc Lộ.[9]
Theo văn kiện này, thì ngoài công thức “Tau rủa mâi nhân danh Cha và Con và Spirito Santo” còn có ghi nhiều câu tiếng Việt phiên âm tỉ như “blai có ba hồn bảy vía”, “Chúa blờij ba ngôy”, “nhin danh Cha…” Bằng vào những lối viết này, chúng ta nhận thấy rằng:
1. Trái với văn kiện chữ in của Christoforo Borri ở trên, cách phiên âm ở đây theo tiếng Bồ Đào Nha, chứ không theo tiếng Ý, tỉ như nhân viết với NH chứ không phải với GN.
2. Đã có các ký hiệu rõ rệt để ghi các thanh, chứ không như trong Borri: các dấu sắc, huyền, hỏi, nặng, được ghi rành mạch, những chữ ê, ô, ơ cũng vậy.
3. Một số âm khác tương tự như trong các tác phẩm sau này của giáo sĩ Đắc Lộ, tỉ như blờij (lời hay trời), ngôy (ngôi), tau (tao); đặc biệt chữ y cuối cùng lại thêm hai dấu chấm .. ở trên, như lấÿ (lấy), bảÿ (bảy).
Vậy dựa vào những tài liệu rất hiếm mà chúng tôi đã có thể kết luận về giai đoạn trước 1651 rằng:
a. Vào năm 1631 chữ quốc ngữ đem in tại Ý còn trong giai đoạn phôi thai, nghĩa là chưa có các dấu hiệu để ghi các thanh.
Sự kiện này không làm chúng tôi bỡ ngỡ, trái lại gần như một sự việc hiển nhiên, khi chúng ta so sánh với tình trạng chữ Trung Hoa phiên âm nguyên thuỷ: trong một thời gian, người ta chưa khám phá ra những ký hiệu để ghi các thanh, trừ trường hợp chưa kịp đúc các dấu, như chúng tôi dự đoán ở trên. Hơn nữa, cũng trong giai đoạn phôi thai này, chưa có quy luật nhất định, mỗi người theo phương pháp riêng của mình mà phiên âm, bởi đó nếu giáo sĩ Borri đã theo tiếng Ý mà phiên âm thì cũng rất có thể có những giáo sĩ khác phiên âm Việt ngữ theo tiếng mẹ đẻ của mình; tại Trung Hoa cũng đã xảy ra sự kiện đó: giáo sĩ Ricci đã phiên âm Hoa ngữ trước hết theo cách đọc của người Ý và chỉ sau này mới theo cách đọc của người Bồ Đào Nha.
b. Vào năm 1645, nếu thực ra văn kiện này được chép vào thời gian đó, chữ quốc ngữ đã kể là thành hình, tương tự như trong các tác phẩm của giáo sĩ Đắc Lộ năm 1651. Như thế có nghĩa là chữ quốc ngữ đã có các dấu để ghi các thanh, như trên chúng tôi đã trình bày. Hơn nữa, cách phiên âm ngã hẳn về cách đọc của tiếng Bồ Đào Nha. Sau cùng trong tài liệu này cũng đã có những âm mà chúng ta chưa gặp thấy trong Borri (1631) như ô, ê, ơ, á… Chữ Đ hẳn cũng đã có bởi vì văn kiện dùng chữ D trong giọng mềm như danh chẳng thì dĩ nhiên phải có một chữ khác, khác với D để chỉ Đ. Và đây chúng ta bước sang giai đoạn chính thức thành lập chữ quốc ngữ với giáo sĩ Đắc Lộ.
CHỮ QUỐC NGỮ: SỰ NGHIỆP RIÊNG CỦA GIÁO SĨ ĐẮC LỘ
Sau khi chúng ta đã đặt sự kiện thành lập chữ quốc ngữ vào khung cảnh chung của thời đại, sau khi đã chứng kiến một vài giai đoạn trong công cuộc đó, bây giờ chúng ta đề cập trực tiếp đến chính nhân vật đã có công hoàn tất chữ quốc ngữ: đó là giáo sĩ Đắc Lộ. Cũng như trong phần trên, chúng tôi sẽ nói đến sự sửa soạn xa và gần để rồi bàn giải về sự nghiệp văn hóa hay thành lập chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ.
Sửa soạn xa
Đọc tiểu sử giáo sĩ Đắc Lộ, người ta có cảm tưởng này, là ngài hình như đã được ý chí quan phòng chỉ định để hoàn thành công cuộc phiên âm Việt ngữ. Quả vậy, người ta thấy ngài vừa hấp thụ được một nền học vấn nhân bản chắc chắn và rộng rãi, vừa có khiếu học các sinh ngữ, nhất là Việt ngữ.
Tháng 10 năm 1619, giáo sĩ trẻ tuổi Đắc Lộ đặt chân lên miền thuộc Ấn Độ. Lúc đó ngài thông thạo ba tử ngữ và ba sinh ngữ. Tạm gọi là ba tử ngữ, nhưng thực ra hãy nói là ba ngôn ngữ cổ: đó là tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp và tiếng La tinh. Nguyên trong chương nhất cuốn Văn phạm của ngài, khi bàn về các phép các âm vận, giáo sĩ Đắc Lộ đã so sánh tiếng Việt với tiếng Do Thái hai lần, với tiếng Hy Lạp mười một lần và với tiếng La tinh năm lần. Về sinh ngữ, giáo sĩ thông thạo tiếng Pháp, sau đến tiếng Ý là tiếng nói trong thủ đô Giáo hội La Mã và cuối cùng là tiếng Bồ Đào Nha, tiếng thông dụng trong toàn đế quốc thuộc Bồ Đào Nha. Bởi vậy cũng trong chương nhất cuốn Văn phạm Việt ngữ, ngài đã nhắc đến những ngôn ngữ đó, nhất là tiếng Bồ và tiếng Ý. Người ta nhận thấy rằng tuy tiếng Pháp có thể gọi là tiếng mẹ đẻ của ngài [10], song trong công cuộc truyền giáo ngài ít có dịp dùng tới: các văn từ, đơn khế thường được thảo hoặc bằng tiếng La tinh hay tiếng Ý, đa số bằng tiếng Bồ Đào Nha.
Sau những tiếng cổ kim Âu châu, chúng ta còn thấy ngài học các ngôn ngữ miền Á đông. Thật vậy, vừa cập bến Ấn Độ ở Goa, năm đó ngài bắt đầu học tiếng bổn xứ ngay. Theo ngài, thì trong ba tháng lưu tại đó, ngài đã nói được tiếng canarin, cách dễ dàng đến nỗi ngài có thể giảng dạy và giao thiệp với người bổn xứ. [11]
Khi ngài tới Áo Môn, giao điểm và trung tâm truyền giáo của các xứ miền Đông Nam Á châu, năm 1623, ngài bắt đầu tiếp xúc với thứ tiếng hay thứ chữ biểu ý và tượng hình là chữ Hán. Ban đầu, bởi ngài được chỉ định đi hoạt động tại Nhật Bổn, nên ngài đã bắt đầu học tiếng Nhật. Chúng ta lấy làm lạ thấy rằng trong các tác phẩm, ngài không hề nói đến những thứ chữ Hán hay chữ Nhật phiên âm. Ngài chỉ tỏ ra thất vọng trước những sự phiền phức của những từ ngữ đó. Theo ngài thì ngài không sao học được 80.000 chữ Nho, bởi vì mỗi chữ đều chỉ một sự vật hay một ý. Cho nên, ít ra phải chuyên môn học bốn hay năm năm mới trông có thể sử dụng được đôi chút.
Giáo sĩ Đắc Lộ tỏ ra như không thông thạo chữ Hán, chữ Nhật và chữ nôm điều đó sau này có lẽ chỉ đưa lại ích lợi cho chúng ta. Bởi lý do là ngài sẽ nỗ lực phiên âm để dễ bề học hỏi một thứ tiếng tương tự như chữ Hán, nếu không là phiền phức hơn, thứ chữ mà chúng ta gọi là chữ nôm, một thứ chữ vừa theo nguyên tắc tượng hình, vừa theo nguyên tắc phiên âm. [12]
Mặc dầu giáo sĩ có lẽ không viết được Hán tự, song ngài có thể tạm nói được tiếng Trung Hoa (và có lẽ cả tiếng Nhật). Tắt một lời, trong cuốn Văn phạm chúng tôi kể ở trên, ngài đã có lần so sánh các âm vận Nhật ngữ và Hoa ngữ với Việt ngữ.
Với tiếng Việt này, hình như ngài đã sinh ra để học nói và học viết. Quả vậy, khi ngài vừa bước xuống đất liền ở cửa Thuận Hóa, cảm tưởng đầu tiên của ngài đối với tiếng Việt, là một cảm tưởng đẹp đẽ. Ngài viết:
“Vừa tới miền Nam và nghe người bản xứ nói với nhau, nhất là phụ nữ, thì tôi tưởng như được nghe chim líu lo hót, đồng thời tôi tưởng không bao giờ có thể học được thứ tiếng đó”. [13]
Nói vậy, song ngài đã học được một cách nhanh chóng và dễ dàng. Sau bốn tháng trời chăm chú như chăm chú sôi kinh nấu sử khi xưa tại La Mã, ngài đã có thể giao thiệp với người bổn xứ, và sáu tháng sau ngài đã bắt đầu giảng dạy.
Trong việc học tiếng Việt này, ngài đã có một ông thầy và một gương mẫu, đó là giáo sĩ Francesco de Pina, người Bồ Đào Nha tới miền Nam từ mấy năm trước, một người rất thông thạo tiếng Việt mà giáo sĩ Đắc Lộ đã chịu sự dìu dắt cũng như sau này hằng ca tụng và tỏ ra biết ơn.
Sửa soạn gần
Khi nói đến việc học Việt ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ, chúng ta đã đề cập tới chính đề tài. Song một công cuộc sửa soạn gần hơn nữa sẽ cho chúng ta hiểu và theo dõi việc thành lập chữ quốc ngữ.
Sau hai năm trời ở miền Nam, giáo sĩ đã được gọi lên miền Bắc để làm việc truyền giáo. Và đây là một giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp tôn giáo và văn hóa của ngài. Thật vậy, tại đây, với những kiến thức và ngôn ngữ đã thâu lượm được, ngài xúc tiến mọi hoạt động. Về tôn giáo, có lẽ trong thời kỳ này đã thành hình sách Phép giảng tám ngày… Về mặt Việt ngữ phiên âm, ngài có dịp so sánh các giọng nói, nghĩa là ngài biết thêm cách phát âm của người xứ Bắc, để bổ túc cho những học hỏi tại miền Nam.
Trong thời kỳ này, giáo sĩ Đắc Lộ đã nhận được sự cộng tác của nhiều người Việt hay các thầy giảng. Những vị này thường chép lại bằng chữ nôm những lời giảng dạy hoặc các lời kinh ngài đọc cho. Cũng có mấy người tự mình hoặc thảo ra những bài thơ bình dân kể lại sự tích thánh hay giáo lý, hoặc làm thơ chỉ trích những thói hư nết xấu của người đời. Ngài cũng soạn một ít sách tôn giáo và cho đọc trong các giáo đoàn.
Cho tới năm 1630, nghĩa là chỉ sau ba năm ở đất Bắc, người ta thấy ngài trở về Ao Môn giữ chức giáo sư thần học. Đây cũng là giai đoạn may mắn cho ngài, bởi ngài được trút bỏ những nhiệm vụ truyền giáo để gần gũi với sách vở. Cho nên có thể nói được rằng trong mười năm trời tại đây (1630-1640), ngài đã có thời giờ để nghiên cứu thêm về chữ quốc ngữ hay Việt ngữ phiên âm mà ngài đã học hỏi và thực hành. Chúng tôi rất tiếc bởi không thể tìm thấy những bản viết tay để có thể quả quyết được một phần nào về thời gian sáng tác hay hoàn tất các tác phẩm bằng chữ quốc ngữ. Dẫu sao, theo lý luận, thì không thể đặt việc soạn các sách trên vào sau thời kỳ này.
GIÁO SĨ ĐẮC LỘ VỚI CHỮ QUỐC NGỮ
Cho tới đây, chúng tôi đã sửa soạn đường lối để đột nhập vào một đền đài lộng lẫy là chữ quốc ngữ đã được in thành sách năm 1651 có ký tên tác giả là giáo sĩ Đắc Lộ. Song, tới ngưỡng cửa lâu đài này, chúng tôi lại cảm thấy lưỡng lự chưa muốn vào. Tại sao có sự do dự này? Tất cả những sửa soạn xa gần trên kia chẳng phải là để tìm hiểu chính sự việc đó ư? Nhưng tại sao chúng tôi còn ngập ngừng?
Thật vậy, chúng tôi phải thú nhận rằng: việc khảo cứu tường tận công cuộc thành lập chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ không phải là việc dễ. Cho tới nay, tuy đã có nhiều tác giả để tâm suy tầm, song mới chỉ đưa ra những kết luận nếu không quá vội vã thì cũng là quá tổng quát. Không phải chỉ đọc một vài trang của cuốn Phép giảng tám ngày… hoặc một vài tờ của cuốn Tự điển Việt-Bồ-La hay mấy dòng của cuốn Văn phạm mà đã có thể kết luận được. Cũng vậy, sau khi đã đọc kỹ toàn thể các tác phẩm của Đắc Lộ, nếu chưa có một vài bản văn in hay viết tay khác hoặc trước hoặc đồng thời, thì sự nhận xét về chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ vị tất đã hoàn hảo. Bởi vậy trong khi chờ đợi một công cuộc đầy đủ và sâu rộng hơn, chúng tôi xin đưa ra mấy ý tưởng chủ chốt như sau:
Trước hết Phép giảng tám ngày là sách song ngữ, chia làm hai cột đối chiếu, một cột là tiếng La tinh, một cột là Việt phiên âm. Như phụ đề của sách, Phép giảng tám ngày là sách giáo lý đạo Giatô, một thứ sách tóm tắt những điều mà mỗi người phải học biết và tin theo để được chịu phép Thánh tẩy, hay nghi thức gia nhập đạo.
Sách tuy in lần đầu tiên tại Roma, sau năm 1651, song rất có thể nó đã được biên soạn hay khởi thảo từ những năm 1627-1629. Nhưng đây cũng chỉ là những ức thuyết. Chính tác giả cũng không cho ta biết them gì. Chỉ phỏng đoán rằng: trong khi giáo sĩ truyền giáo tại miền Nam hay xứ Bắc, hẳn ngài đã phải có một bản thảo viết tay hoặc bằng tiếng La tinh hoặc bằng thứ Việt ngữ phiên âm, hay cả hai.
Riêng về chữ quốc ngữ dùng trong sách này có nhiều sự khác biệt với chữ quốc ngữ của chúng ta ngày nay. Nhưng chúng tôi phải nói ngay rằng, ngoài một vài sự biệt dị nhỏ mọn, còn thì chúng ta phải cắt nghĩa những điểm dị biệt khác không phải chỉ có sự bất toàn hay lúng túng, nhưng hoặc bằng những cách phát âm khác nhau của một miền, một địa phương, hoặc bằng những lề lối cổ.
Đây là một điểm quan trọng chúng ta phải lưu ý nhất là khi phán đoán về những tác phẩm cổ như những sách quốc âm của Đắc Lộ. Vị này đã đặt chân trước hết lên trên đất Quảng Nam. Mà như chúng ta đã biết, giọng Quảng Nam là giọng đặc biệt, tỉ như người miền đó không đọc Quảng Nam, mà lại đọc là Quảng Nôm, ăn cơm thì đọc tương tự như eng côm. Một tỉ dụ khác chúng tôi đưa ra đây để dẫn chứng sự phát âm khác biệt của địa phương, và để giải trí đôi chút.
Tại vùng Quảng Nam, có một linh mục tới hoạt động truyền giáo. Linh mục này chắc chắn không thuộc về địa phương. Một hôm, có viên quý chức đến gặp linh mục để tỏ thịnh tình và hình như ước muốn tòng giáo, nhưng, theo lời viên chức đó, thì ông không thể nhập đạo được “bởi vì – nguyên văn ông nói – ông có nhiều bò”. Vị linh mục hết đỗi ngạc nhiên, bởi vì đạo không hề phân biệt giai cấp, địa vị, giàu nghèo, cho nên việc có nhiều bò không thể là một cản trở được: có nhiều bò như ông chỉ tỏ ra là ông thuộc vào bậc giàu có. Song sau khi nghe giải thích, linh mục mới hiểu: chữ mà ông đã đọc là chữ bò, bởi thế có nhiều bò, có nghĩa là có bà nhớn, bà nhỏ, bà hai, bà ba…
Cho nên, khi chúng ta thấy trong Phép giảng tám ngày có những chữ như:
Nhín, nhít, rứt (Bắc: nhân, nhất, rất; Nam: nhơn, nhứt, rất), hoặc – hăọc, nhăọc, bàng, mạt.. hoặc – bậy, bà bua, bợ… hay – blời (trời, lời, giời), blai (trai, lai, giai); hoặc – mlẽ (lẽ, nhẽ), mlớn (lớn, nhớn), mlời (lời, nhời); hoặc- tlước (trước), tlộm (trộm), tlâu (trâu)… Và nhiều âm giọng tương tự, thì một phần nào, chúng ta phải cho việc phiên âm không phải chỉ có sự do dự, thiếu sót, song còn do cách phát âm của địa phương đó, của thời đại đó.
Thực ra, những sự khác biệt này đã được đính chính hay bổ túc trong hai tác phẩm khác: Tự điển và Văn phạm, bởi vì trong cuốn Phép giảng tám ngày, tác giả như bó buộc chỉ được sử dụng một lối viết, trái lại trong Tự điển và Văn phạm, tác giả có thể ghi nhiều cách phát âm khác nhau, như chúng ta sẽ thấy sau.
Quả vậy, trong Tự điển của Đắc Lộ khi mở vào trang có chữ ngọc thì tác giả nói: hãy coi chữ ngăọc, mở chữ thóc, tác giả nói: hãy coi chữ thăóc… Cũng vậy, nhiều âm ê trong đếy, ếy, đết… đã được đổi thành đấy, ấy, đất…
Riêng về âm ghép BL, trong blời, blai, blả thì vẫn còn y nguyên. Trái lại ML đã được đổi thành L hay NH như mlạt (nhạt), mlẽ (nhẽ), mlỡ (lỡ) mlầm (nhầm, lầm)… Âm ghép TL cũng được đính chính hay bổ túc và được viết là TR (Tự điển, từ cột 801 đến cột 839), nghĩa là trên gần 40 cột, người ta đã thấy TL thành TR như ngày nay.
Như vậy, ức thuyết của chúng tôi, khi nói rằng Đắc Lộ đã ghi các âm vận Việt ngữ theo một địa phương, hoặc theo một thời đại, là một ức thuyết có căn bản. Căn bản này, chúng tôi sẽ khai thác trong tác phẩm thứ ba của Đắc Lộ, đó là quyển Văn phạm Việt ngữ cũng của giáo sĩ Đắc Lộ.
Quả vậy, trong chương nhất, khi nói về âm vận Việt ngữ theo mẫu tự La tinh, tác giả đã hơn một lần bàn đến sự phát âm khác nhau tuỳ địa phương của một vài từ ngữ. Như trong mục nói về chữ L, ngài viết:
“Người Bắc còn đọc chữ L dính liền với mấy phụ âm khác nhau nhu BLẢ (giả hay trả hay lả); lại có một vài miền hay làng đọc chữ T thay vì chữ B như TLẢ (trả hay lả hay giả); người ta còn thêm vào sau M như MLẼ (lẽ); đôi khi song kể là hiếm, sau P như PLĂN (lăn), kẻ khác chỉ đọc có LĂN mà không thêm P; trường hợp gặp nhiều hơn cả đó là thêm T vào L như TLẢ (giả, trả, lả), TLE (tre)”. [14]
Như vậy, việc phiên âm của giáo sĩ Đắc Lộ không phải ở trong giai đoạn ngập ngừng, nhưng chính là do sự cẩn thận và khảo sát tường tận của một học giả. Cũng vậy, khi bàn về chữ R, ngài viết:
“R còn dùng dính sau chữ T, song trong trường hợp này R không còn phải là R nữa, song đọc chung với T một cách khác, đầu lưỡi dính vào khẩu cái làm một chút tiếng, như TRẢ; người ta hay lẫn TR với TL”. [15]
Với hai thí dụ trên đây, chúng ta không thể chối bỏ sự hiểu biết rành mạch của tác giả, mặc dầu trong quyển Phép giảng ngài đã buộc lòng phải chọn một giải pháp độc nhất vì thực dụng.
Vậy ngoài sự hiểu biết và ghi nhận tường tận những cách phát âm khác nhau của nhiều địa phương, mà chúng tôi vừa trình bày, để phán đoán về sự nghiệp văn hóa của Đắc Lộ trong việc thành lập chữ quốc ngữ, chúng ta còn phải chú trọng đến mấy điểm sau này.
Thứ nhất, cũng trong chương nhất quyển Văn phạm, chúng ta biết thêm rằng: trong khi làm công cuộc ghi chép các âm vận Việt ngữ, nhiều lần tác giả theo lề lối đã thông dụng trong các sách. Thật vậy, khi bàn về chữ F và chữ PH, sau khi đã nói lên lý do chọn PH thay vì F, tác giả thêm một lẽ nữa đó là sự thông dụng trong các văn thư. Ngài viết:
“Ở trong tự điển, chúng tôi không dùng chữ F mà sẽ chỉ dùng chữ PH, vì các sách đã chép đều quen dùng như vậy”. [16]
Một lần nữa, khi giáo sĩ Đắc Lộ đề cập tới chữ G và khi nói riêng về những vần ghép GIA, GIU, GIƠ, GIƯ đọc như tiếng Ý (theo ngài thôi, thực ra không thể đọc như tiếng Ý được), ngài viết:
“In libris jam scriptis ita usu invaluit… Như thế vừa tiện lợi hơn vừa hợp với thói quen đã dùng trong các sách”.
Mà các sách đây là gì? Nếu không là những bản chép tay như mấy văn kiện hiếm hoi đã thất lạc, hoặc chúng tôi đã phân tích ở trên, hay bộ tự điển Việt –Bồ của Gaspar d’Amaral và Bồ-Việt của Antonio Barbosa hiện nay không còn, song Đắc Lộ đã nhắc tới trong bài tựa của bộ Việt-Bồ-La?
Nhưng thực ra giáo sĩ không phải chỉ bảo tồn những thói quen đã có, như trên chúng ta đã thấy, ngài còn sửa chữa những tập quán không thiết yếu trong việc phiên âm Việt ngữ.
Thật vậy, cũng trong chương nhất quyển Văn phạm khi ngài bàn giải về chữ I, ngài chủ trương bỏ hẳn ký hiệu hai chấm đặt trên chữ I, tỉ như mầy thì viết là mầð, lấy thì viết là lấÿ, cũng như khi nói về chữ U và riêng khi nói về chữ ghép ÂU, AO, ngài đề nghị bỏ ký hiệu hai chậm đặt trên U hay O, như thói quen vẫn có. Lý do ngài đưa ra đó là để tránh sự phiền phức về các dấu đã khá phức tạp trong Việt ngữ phiên âm, và cũng là các cách làm rối công việc.
“ad vitandam signorum multiplicitatem… Ne multiplicentur signa quae pariant confusionem”.
Điểm này phù hợp với một văn kiện mà chúng tôi đã đề cập tới ở trên, khi phân tích và học hỏi về công thức Việt ngữ phiên âm vào năm 1645, trong văn kiện ấy, người ta thấy viết hai câu này với dấu hai chấm trên chữ U, chữ I và chữ Y.
“Tẵ rửa mầð… Tẵ lấÿ tên…”
Trong một bản viết tay khác vào thời kỳ này, gồm có một bên là chữ nôm, một bên là chữ quốc ngữ, người ta thấy viết chữ vậy với I hhai chấm vậĩ. [17]
Ông Hoàng Xuân Hãn cũng đã phát giác một tài liệu viết tay năm 1659, trong đó “âm Y đứng sau chữ âm khác hầu hết đổi sang ð, ví dụ vậy thì viết vậð…” [18]
Điểm sau cùng chúng tôi muốn đem bàn giải ở đây là một điểm bao quát tất cả công cuộc nghiên cứu chữ quốc âm: giáo sĩ đã biết tận dụng hết các lợi khí có trong nhiều thứ tiếng cổ cũng như kim tại Âu châu, chứ không phải riêng một thứ chữ độc quyền nào.
Thật vậy, khi đọc kỹ quyển Văn phạm của giáo sĩ Đắc Lộ, người ta thấy tác giả, trong khi nghiên cứu âm vận Việt ngữ, đã không bị ám ảnh bởi một hình ảnh độc tôn nào. Với tinh thần phổ quát, với sự hiểu biết nhiều ngôn ngữ cổ kim, có thể nói ngài là con người quốc tế. Như trên, chúng tôi đã nói ngài biết tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp, tiếng La tinh, ngài còn biết tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Bồ Đào Nha. Bởi thế, với ý chí đi tìm sự thật và sự ích lợi cho người Việt Nam, ngài đã đem tất cả những kiến thức về các ngôn ngữ ấy để tìm ra cách ghi âm vận cho tường tận, xác đáng, tỉ như:
Q thì đọc như tiếng La tinh trong QUA hay QUI.
X thì đọc như tiếng Bồ, hoặc như Sc của tiếng Ý.
R không đọc cuồn cuộn như tiếng Bồ, song đơn như tiếng Ý.
PH đọc như chữ PHI trong tiếng Hy Lạp.
U đọc như tiếng La tinh.
B đọc như chữ Bêta Hy Lạp, nhất là như chữ Beth Do Thái.
NG đọc như Ngaðn của tiếng Do Thái…
Dấu sắc, huyền, ngã lấy trong dấu sắc, huyền, ngã Hy Lạp, dấu nặng lấy ở chữ iota dưới, còn dấu hỏi thì lấy ở chấm hỏi La tinh. Riêng về Pháp ngữ chúng tôi không thấy tác giả đề cập tới một cách tỏ tường, mà thực ra, âm vận Việt ngữ thích hợp với âm vận La ngữ và mấy tiếng trực thuộc La ngữ như Ý, Bồ hơn là Pháp, trừ trường hợp chúng tôi đã trích ở trên về chữ sang.
Bởi thế, theo thiển ý chúng tôi, thì đây là một trong lý do chính làm cho công cuộc phiên âm của giáo sĩ Đắc Lộ [19] đạt tới kết quả và là kết quả bền bỉ, bất chấp cả thời gian. Tác giả không trói buộc mình vào một hệ thống nào riêng biệt, một ngôn ngữ nào độc tôn, trái lại căn cứ vào cách phát âm đặc biệt của Việt ngữ, ngài đã tìm trong hết các ngôn ngữ mà ngài được biết ngõ hầu ghi cho xác đáng. Nếu tiếng này không phù hợp thì ngài dùng đến tiếng kia, nếu âm vận ngôn ngữ này xem ra phiền toái, thì ngài không ngần ngại cầu cứu đến ngôn ngữ khác, mặc dầu ngôn ngữ ấy không phải ngôn ngữ riêng của ngài, tiếng mẹ đẻ của ngài. Quả thật, con người quốc tế, tinh thần quốc tế của ngài đã giúp ngài rất nhiều và vì thế công cuộc đã thành tựu và như trên chúng tôi đã nói, sẽ thành tựu lâu bền.
Để kết luận, trước hết chúng tôi phải thú thực rằng việc nghiên cứu về chữ quốc ngữ trong các tác phẩm của giáo sĩ Đắc Lộ mới còn trong thời kỳ phôi thai. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã nhận ra mấy điểm chủ chốt sẽ quy hướng mọi công cuộc tìm tòi sau này, và đó cũng là điều cho chúng ta xem thấy rõ những thiếu sót hay sai lầm thường gặp trong mấy sách giáo khoa hoặc khảo cứu vội vàng về chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ. Vậy căn cứ vào những tài liệu viết tay cũng như sách in kể ở trên, chúng ta có thể biết về việc thành lập chữ quốc ngữ những chi tiết sau đây:
1. Sự thành hình Việt ngữ phiên âm đã nằm trong một tình trạng chung, đó là chí hướng phiên âm các tiếng tượng hình tại Á châu vào thế kỷ XVI-XVII. Thực ra, người ta đã thấy công cuộc ấy được thực hiện trong Nhật ngữ và Hoa ngữ. Riêng về Hoa ngữ phiên âm, trước chúng ta gần nửa thế kỷ, người ta đã sáng chế ra các ký hiệu để ghi các thanh.
2. Không kể công cuộc dùng mẫu tự La tinh để phiên âm những tiếng kể trên, trước giáo sĩ Đắc Lộ, tại Việt Nam đã có những ướm thử, những dò dẫm, những việc sơ khởi phiêm âm Việt ngữ, như chúng ta đã thấy những tài liệu vào năm 1631, 1645 và như hai tác phẩm của hai giáo sĩ người Bồ nay nguyên bản đã thất lạc, song giáo sĩ Đắc Lộ đã sử dụng để soạn quyển Tự điển Việt-Bồ-La của ngài.
3. Tuy nhiên, với niên hiệu 1651, niên hiệu phát hành cùng một bận ba quyển: Phép giảng tám ngày, Tự điển Việt-Bồ-La và Văn phạm Việt ngữ, giáo sĩ Đắc Lộ đã tỏ ra không những là người đã dấn mình theo trào lưu chung. Ông đã đạt tới đích, nhờ vào năng khiếu đặc biệt của ông trong vấn đề hiểu biết các sinh ngữ cũng như từ ngữ, và nhờ vào tinh thần có thể nói là của một công dân quốc tế của ông, nhờ vào trí óc không lệ thuộc vào một hệ thống từ ngữ nào của ông, nghĩa là không bắt Việt ngữ lệ thuộc vào một khuôn khổ ngôn ngữ nào, song khai thác hết khả năng của những từ ngữ khác, nhất là bằng vào trực giác sâu sắc nhất của ông về các âm thanh không những chung cho cả nước, song riêng cho từng miền, từng địa phương. Bởi đó, trừ một vài điểm nhỏ mọn mà tôi không kịp đem trình bày trong bài này, việc phiên âm của giáo sĩ Đắc Lộ kể là đầy đủ và cặn kẽ. Những lối viết cách phát âm dị biệt mà chúng ta thấy trong Phép giảng tám ngày một phần lớn có thể được giải thích theo cách đọc của địa phương hoặc của thời đại: thực ra một số đã được tu chỉnh hay bổ túc trong tự điển và đã hơn một lần được biện bạch rõ ràng trong quyển Văn phạm Việt ngữ như chúng tôi đã trình bày trên đây. Điều này không có gì lạ; bởi vì ngày nay, trong nhiều miền, vẫn còn tồn tại những cách đọc khác nhau, phương chi Việt ngữ cách chúng ta hơn ba trăm năm nay? Những chỗ thiếu sót, những khuyết điểm trong chữ quốc ngữ của giáo sĩ chỉ là nhỏ bé. Ngoài ra, xét cho xác đàng, công cuộc phiên âm của ông kể khá đầy đủ hoàn toàn Việt Nam theo nhu cầu khoa học, lại thích hợp và giản dị. Bởi đó, chúng tôi có thể tin cậy vào sự trường tồn của nó, bất chấp thời gian và những biến chuyển mà người ta muốn tạo nên.

Chú thích


[1] Ch.B.Maybon, Histoire moderne du pays d’Annam, Paris, 1919 tr.36
[2] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, Hà nội, 1950 tr.183
[3] Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Sài gòn, 1951 tr.270
[4] Lê Thành Khôi, Le Vietnam, Histoire et Civilisation, Paris 1955, tr.292.
[5] H.Bernard, Pour la compréhension de l’Indochine et de l’Occident, Paris, 1950, tr.19.
[6] P.Huard et P.Durand, Connaissance du Vietnam, Paris, 1954 tr.52.
[7] Christoforo Borri, Relatione della nuova missione… al Regno della Cocincina, Romae, 1631.
[8] Thực ra cũng có thể lập luận rằng vào thời này đã có các dấu và ký hiệu, nhưng khi đem in tại Âu châu, người ta không sẵn có các dấu đó.
[9] Theo bài của Thanh Lãng, Những chặng đường của chữ viết quốc ngữ, trong Đại học số 19, tháng 2, năm 1651, tr.6-30, thì văn kiện này hoặc đã được sao lại, hoặc viết vào 1654. Tuy nhiên có thể coi là tài liệu 1645.
[10] Trong văn phảm Việt ngữ, khi đề cập tới NG cuối, tác giả đã trưng một câu tiếng Pháp “le sang est beau”, tr.4.
[11] Xem, A.De.Rhodes, Divers Voyages et Missions… Lille, 1854 tr.29.
[12] Xem Hoàng Xuân Hãn, Girolamo Majorica… trong Archivum Historicum Societatis Iesu, XXII, 1953, tr.206.
[13] A.De.Rhodes, Divers Voyages et Missions… tr.73, Hoàng Xuân Hãn, Girolamo Majorica… trong Archivum Historicum Societatis Iesu, XXII, 1953, tr.203-214.
[14] Xem Thanh Lãng, Biểu nhất lãm văn học cận đại, Sài gòn, 1959, tr.30.
[15] Thanh Lãng, Biểu nhất lãm… tr.32
[16] ibid, tr.27
[17] Archivum Historicum Societatis Iesu, Jap.Sin.S, f.78v
[18] Hoàng Xuân Hãn, Một vài văn kiện bằng quốc âm tàng trữ ở Âu châu, trong Đại học số 10, 1959, tr.110.
[19] Hoặc của tất cả lớp người đi trước Đắc Lộ, song tất cả đã được kết thành một hệ thống in thành sách lần đầu tiên ký tên Đắc Lộ là tác giả.

Tác giả: Nguyễn Khắc Xuyên