Xướng ca vô loài (Nguyễn Dư)

 

Xướng ca vô loài
Nguyễn Dư

 

Sách vở thường nói rằng xã hội Việt Nam ngày xưa có “Sĩ, nông, công, thương”. Như vậy là còn thiếu. Người ta đã cố ý không kể một hạng người là bọn xướng ca vô loài vì không biết sắp xếp bọn này vào đâu cho ổn. Xướng ca bị coi là vô loài, bị khinh rẻ không thua gì thằng mõ. 
Bị khinh từ năm xửa năm xưa, từ thời vua Lê Nhân Tôn (1447) xa tít.
“Dân Thanh Hóa thấy vua đến, trai gái đem nhau hát rí ren ở hành tại. Tục hát rí ren một bên con trai, một bên con gái, dắt tay nhau hát, hoặc tréo chân tréo cổ nhau, gọi là cắm hoa kết hoa, thói rất là xấu. Đài quan Đồng Hanh Phát bẩm với thái uý Khả rằng: “Lối hát ấy là thói dâm tục xấu, không nên cho người hát nhảm ở trước xa giá”. Khả liền sai cấm hẳn.” (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, tập 3, Khoa Học Xã Hội,1968, tr. 139).
Trai gái bá vai bá cổ nhau ca hát là thói dâm tục rất xấu, cấm không được nhảm nhí trước kiệu vua. Muốn tốt đẹp, trang nghiêm thì… vào cung vua mà múa với hát!
Năm 1462, vua Lê Thánh Tôn quy định rằng “Nhà phường chèo con hát và những kẻ phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu, bản thân và con cháu đều không được đi thi, nếu mang sách hay mượn người làm hộ, thì trị tội theo luật.” (Đại Việt sử kí toàn thư, sđd, tr.183).
Phường chèo, con hát được bỏ cùng một rọ với đám phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu. Cứ đà này thì có ngày mất mạng như chơi chứ chẳng đùa. Luật lệ nghiêm khắc và vô lí của Lê Thánh Tôn đã đẩy một số người trở về làng cũ học cày cho xong, học chữ thánh hiền chỉ tổ toi cơm tốn gạo.
Phường chèo, con hát bị vùi dập có lẽ chỉ vì:
“Xã hội ta xưa quan niệm lũ xướng ca vô loài là một tầng lớp vô luân. Họ bị coi là vô luân không phải vì họ sa đọa, chính sự sống của họ cũng không phải là sa đọa, mà chỉ vì những vai trò của họ đóng khi xướng hát: họ bị coi là vô luân ở đây vì người con có thể đóng một vai vua và người cha đóng vai bày tôi quỳ lạy, anh em ruột có thể đóng đôi vợ chồng, và vợ chồng lại có thể đóng vai mẹ con hoặc cha con… Tất cả cái vô luân là ở đây, ở đấy luân thường đã không còn nữa, mặc dầu chỉ trong những lúc trình diễn.” (Toan Ánh, Phong tục Việt Nam, Khai Trí, 1969, tr. 429).
Mặc dù bị vua quan và nhà nho khinh ghét, mặc dù không được đi thi để ra làm quan lớn, bọn phường chèo, con hát vẫn tiếp tục hành nghề và vẫn được nhiều người dân thường ưa thích.
“Khoảng năm Cảnh Hưng, phường hát chèo bội mới pha thêm lối tuồng, cũng đóng vai trò vẽ mặt ra múa hát đùa cợt, không khác gì ở hí trường. Các nhà tang gia hay đua nhau mượn phường chèo đóng tuồng để khoe khoang.Các quan chính phủ ghét hung lễ lại dùng lẫn lộn cả cát lễ, bèn nghiêm cấm, đã hơn mười năm. Đến năm Canh Tuất (1790) lại thấy dân gian bày trò hát bội ấy. Các con nhà lương gia tử đệ có người bỏ cả chức nghiệp đi theo học hát, khăn áo dáng bộ như đàn bà, thường khi ở nhà cũng nghêu ngao tập hát chèo, trước mặt khách cũng không thẹn thò gì cả. Lại còn trò đánh bạc chọi gà sinh ra nhan nhản. Tập tục đến thế thật đáng buồn!”(Phạm Đình Hổ, Vũ trung tuỳ bút, Văn Học, 1972, tr. 57). 
May thay… cơ trời vần xoay, rồi cũng đến một ngày mai sáng sủa hơn. 
“Lệ cũ, cứ con nhà hát xướng không được vào nhà học hiệu, thi đỗ ra làm quan. Tiếc rằng không mở rộng đường cho kẻ tuấn dị tiến thân, để thu lấy nhân tài xuất chúng. Từ khi Lộc Khê Hầu (Đào Duy Từ) là con nhà hát xướng, vì không được ra thi, mới lẻn vào giúp nhà Nguyễn ở trong Nam, bấy giờ những kẻ đương sự mới hối rằng cái cách tìm kiếm nhân tài như thế là không rộng. Nhưng cũng chưa công nhiên bãi bỏ lệ cũ. Từ khi bà Trương quốc mẫu, người Như Kinh, là kẻ hát xướng được tuyển vào cung hầu Tần Quang Vương, sinh ra Trịnh Nhân Vương (Trịnh Cương), Biện trưởng cung, người Á Lữ, sau lại đắc sủng với Nhân Vương, nên các họ về giáo phường mới được kể bằng hàng với các họ nhà lương gia. Sau này các họ nhà đại khoa hiển hoạn cũng thường có người do giòng họ hát xướng mà phát đạt lên, nên những kẻ sĩ phu cũng cùng họ giao du tự nhiên, và rồi những nhà hát xướng cũng quên hẳn thế hệ nhà mình tự đâu mà ra. Xem đó thì biết thế vận phong tục mỗi ngày một khác.” (Vũ trung tuỳ bút, sđd, tr. 79-80).
Phải công nhận là… mê gái cũng có cái hay! Bên trên mê gái thì bên dưới cũng được nhờ! Vua chúa một khi quen hơi đào hát thì bao nhiêu cái nhảm nhí ngày xưa bỗng chốc được dẹp qua một bên. Luật lệ được tẩy xóa. Xin cảm ơn và tuyên dương cô đào hát họ Trương! Giọng ca tiếng hát và có lẽ cả thân hình của cô đã cảm hóa được lòng người, phá bỏ được bất công. Nhờ cô mà con cháu mở mày mở mặt.
Nhưng thói đời, bia miệng thì cứ trơ trơ. Mặc dù vua chúa đã thôi lấy thịt đè người, đè con hát từ lâu rồi, nhưng thành kiến xướng ca vô loài vẫn cứ bám rễ trong đầu nhiều người đến tận đầu thế kỉ 20. Mẹ và em gái Tản Đà bất đắc dĩ phải “đắp đổi tháng ngày bằng điệu phách câu ca”, bị “người ta hùa cả nhau vào bài xích việc xướng ca là việc giăng hoa đĩ bợm.” (Nguyễn Mạnh Bổng, 1944).
Bỗng dưng xướng ca lại được tặng thêm hỗn danh đĩ bợm. Tại sao vậy? Xướng ca có liên hệ gì với đĩ à? 
Vậy đĩ là gì, là ai? Trong văn học, người Tàu gọi các cô làm nghề xướng ca là kĩ nữ. Kĩ nữ nguyên nghĩa chỉ là người con gái làm nghề ca xướng, múa hát. Chữ  (bộ nữ) của tiếng Hán được ta đọc Nôm thành đĩKĩ nữ của Tàu trở thành Con đĩ của ta. Kĩ nữ và con đĩ là hai chị em ruột. Con đĩ ngày xưa chỉ có nghĩa là người con gái làm nghề hát xướng chứ không phải là con đĩ làm nghề mại dâm như ngày nay!
Thật hay đùa vậy?
Xưa kia, trước khi làng mở hội cho mọi người vui chơi thì các vị chức sắc phải tổ chức tế lễ ngoài đình. Có rước phụng nghênh hồi đình (rước long kiệu từ miếu về đình) rất long trọng. Nghi trượng gồm nào cờ quạt, voi ngựa, nào bát bửu, cờ biển. Rồi đến phường đồng văn đánh trống, gõ thanh la, theo sau là mấy người con gái, đôi khi là con trai giả gái, vừa vỗ trống vừa múa hát gọi làcon đĩ đánh bồng. Theo sau con đĩ đánh bồng là cờ vía, lọng vàng, lệnh kiếm, phường bát âm, long đình, kiệu thánh… và sau cùng là bô lão, chức sắc của làng. (theo Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng Hợp Đồng Tháp, 1990, tr. 96-100).
Xem vậy thì vai trò của con đĩ ngày xưa cũng không có gì là tệ lắm, được múa hát diễn hành trước cả long đình, kiệu thánh, các bô lão, chức sắc của làng.
Nếu chỉ múa hát thôi thì chẳng có gì là xấu. Có xấu chăng là kể từ ngày các con đĩ bị giới trưởng giả, mấy ông trí thức mời về nhà hát. Chính những vị tai mắt, khoa bảng, đã mở đường hoặc tiếp tay làm biến chất, làm hư các con đĩ. 
Buổi hát ban đầu rất lịch thiệp. Các quan ăn uống vui chơi, các cô hầu rượu, múa hát những bài do các quan yêu cầu.

Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào còn chửa biết chi chi
Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì
Ngảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu (…)
                      (Dương Khuê, Hồng Tuyết)

Những chầu hát cô đầu dần dần bị những người thiếu tư cách biến thành nơi cợt nhả, bá vai gối đùi.

Nhân sinh quý thích chí
Còn gì hơn hú hí với cô đầu
(…)
Chơi cho thủng trống tầm bông.
                      (Trần Tế Xương, Chơi ả đào)

Rồi chẳng bao lâu, buổi hát chỉ còn là cái cớ cho những trận trác táng, tằng tịu, dâm loàn. 

Cũng ra đĩ rạc
Bấy lâu nay đã toác toạc toàng toang
Chán chê rồi về đến đầu làng
Toan tấp tểnh những đường tu lý (…)
                      (Trần Tế Xương, Đĩ rạc đi tu

Con đĩ vốn chuyên nghề hát xướng dần dần trở thành gái làng chơi.

Thiên hạ bao giờ cho hết đĩ
Trời sinh ra cũng để mà chơi
Dễ mấy khi làm đĩ gặp thời
Chơi thủng trống long dùi âu mới thích
(…)
Mai sau này giỗ có văn nôm
Cha đời con đĩ cầu Nôm.
                      (Nguyễn Khuyến, Đĩ cầu Nôm)

Các nhà hát tư mọc lên, lập thành xóm cô đầu. Vàng thau lẫn lộn, khó mà phân biệt được con hát thật với con gái làng chơi. Từ đây trở đi người ta đồng hóa đĩ với gái làng chơi, gọi gái làng chơi là đĩ.Sự biến chất này cũng tương tự như ý nghĩa của từ Thanh lâu (lầu xanh) và Hồng lâu (lầu hồng). Lầu xanh lúc đầu dùng để chỉ nhà sang trọng. Đến khoảng đời Đường thì được dùng để chỉ nơi ở của kĩ nữ. “Như vậy thì ngày nay Thanh Lâu không còn có nghĩa là nhà cao cửa đẹp mà chỉ có nghĩa là nhà kĩ nữ.”(Diên Hương, Thành ngữ điển tích, Phương Lai, 1954), và cuối cùng trở thành:

Lầu xanh có mụ Tú bà,
Làng chơi đã trở về già hết duyên (Nguyễn Du, Kiều)

Lầu xanh rõ ràng đã trở thành nơi chứa gái làng chơi, gái giang hồ.

Ngảnh mặt lại lầu xanh thương những kẻ
Trầm luân chưa khỏi kiếp hồng nhan
                      (Tôn Thọ Tường, Đĩ già đi tu

Từ điển Génibrel (1898) và Gustave Hue (1937) cũng chép lầu xanh là maison de prostitution (nhà đĩ, nhà thổ). 

Lầu hồng xưa kia là chỗ ở của con gái nhà giàu: 
Đêm ngày lòng những giận lòng
Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên (Kiều

Sau này lầu hồng cũng bị trở thành maison des chanteuses (nhà chứa con hát), và sau cùng là nhà chứa đĩ. 

Giang hồ từ thủa mười lăm,
Đến năm mười chín còn nằm trông xuân,
Xuân kia còn độ mấy lần,
Tấm thân phơi chốn bụi trần mà thương (…)
                     (Hoàng Ngọc Phách, Giọt lệ hồng lâu)

Nhà chứa đĩ thời Tây được gọi là nhà đỏnhà thổ. Chữ thổ không phải là chữ Hán, cũng không phải là chữ Việt.Thổ là âm của tiếng Pháp tolérance (cũng như thổ mộ là âm của tombereau). Nhà thổ tức là maison de tolérance(nhà chứa đĩ) của Pháp. Xã hội ta thích ứng thật nhanh chóng với mọi hoàn cảnh! 

Vị Xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường.

Tú Xương đã nắm bắt được chuyển biến của xã hội đương thời, đưa một dịch vụ ăn khách là thổ đĩ vào văn học. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) định nghĩa “nhà chứa” là nơi nuôi gái mãi dâm, tổ chức cho gái mãi dâm hành nghề, trong xã hội cũ. Đúng ra thì phải gọi là gái mại dâm (gái bán dâm), các ông đi chơi gái thì gọi là khách mãi dâm (khách mua dâm). Nhầm lẫn người mua với người bán âu cũng là thói quen đã có từ lâu. Nhưng nếu phân biệt được chủ với khách, người cho với kẻ nhận thì vẫn hơn. Nhất là trong thời buổi nhiễu nhương có cả các cậu, các ông bán dâm cho người cùng phái.
Người Hà Nội gọi các cô gái điếm thời Tây là đượi. Có người cho rằng đượi là nói trại của đười (con đười ươi, cùng họ với khỉ, tườu) vì các cô điếm đầu tóc bù xù, nửa người nửa ngợm, nửa đười ươi. Giải thích này nghe không xuôi tai vì phần đông các cô đượi đều ăn mặc hấp dẫn, son phấn, đầu tóc chải chuốt, phi dê (frisés). Có như vậy mới mong câu được khách chứ. Đầu bù tóc rối như đười ươi (mà đã có ai được thấy đầu tóc đười ươi chưa nhỉ?), thì đến tượng đồng đen, cột nhà cháy nó cũng chê, thì làm sao mà bán trôn nuôi miệng được? Có lẽđượi chỉ là biến âm của đĩ mà thôi. Đọc trại với ý khinh bỉ và phân biệt. Đượi là me tây, đĩ là me ta. Đượi và đĩ còn có tên là gái ăn sương. Tên nghe khá lãng mạn, nói lên được nỗi vất vả lúc đêm khuya thanh vắng.
Kiếm ăn chung với các cô đượi là bọn ma cô (maquereau), bọn bồi xăm (chambre). Thời Pháp còn có nhà Lục xì. Vũ Trọng Phụng viết tiểu thuyết Làm đĩ (1936) và phóng sự Lục xì (1937) nhưng tiếc rằng Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (Văn học, 1987) không đăng những truyện này nên rốt cuộc vẫn không biết Lục xì là gì. Cái phiền của tuyển tập là vậy! Người khác chọn giùm mình. Cho đọc cái gì thì đọc cái ấy! Tra tìm trong từ điển Hán, Nôm thì không thấy Lục xì. Từ điển Gustave Hue có từ Lục xì nhưng lại không giải thích, chỉ cho biết Lục xì là một từphon. (tôi đoán phon. là viết tắt chữ phonétique, nghĩa là đọc theo âm). Nếu vậy thì Lục xì có thể là âm cuối của chữ syphilis (bệnh hoa liễu, còn gọi là giang mai, nôm na là bệnh lậu hay tim la). Nhà Lục xì là nơi khám bệnh hoa liễu cho các cô điếm thời Tây.
Thực dân Pháp đem vào nước ta một loại kĩ nữ mới là vũ nữ, các cô gái nhảy, ca ve (cavalière). Gái nhảy phải biết… nhảy đầm, không cần biết hát. Các cô hành nghề tại các đăng xinh (dancing). Ông nào chồn chân muốn nhảy thì mua vé, chọn gái nhảy. Nhiều cô… làm thêm giờ phụ trội, nhảy cả tại phòng riêng.
Trở lại với các nàng kĩ nữ. 
Chữ kĩ ban đầu còn có nghĩa, còn được dịch là ả đào, đào hát, con nữ phường chèo. Sau này được dịch thẳng là đĩ, con gái mại dâm (Đào Duy Anh), con đĩ nhà thổ (Thiều Chửu).
Kĩ nữ và con đĩ, tuy là đồng hội đồng thuyền, cùng là xướng ca vô loài nhưng cũng được phân biệt đối xử. Những lúc hứng bốc lên dạt dào thì thi sĩ gọi bọn này là kĩ nữ nghe cho thanh tao, lãng mạn! Nói đến kĩ nữ là người ta liên tưởng đến những số phận long đong, lỡ làng. Một kĩ nữ gảy khúc tì bà đã làm xúc động ông tư mã Giang Châu. Một kĩ nữ lênh đênh trên sông Hương ngợp ánh trăng đã làm mềm lòng nhiều thế hệ: 

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa;
Vội vàng chi, trăng sáng quá, khách ơi!
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời
Khách không ở, lòng em cô độc quá.
Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả
Tay em đây mời khách ngả đầu say,
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử.

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt.
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.
Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt.
Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách đi.
                   -Du khách đã đi rồi!
                       (Xuân Diệu, Lời kỹ nữ)

Người ta dễ thông cảm, xót thương cho số phận các nàng kĩ nữ và dửng dưng thậm chí khinh bỉ các nàng kĩ nữ nhập tịch Việt Nam, trở thành con đĩ bình dân! Thành ngữ, ca dao của ta có rất nhiều câu ám chỉ bọn gái đĩ già mồm. Sau những trận chơi cho thủng trống tầm bông, cho toác toạc toàng toang, các ông không quên núp sau lưng vợ, lên mặt đạo đức khuyên các cô làm đĩ chín phương, để một phương lấy chồng. 
Kẻ ít học cũng a dua nói leo vài câu vô nghĩa:

Đĩ xơ đĩ xác, đĩ xạc đĩ xờ
Đĩ ở trên bờ, đĩ lặn xuống ao

Cũng có người thành thực hơn, ra mặt chê nhưng đúng hơn là ganh tị với đĩ :

Làm đĩ có tàn, có tán, có hương án thờ vua, có chuông chùa niệm Phật.

Toàn là chê, chửi, trách đĩ. Tha hồ cho sướng miệng! 
Ngày xưa người ta gọi trẻ con là thằng cu, cái đĩ. Cu là dương vật. Đĩ là gái làng chơi. Cu và đĩ mang nghĩa xấu, được mê tín ngày xưa dùng với mục đích để ma quỷ chê đứa bé, không ám hại nó. Ngôn ngữ hiện đại có từ kép đĩ điếm. Điếm nghĩa là cái kho, cái nhà chứa đồ. Đĩ điếm là từ kép nửa Việt nửa Hán, có nghĩa là nhà chứa đĩ hay là ổ mại dâm. Gái làng chơi có thêm tên gọi tắt là gái điếm.
Cuộc đời ba chìm bảy nổi đã hóa thân nàng kĩ nữ thành con đĩ, con điếm.
Người xưa đồng hóa con hát với đĩ điếm và gọi bọn này là xướng ca vô loài.
Năm 1945, bộ trưởng bộ Giáo Dục-Mĩ Thuật Hoàng Xuân Hãn đã làm một cuộc cách mạng văn hóa, đưa hát xướng vào chương trình bậc trung học. Hát xướng trở thành môn học bắt buộc. Xướng ca chính thức thoát khỏi cái nhục vô loài.
Ngày nay nước ta có trường dạy âm nhạc, kịch, tuồng, chèo, cải lương. Đủ các bộ môn xướng ca. Nghệ sĩ xuất sắc được tặng danh hiệu, gắn huân chương. Ai dại mồm dại miệng tuyên bố xướng ca vô loài chắc sẽ bị cả triệu người tát cho vỡ mặt.
Như vậy là nước ta hết đĩ rồi chăng? 
Hết làm sao được! Ngày nào còn các cậu, các ông lang bang, thèm của lạ thì ngày đó còn các cô, các bà làm cái nghề xưa nhất trên mặt trái đất này! Xướng ca vừa được phục hồi danh dự, được tôn vinh thì xã hội lại đẻ ra các nàng sờ nách ba (snack bar), bia ôm, mát xa (massage)… Có người mua thì có kẻ bán, còn người bán thì còn kẻ mua. Ngoạn mục thay cái đèn cù của kinh tế thị trường! 
Có điều lạ và bất công là phường chèo, gánh hát có cả kép hát nhưng ngôn ngữ bình dân gần như bỏ quên bọn này. Sách vở của ta chỉ đả động đến con đĩ chứ không nói đến thằng đĩ. Không biết xã hội phong kiến ngày xưa có kĩ nam không? Ngày nay thì nhiều nước có. Không những có kĩ nam mà còn có cả kĩ sư ! Ấy chết, xin đừng vội hiểu lầm là các ông các bà kĩ sư là… bậc thầy của đĩ ! Chữ kĩ (bộ thủ) của kĩ sư viết khác chữ kĩ (bộ nữ) của kĩ nữ. Kĩ sư là người có tài năng, chuyên về một kĩ thuật gì.
Các cô kĩ nữ, các ông kĩ nam tân thời có tên gọi đáng yêu là ca sĩ. Sĩ này được trọng vọng hơn cả sĩ của “Sĩ, nông, công, thương”. Thần tượng của vô số người. Dưới ánh đèn mờ, khói thuốc âm u, nhạc dìu dặt, mơ màng nghe các cô hát, các cô ca, các cô la, thỉnh thoảng được ngắm một cái ngoáy, một cái ưỡn thì chao ôi…xướng ca quả là sướng quá!

Nguyễn Dư 
(Lyon, 3/2003)

Đọc Chuyện Đông Chuyện Tây 2 (Vương Trung Hiếu)

 
Đọc Chuyện Đông – Chuyện Tây (P.2)

Vương Trung Hiếu

KTTN 110, ngày 01-6-1993
Tại sao tiếng Pháp đã có Japon để chỉ nước Nhật Bản mà còn lại có tên là Nippon? Hai tên này có gì khác nhau?
AC: Tiếng Pháp Japon cùng với tiếng Anh Japan, là phiên âm theo tiếng Hán giọng Bắc Kinh rì ben (âm Hán Việt là Nhật Bản) của hai chữ 日本. Còn Nippon là phiên âm thẳng từ tiếng Nhật; chữ Nhật, viết theo lối Romaji (La mã tự) cũng là Nippon. Đây là tên mà chính người Nhật dùng để gọi nước mình.
VTH: Có tài liệu cho rằng Japon trong tiếng Pháp là chữ phiên âm từ hai chữ 日本, đọc theo tiếng Quan Thoại ngày nay là rìběn (1). Nhưng trên thực tế, trong tiếng Quan Thoại, hai chữ 日本 được đọc là “rí bèn”, nghĩa là là phát âm từ  với phụ âm đầu là chứ không phải là j. Vì thế, chúng tôi không nghĩ rằng Japon là chữ phiên âm từ hai chữ 日本 đọc theo tiếng Quan Thoại hay giọng Bắc Kinh theo cách diễn đạt của ông An Chi. Theo chúng tôi, chữ Japon và Japan có khả năng bắt nguồn từ tiếng Malaysia hay tiếng Indonesia. Thời xưa, cái từ Japan đến phương Tây bằng con đường buôn bán gọi là Nanban bōeki (?), người Trung Quốc gọi là Nam man mậu dịch 南蛮貿易. Trong tiếng Malaysia và Indonesia, Japan được gọi là Jepang (người Nhật, nước Nhật). Đây là chữ vay mượn từ tiếng Trung Quốc gọi là Jih’pen’kuo (2), có nghĩa là “Vùng đất mặt trời mọc”(3). Cái từ Jepang được những nhà buôn Bồ Đào Nha ở Malacca sử dụng trong thế kỷ 16. Họ đã mang chữ này đến châu Âu (4). Từ Jepang được ghi chép lần đầu trong tiếng Anh vào năm 1565 và được đánh vần làGiapan (5).  Người Anh đã phiên âm từ này thành Japan, còn người Pháp phiên âm thành Japon.
Hai cái tên tiếng Nhật Nippon và Nihon đều được viết bằng bằng cách sử dụng chữ kanji (6). Cái tên Nippon được sử dụng phần lớn trong những mục đích có tính nghi thức, kể cả trong đồng yên Nhật, tem thư và những sự kiện thể thao quốc tế. Còn Nihon là thuật ngữ được dùng trong cách nói hàng ngày ở Nhật. Người Nhật tự cho rằng họ là Nihonjin (Nhật Bản nhân 日本人), còn ngôn ngữ của họ là Nihongo (Nhật Bản ngữ 日本語). Cả hai từ Nippon và Nihon đều có nghĩa là “gốc mặt trời” và thường được dịch là “Đất nước mặt trời mọc”. Cách gọi này có nguồn gốc từ những sứ thần Nhật Bản được phái sang làm việc tại Trung Hoa thời xưa, dùng để nhấn mạnh vị thế phương Đông của họ, đối trọng với triều đình Trung Hoa. Hiện nay, cách gọi chính thức nước Nhật là Nippon-koku hay Nihon-koku (Nhật Bản quốc 日本国).
*
(1): Dumaine, David.Petites histoires des noms de pays. Paris : Flammarion, 2006, p. 56-57.
(2) : C. R. Boxer, The Christian Century In Japan 1549–1650, University of California Press, 1951, pages 1 and 14.
(3): Donald Frederick Lach, Asia in the making of Europe: The century of discovery , University of Chicago Press, 1994, trang 652).
(4) C. R. Boxer, The Christian Century In Japan 1549–1650, University of California Press, 1951p. 11, 28—36, 49—51.
(5): Mancall, Peter C. (2006). “Of the Ilande of Giapan, 1565”. Travel narratives from the age of discovery: an anthology. Oxford University Press. pp. 156–157.
(5): Kanji (Hán tự 漢字) là những chữ Trung Quốc được sử dụng trong trong hệ thống chữ viết của Nhật Bản cùng với bảng ký hiệu âm tiết hiragana (ひらがな平仮名), katakana (カタカナ片仮名), chữ số Indo Arabic và việc sử dụng thỉnh thoảng bản chữ cái Latin  (gọi là “rōmaji”).
KTTN 110, ngày 01-6-1993
Xin cho biết xuất xứ của mấy tiếng mã tà (lính cảnh sát thời trước).
ACMã tà là do phiên âm từ tiếng Mã Lai manta-mata có nghĩa là cảnh sát. Hình thức gốc ban đầu là ma tà, theo ghi nhận của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc âm tự vị. Về sau, ma đã được phát âm thành mã. Xin nhớ rằng tiếng Việt, nhất là địa phương Nam Bộ, có nhiều từ gốc Mã Lai. Thêm một ví dụ: xà ích, người đánh xe ngựa, là do tiếng Mã Laisaïs.
VTH: Manta-mata không có nghĩa là “cảnh sát” trong tiếng Mã Lai (Malaysia), “mata-mata” mới có nghĩa là “cảnh sát”. Tuy nhiên, đây là từ xưa, hiếm khi được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày ở Malaysia, giống như từ “mã tà” trong tiếng Việt vậy. Hiện nay, trong tiếng Malaysia, khi nói chung về cảnh sát, người ta sử dụng từ “polis” (còn viết là “polisi”) để thay thế cho từ mata-mata. Những từ có liên quan tới cảnh sát đều ghi là “polis” chứ không phải là “mata-mata”. Thí dụ: polis = cảnh sát, nam cảnh sát, nhân viên cảnh sát; anggota polis = nam cảnh sát; polis wanita = nữ cảnh sát; pegawai polis = nhân viên cảnh sát; mobil polisi = xe cảnh sát; balai polis = đồn cảnh sát…
Theo chúng tôi, người Malaysia đã vay mượn nguyên xi từ mata-mata trong tiếng Indonesia nhưng đã biến đổi nghĩa đôi chút, bởi vì trong tiếng Indonesia, mata-mata có nghĩa là “mật thám, thám tử”. Xét về hình thức và nghĩa của từ, chúng ta dễ có cảm tưởng rằng người Việt đã mượn chữ mata-mata để phiên âm thành “mã tà”. Tuy nhiên, chúng tôi thắc mắc là, tiếng Malaysia và Indonesia có vai trò gì trong lịch sử nước ta, tại sao để người Việt lại dựa vào chữ này để nói về cảnh sát thời Pháp thuộc? Nếu cho rằng người Malaysia và Indonesia gia nhập lực lượng lính Lê Dương Pháp (Légion étrangère) rồi đến nước ta nên người Việt đã mượn từ mata-mata cũng không phải, vì trong danh sách các quốc gia tham gia Lê Dương Pháp trong giai đoạn 1831-1961 (*) có tổng cộng khoảng 600.000 người, những người lính này gọi là légionnaire, nhưng không hề có người Malaysia và Indonesia. Mặt khác, mata-mata có 4 âm tiết, trong khi đó mã tà chỉ có 2 âm tiết, liệu mã tà có khả năng phiên âm từ chữ mata-mata hay không?. Có quan điểm cho rằng “mã tà” là tiếng phiên âm từ chữ “matraque” (dùi cui) trong tiếng Pháp. Do cảnh sát thường sử dụng dùi cui nên người ta mượn chữ matraque để phiên âm thành “ma tà” rồi thành “mã tà”. Cụm từ “bọn mã tà” có thể hiểu là “bọn sử dụng dùi cui”, tức cảnh sát. Xem ra giả  thuyết này khá hợp lý, vì “mã tà” có  hai âm tiết, phiên âm từ tiếng “matraque” cũng có hai âm tiết. Nhìn chung, hiện tượng tiếng nước ngoài được phiên âm thành tiếng Việt với số lượng âm tiết bằng nhau là khá phổ biến. Thí dụ: ô tô, cà phê, mít tinh hay cao su…
Ông An chi cho rằng người Việt đã mượn từ saïs trong tiếng Mã Lai, đọc thành “xà ích” để chỉ người đánh xe ngựa. Nhưng rất tiếc chúng tôi không tìm thấy từ saïs trong tiếng Mã Lai. Chỉ có một từ rất giống là sais, từ này có nghĩa là “người đánh xe ngựa” trong tiếng Malaysia và cả trong tiếng Indonesia. Vậy, chính xác thì “xà ích” có nguồn gốc từ tiếng nước nào? Theo chúng tôi, từ sais trong tiếng Malaysia cũng là từ vay mượn từ tiếng Indonesia. Bởi vì hiện nay người Malaysia thường sử dụng từ kusir để chỉ người đánh xe ngựa chứ hiếm khi sử dụng từ sais, ngược lại người Indonesia sử dụng từ sais thường xuyên hơn, cho dù họ vẫn có từ kusirvới nghĩa là “người đánh xe ngựa” như trong tiếng Malaysia.
*
(*): Danh sách Lê Dương Pháp giai đoạn 1831-1961: Đức (210.000 người), Ý (60.000), Bỉ (50.000), Pháp (50.000), Tây Ban Nha (40.000), Thụy S ĩ (30.000), Ba Lan (10.000), Nga (6.000), Áo (5.000), Hungary (4.000), Hy Lạp (4.000), Tiệp Khắc (4.000), Hà Lan (3.000), Nam Tư (3.000), Luxembourg (2.300), Đảo Anh (1.500), Romania (1.500), Bồ Đào Nha (1.300), Đan Mạch (1.000), Thổ Nhĩ Kỳ (1.000), Hoa Kỳ (700), Bulgaria (500), Phần Lan (500), Thụy Điển (500), Algérie (500), Việt Nam (200), Maroc (200), Tunisia (200), Argentina (100), Brasil (100), Nhật Bản (100), Canada (100), Litva (100), Latvia (100), Na Uy (100), Ai Cập (100). (theo Wikipedia).
KTTN 111, ngày 15-6-1993
Tại sao Phi-líp-pin (Philippines) là một nước Đông Nam Á mà lại có một tên rất Tây? Người Phi-líp-pin nói tiếng gì?
AC: Nguyên Phi-líp-pin là thuộc địa của Tây Ban Nha từ năm 1565, dưới triều vua Phi-líp đệ nhị. Để đánh dấu rằng đây là đất đai họ đã chiếm được dưới triều của Phi-líp (đệ nhị), tiếng Tây Ban Nha là Felipe, người Tây Ban Nha đã gọi đó là Islas Filipinas, nói tắt thành Filipinas. Đây là số nhiều củaFilipina, giống cái của Filipino, nghĩa là thuộc về Felipe. Islas Filipinas là các hòn đảo của Phi-líp, người Pháp dịch thành Îles philippines, rồi nói tắt thành Philippines.

Người Phi-líp-pin nói tiếng Tagal (cũng gọi là Tagalog) là thứ tiếng được chọn làm ngôn ngữ quốc gia. Đây là một ngôn ngữ thuộc họ Mã Lai – Đa đảo (malayo-polynésien). Giành được độc lập năm 1946 từ tay Mỹ (Tây Ban Nha đã nhượng đảo quốc này cho Mỹ từ năm 1898), người Phi-líp-pin vẫn dựa theo tiếng Tây Ban Nha là Filipinas mà gọi tên nước mình làPilipinas (tiếng Tagal không có âm f nên đã thay thế âm này bằng p).
VTH: Trong bài trên có hai chi tiết cần xem lại: thứ nhất, cái tên Philippines không phải do người Pháp dịch từ cụm từ “Islas Filipinas” trong tiếng Tây Ban Nha rồi nói tắt thành Philippines. Thứ hai, người Philippines không chỉ nói tiếng Tagalog mà còn sử dụng những ngôn ngữ khác.
Trong thế kỷ 16, khi đến quần đảo Philippines ngày nay, nhà thám hiểm Tây Ban Nha Ruy López de Villalobos  đã sử dụng tên Filipinas, ban đầu chỉ dùng để gọi tên hai đảo Leyte và Samar (nay là hai tỉnh của Philippines). Sau đó quần đảo này còn được gọi bằng nhiều cái tên khác, thí dụ như Islas del Poniente (Quần đảo phương Tây), Nueva Castilla và Quần đảo San Lázaro. Cuối cùng, cái tên Las Islas Filipinas được dùng để chỉ toàn bộ quần đảo này. Đến giai đoạn Cách mạng Philippine (1896–1898) (1), Hội nghị Malolos (2) công bố việc thành lập nước República Filipina (Cộng Hòa Philippine). Từ giai đoạn chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ (1898) và chiến tranh Philippine – Mỹ (1899–1902) cho tới giai đoạn Commonwealth (1935-1946) (3), chính quyền thực dân Mỹ gọi đất nước này là Quần đảo Philippine. Đây là cái tên do người Mỹ dịch từ tên Las Islas Filipinas (tiếng Tây Ban Nha). Trong giai đoạn Mỹ chiếm đóng, cái tên Philippines bắt đầu xuất hiện và kể từ đó nó trở thành tên phổ biến của đất nước này (4). Đến khi độc lập (4 tháng 7 năm 1946), đất nước này có tên chính thức là Cộng Hòa Philippines (tiếng Filipino: Republika ng Pilipinas).
Theo Wikipedia, ở Philippines người ta sử dụng trên 170 ngôn ngữ, hầu hết thuộc nhánh phía Tây của nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesian, thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo. Năm 1987 Hiến pháp Philippines qui định ngôn ngữ chính thức là tiếng Filipino (5) và tiếng Anh. Trên thực tế, có 12 ngôn ngữ khác cũng khá phổ biến, đó là  “Tagalog, Cebuano, Ilokano, Hiligaynon, Waray-Waray, Bikol, Kapampangan, Pangasinan, Kinaray-a, Maranao, Maguindanao và Tausug (phổ biến nhất là tiếng Tagalog). Từ năm 1973, tiếng Tây Ban Nha  không còn được coi là ngôn ngữ chính thức ở Philippines. Trong những thập niên gần đây, người dân Philippines không còn sử dụng tiếng này trong cuộc sống hàng ngày.
*
(1): Người Tây Ban Nha còn gọi cuộc cách mạng này là “Chiến tranh Tagalog”, tức cuộc chiến có vũ trang giữa nhân dân Philippines và thực dân Tây Ban Nha. Kết quả là quần đảo Philippine tách khỏi nhà cầm quyền thực dân Tây Ban Nha. Trong giai đoạn này chữ Philippine chưa có thêm chữ cái s.
(2): Hội nghị của nước Cộng Hòa Philippine đầu tiên do chính quyền cách mạng khởi nghĩa tổ chức, phác thảo Hiếp pháp Malolos. 
(3): Commonwealth of the Philippines là tiền thân của nước Cộng Hòa Philippines từ năm 1935 đến 1946, trong giai đoạn ấy Philippines đã là thuộc địa của Mỹ.
(4): Quezon, Manuel, III. (2005-03-28). “The Philippines are or is?”. Manuel L. Quezon III: The Daily Dose.
(5): Filipino là một ngôn ngữ dựa theo tiếng Tagalog, một thứ tiếng được xem là  tiếng mẹ đẻ của một phần ba dân số Philippines. Nhất là xung quanh thủ đô Manila , nhưng hầu như toàn bộ dân Philippines cũng có thể sử dụng ngôn ngữ này (Wikipedia).
KTTN 113, 7-1993
Tại sao biểu tượng SEA Games XVII 1993 tổ chức tại Singapore lại là con sư tử?
AC: Vì SEA Games lần này được tổ chức tại Singapore mà Singapore có nghĩa là Thành phố Sư tử. Singapore (tiếng Anh) và Singapour (tiếng Pháp) là phiên âm từ tiếng Mã Lai Singapura, vẫn được xem là bắt nguồn từ tiếng Sanskrit Simhapura, trong đó Simha là sư tử, pura là thành phố (trong tiếng Mã Lai hiện nay singa là sư tử còn thành phố thì lại là puri).
VTH: Chúng tôi dẫn chứng một quan điểm khác. Theo Wikipedia, từSingapura trong tiếng Malaysia có nguồn gốc từ tiếng Tamil (தமிழ்) (1), trong đó singa xuất phát từ chữ singam (சிங்கம்), một từ có nghĩa là “sư tử”;  còn Oor (ஊர்) trong tiếng Tamil có nghĩa là “thành phố”. Oor là một tiếp vĩ ngữ phổ biến trong nhiều địa danh ở Ấn Độ. Sở dĩ người ta đặt tên này là vì trong bản đồ, nước Singapore có hình dạng giống đầu sư tử (2). Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy sư tử chưa bao giờ sinh sống ở Singapore, ngay cả sư tử châu Á cũng vậy, một loài còn được còn gọi là sư tử Ấn Độ hay sư tử Ba Tư, có tên khoa học là Panthera leo persica. Vào thế kỷ 13, tại Singapore, người ta đã từng thấy một thú lớn 4 chân trông rất giống con cọp, có khả năng đó là cọp Malayan (tên khoa học: Panthera tigris jacksoni) (3).
Theo lịch sử, Singapore còn có một số tên khác trong quá khứ. Vào thế kỷ thứ 2, nhà thiên văn học Hy Lạp Claudius Ptolemaeus đã từng sống ở một nơi gọi là Sabana, khu vực mà ngày nay gọi là Singgapore. Về sau người Phúc Kiến (Trung Quốc) đến Singapore sinh sống và gọi vùng đất này bằng một số tên khác, đó là Tân Gia Ba  新加坡, Tinh Gia Ba 星嘉坡 (hay星加坡) và hai cái tên rút gọn là Tinh Châu 星洲 (đảo Singapore) và Tinh Quốc 星國 (nước Singapore). Ngoài ra, còn có tên khác là  Thạch Lặc  石叻, có nguồn gốc từ chữ selat trong tiếng Malaysia, có nghĩa là “eo biển”…Trong Thế chiến thứ II, người Nhật đặt tên cho Singapore làShōnantō (Chiêu Nam đảo 昭南島?), xuất phát từ câu Shōwa no jidai ni eta minami no shima” (和の時代に得た), có nghĩa là “hòn đảo phương nam tiếp thu được trong thời kỳ Shōwa”, tức giai đoạn hoàng đế Shōwa trị vì (25/12/1926-7/1/1989). Từ này được sử dụng cho tới ngày người Anh chiếm đảo Singapore (12/9/1945), một tháng sau khi người Nhật đầu hàng.  Trong giai đoạn thế chiến, người Nhật đã Latin hóa từShōnantō thành Syonan-to (hay Syonan), có nghĩa là “Ánh sáng phương Nam”, dịch đúng nghĩa đen của từ Chiêu Nam 昭南.
*
(2): Sommerville, Maxwell (1894). The Encyclopaedia Britannica: a dictionary of arts, sciences, and general literature, 9:22. Adam and Charles Black, London, United Kingdom. p. 101.
(3): “Studying In Singapore” (http://www.schools.com.sg/articles/aboutSingapore.asp).
KTTN 114, ngày 15-7-1993
ACPhù Đồ (cũng như Phật Đà, Phật Đồ) vốn là hình thức phiên âm bằng tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) của tiếng Sanskrit buddha, có nghĩa là Phật. Dần dần nó bị dùng sai đi vì được xem là đồng nghĩa với từ tháp, dạng tắt của tháp bà, phiên âm từ tiếng Sanskrit stupa.
VTH: Phù Đồ 浮圖 là từ phiên âm từ chữ stupa स्तौपिक, chứ không phải từ chữ Buddha बुद्ध trong tiếng Sanskrit. Nói cách khác, Phù Đồ không có nghĩa là Phật 佛, nghĩa của nó là tháp thờ Phật hoặc tháp thờ xá lợi của Phật. Do đó, việc cho rằng từ phù đồ bị “dùng sai đi vì được xem là đồng nghĩa với từ tháp” là điều không chính xác. Dưới đây là dẫn chứng từ Truyện Kiều:
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
Sao bằng làm phước cứu cho một người.
Có hai từ Phật đồ: Phật đồ 佛徒, một dạng viết gọn của Phật giáo đồ 佛教徒, có nghĩa là tín đồ Phật giáo và Phật đồ 佛圖 đồng nghĩa với từ tháp 塔, còn được gọi là Phù Đồ 浮圖 (浮屠). Cả hai từ này (佛徒 và 佛圖) đều không có nghĩa là Phật 佛, chỉ có từ Phật đà 佛佗 mới có nghĩa là Phật 佛 (tiếng Sanskrit: बुद्ध, Buddha).
Trong tiếng Sanskrit, từ stupa स्तुप không có nghĩa là tháp 塔 hay tháp bà塔婆, nghĩa chính xác của nó là búi tóc. Chỉ có từ stupa trong tiếng Anh mới có nghĩa là tháp chứa hài cốt nhà sư. Từ này tương đương với từ staupika स्तौपिक trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là hài cốt đựng trong một tháp nhỏ hoặc trong điện thờ (nơi lưu giữ hài cốt của các bậc cao tăng của Phật giáo Tích Lan). 
 
KTTN 115, ngày 01-8-1993
Tại sao lại gọi là “đồng bóng“? Có phải “đồng” là do “tiên đồng ngọc nữ” hay không? Nhưng nếu thế thì “bóng” là do đâu?
AC: A. de Rhodes đã ghi như sau: “Đồng, cái đồng: Gương, kiếng.Gương. Cùng một nghĩa. Soi đồng: Nhìn vào gương để làm phù chú. Làm đồng làm cốt: Bà phù thủy nhìn vào gương để làm phù chú. Thầy đồng: Thầy phù thủy sử dụng gương, chiếu kính” (Từ điển Việt-Bồ-La, Nxb Khoa học xã hội, 1991).
Cứ theo những điều trên đây, thì các ông đồng bà đồng đã được gọi bằng tên của chính cái đồ vật mà họ sử dụng để hành nghề. (…). Khi đồng đã là cái gương, cái kiếng thì bóng tất nhiên là hình ảnh của cảnh và vật phản chiếu ở trong kiếng, trong gương. (…) Vậy đồng bóng là gương và hình ảnh của cảnh vật phản chiếu trong gương. Đó là nghĩa gốc. Còn nghĩa trong ông đồng bà đồnglên đồngđồng cô bóng cậu, v.v… là nghĩa phái sinh.
VTH: Cách giải thích của A. de Rhodes là nói về “phù thủy” phương Tây chứ không phải “ông đồng, bà đồng” ở Việt Nam. Do đó, nhận định “đồng bóng là gương và hình ảnh của cảnh vật phản chiếu trong gương” là không chính xác. Đồng bóng có nghĩa là “bóng của các thần linh trong cõi vô hình, mượn hình đồng để tiếp xúc, phù hộ cho người trần gian”. Các ông đồng, bà đồng cho thần linh hay vong hồn nhập vào họ, lúc ấy  họ không còn là chính mình, nghĩa là đã biến thành thần hay vong hồn để ban phúc lộc, trừ tà diệt ma, chữa bệnh, phán truyền điều gì đấy; còn người nhận những điều ấy được gọi là “con nhang” hay “đệ tử” v.v. Ở Việt Nam, đồng bóng còn được gọi là lên đồng, hầu đồng, hầu bóng…, một hoạt động tín ngưỡng dân gian có tính chất của Saman giáo (*). Về cơ bản, đây là hình thức giao tiếp của ông đồng, bà đồng với thế giới siêu linh bằng nghi thức nào đó. Thí dụ như “trò chơi phụ đồng chổi, thả thơ, đoán mộng, giao tiếp với các siêu linh, vong hồn” hình thức cầu cơ của đạo Cao Đài; nghi thức Đạo Mẫu của Đạo giáo; nghi thức lên đồng trong các thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ; hay Thanh Đồng trong tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần…Nhiều dân tộc ít người ở Việt Nam cũng có hình thức lên đồng (Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Mông, Thái…). Tùy dân tộc, người lên đồng có thể là thầy Mo, Tào, Then, Pựt, Xídi hay Mỡi…
*
(*): Saman giáo (A: Shamanism, P: Chamanisme) là một thuật ngữ của ngành nhân loại học, nói về tín ngưỡng và hoạt động liên quan tới sự giao tiếp với thế giới linh hồn. Pháp sư là người có khả năng tiếp cận và tạo sự ảnh hưởng đến thế giới linh hồn thiện và ác, người có thể xuất thần bước vào tình trạng lên đồng khi làm lễ để thực hành việc đoán tương lai, chữa bệnh, trừ tà…(xem thêm từ http://en.wikipedia.org/wiki/Shamanism).
Vương Trung Hiếu

NGUỒN GỐC CỦA MỘT SỐ ĐỊA DANH THUỘC NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN 1 (Chế Vỹ Tân)

Kì01.
CÀ NÁ
Trước đây cũng như hiện nay, Cà Ná là một địa điểm du lịch của cực nam Trung bộ, nổi tiếng về cảnh đẹp núi biển ôm sát nhau. Cà Ná còn là vùng có những cây mai vàng năm cánh rất đẹp. Mỗi độ xuân về, toàn đồi núi khu vực này rực lên một màu vàng nhạt tựa như một bức tranh huyền ảo…
Cách biển một cây số về hướng Tây, tọa lạc một làng Chăm – làng Rabha Ralauw – nay không còn nữa. Phía trên nữa có con suối nước rất trong, chảy róc rách quanh năm; trước kia người dân địa phương gọi là Suối Tiên, ngày nay chính là Suối Vĩnh Hảo…
Lúc bấy giờ, từ “Quốc lộ số 1″ (ngày nay), lại có một con đường tẻ lên làng Chăm và Suối Tiên. Ngã ba đó, người Chăm gọi là Canah kluw (đọc là Chanah klău); Canah có nghĩa là tẻ ra, kluw nghĩa là ba (ngã ba).
Người Việt đọc trại ra thành “Cà ná lâu”, về sau chữ “lâu” này rụng đi, chỉ còn lại “Cà na”.
THỊ NẠI hay NẠI
Dọc theo duyên hải miền Trung Việt Nam, chúng ta tìm thấy nhiều địa danh mang tên Thị Nại hoặc Nại.
Tại tỉnh Ninh Thuận, thôn Dư Khánh thuộc xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải, cũng có tục danh là NẠI. Vậy thì “Nại” này có nguồn gốc từ đâu?
Xưa kia, người Chăm sinh sống dọc bờ biển thường làm nghề đánh cá. Mỗi buổi sáng hay buổi chiều đều có các thuyền đánh cá tấp vào một vài nơi nhất định (nơi có những cư dân đông đúc) để bán cá. Do đó, về lâu về dài, những nơi này hình thành những “chợ nhỏ”, chủ yếu là để bán cá tươi cho người địa phương và các dân buôn.
“Chợ nhỏ” đó tên Chăm là darak naih (darak là chợ, naih là nhỏ), đọc là “tàrạk neh”. Người Kinh dịch chữ darak là Thị, còn chữ naih lại ngỡ là danh từ riêng, nên cứ gọi là Né hay Thị Né. (Sự chuyển đổi từ phụ âm cuối Chăm h sang thanh hỏi hay nặng trong tiếng Việt là điều thường gặp).
Vì thế, chữ Né và Thị Né đọc trại ra thành NẠI hay THỊ NẠI, và các từ này tồn tại cho đến ngày hôm nay.
SÔNG DINH
Tại thị xã Phan Rang – Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận, có con sông Cái từ thượng nguồn chảy về biển, băng ngang qua phía Nam thị xã này. Người địa phương gọi con sông đó là Sông Dinh.
Từ Dinh này có phải có nguồn gốc từ tiếng Chăm không?
Theo chúng tôi, có lẽ từ Dinh xuất phát từ chữ DING (đọc là Tìng) của người Chăm. Ding có nghĩa là phố, nau ding có nghĩa là đi xuống phố.
Con sông chảy ngang phố (phía nam Phan Rang), người Chăm gọi là KRAUNG DING (có nghĩa là Sông Phố), và người Kinh phiên âm ra thành SÔNG DINH, theo âm tiếng Chăm đọc trại ra.
SÔNG MAO
Sông Mao là một địa danh thuộc tây bắc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, trước đây (sau giải phóng) là huyện lỵ của huyện Bắc Bình.
Theo hiểu biết của chúng tôi, từ Sông Mao có nguồn gốc khá lí thú! Qua sự giải thích của một thân hào Chăm, chúng ta có thể hiểu như sau:
Trong khu vực Sông Mao bây giờ có đồng ruộng của người Chăm tục gọi là Hamu Pa-auk (đọc là pa-ó, nghĩa là cây xoài). Cạnh ga Sông Mao có một con sông nhỏ người Chăm gọi là kraung pa-auk. Người Kinh dịch thành SÔNG PA-Ó. Chuyển đổi âm từ P của Chăm sang M của Việt: từ Sông Pa-ok được viết là Sông MA-Ó. Vả lại thời Pháp thuộc dấu sắc ở nguyên âm o không thể hiện được trên máy đánh chữ (ó thành o), vì vậy trong các văn bản hành chánh thời đó ta thường thấy viết Sông Ma-o. Sau này, dấu ngang rụng đi do cách đọc gộp thành một âm của những người Pháp (thời Pháp thuộc), cuối cùng ta có từ SÔNG MAO của ngày hôm nay.
*
Trong Tagalau4.
Kì02.
Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết mà các sách địa lý thường gọi là “Tam Phan”, được cả nước biết đến là do đặc điểm ít mưa nhiều nắng nhất nước. Đây là 3 địa danh thuộc cực nam Trung bộ, xưa kia thuộc đất Panduranga, tiểu bang cực nam của xứ Champa cũ.
Theo chúng tôi tìm hiểu thì cả 3 từ này đều có nguồn gốc từ tiếng Chăm.
PHAN RANG là biến dạng của từ Chăm: PA-NRANG, hay còn được gọi là PANDARANG. Đó là từ địa phương viết theo tiếng Chăm hiện đại (akhar thrah) để chỉ vùng tỉnh Ninh Thuận ngày nay. Thông thường các nhà nghiên cứu Việt nam và nước ngoài hay nhầm lẫn giữa 2 danh từ Pandarang và Panduranga vì cho 2 từ này chỉ là một (đồng nghĩa với nhau). Sự thật không phải thế, vì Panduranga là tiếng Phạn (Sanscrit) dùng để chỉ vùng đất chung của cả 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay, đúng hơn là cả một phần của Đồng Nai nữa, vì các sách cổ Chăm luôn nhắc đến Đồng Nai thượng và Đồng Nai hạ, khi nói đến Panduranga (theo E.Durand. P.B.Lafont và L.Finot).
PHAN RÍ: Đây là phiên âm của danh từ Chăm PA-RIK, địa danh chỉ vùng nằm giữa KRONG (tức sông Lòng Sông hay huyện Tuy Phong hôm nay) và PAJAI (tức Phố Hài). Panrang – Kraung – Parik – Pajai là 4 vùng chính của Panduranga cũ đang có đông cư dân Chăm.
PHAN THIẾT: Đây là sự biến dạng của từ Chăm HAMU LITHIT (Ruộng Lithit). Người Chăm thường gọi tắt là Mu Thit, nên trước đây được phiên âm là Man Thiết (thời Pháp thuộc) trước khi trở thành Phan Thiết của ngày hôm nay.
LADI: tức là vùng huyện Hàm Tân bây giờ (thuộc tỉnh Bình Thuận), xưa kia là đất Nưgar LADIK của xứ Panduranga cũ (đọc là La-tik theo âm Chăm). Danh từ LADIK được phiên âm thành La Di ngày nay.
SÔNG LA NGÀ: Đây là con sông bắt nguồn từ bình nguyên Lâm Đồng, chảy qua các huyện phía nam tỉnh Bình Thuận để đổ xuống biển Đông. Vậy, từ La Ngà có nguồn gốc từ đâu? Đây không phải là một danh từ Chăm. La Ngà có nguồn gốc từ tiếng Kơho, vì sông này có dòng chảy băng qua các vùng cư trú của đồng bào Kơho. Vào mùa hạ, sông này khô nước, lòng sông nổi lên nhiều đá cuội đen trắng lấp lánh dưới ánh mặt trời giống như một bãi phơi hạt mè màu trắng đen vậy. Vì thế mà người Kơho đặt tên con sông này là sông LƠNGA – sông Hạt Mè (Lơnga là hạt mè (vừng – theo Từ điển Việt – Kơho, Sở VHTT Lâm Đồng, 1983, tr.164). Người Việt phiên âm là La Ngà.
Người Kơho còn gọi con trâu trắng có chấm đen li ti là “rơpu lơnga” (con trâu hạt mè).
CỔ HỦ: là tục danh của làng Mỹ Tường thuộc xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Làng này tọa lạc gần biển, và trước đây mang địa danh là BAL HUH của Champa cũ (Bal: thủ đô, đây là thủ đô tạm thời khi phải di chuyển về phía nam do chiến cuộc cũng như sau này chuyển về Bal Ywa, Bal Lai, Bal Caung (1)… trước khi đến Bal Canar ở Phan Rí là thủ đô cuối cùng). Sau này khi không còn Bal nữa, người Chăm chỉ gọi gọn địa danh này là HUH. Chính từ HUH này đã được phiên âm biến thành Cổ Hủ.
HÒA LAI: là một địa danh ở bắc Ninh Thuận thường được gọi là Ba Tháp, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải. Trên quốc lộ số 1, du khách bắt gặp hai ngọn tháp Chăm cổ kính tọa lạc phía đông con đường, cách ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận khoảng 8 km (ngọn thứ ba đã bị đổ nát từ lâu). Nơi đây chính là HÒA LAI. Xưa kia địa danh này mang tên là BAL LAI (thủ đô đã điêu mất). Chính từ Bal Lai này đã được phiên âm thành Hòa Lai.
GÒ ĐỀN là tên gọi của một làng Công giáo tọa lạc giữa Hòa Lai và Hộ Diêm, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh NinhThuận. Khu vực này là một gò lớn, và ở giữa gò ấy có một cái đền của người Chăm. Đền này đã đổ nát và ngay trên địa điểm đó bây giờ nhà thờ Công giáo được xây dựng lên. Vậy địa danh Gò Đền mang đặc điểm của khu đât này: đất GÒ có ĐỀN của người dân tộc Chăm.
GÒ SẠN là tên gọi một làng nằm sát phái bắc Gò Đền. Đây cũng là vạt đất gò cao tiếp nối với vạt đất Gò Đền. Vạt đất này là đất sạn (đá sỏi nhỏ). Chính vì đặc điểm này mà người dân địa phương mới đặt tên là Gò Sạn.
CÀ ĐÚ, CHÀ BANG
Đây là tên gọi 2 hòn núi ở phía bắc và phía nam tỉnh Ninh Thuận.
CÀ ĐÚ là hòn núi ở phía tây Đầm Nại, thuộc xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải. Nơi đây có làng mang tên là làng Cà Đú (nay đổi lại thành thôn Lương Cách). Cà Đú là một từ Chăm xuất phát từ tên gọi hòn núi KAĐUK nói trên. Từ Kađuk được phiên âm ra tiếng Việt là Cà Đú.
CHÀ BANG là tên gọi hòn núi ở phía bắc thôn Văn Lâm (cách chừng 7 km) thuộc xã Phước Nam, huyện Ninh Phước. Người Chăm thường gọi là Cơk Cabbang, có nghĩa là hòn núi có ngọn tẻ đôi như “cabbang” (chữ V).
Người Việt phiên âm thành Chà Bang.
PALEI RƠM (đọc là râm). Từ RƠM này rất gần gũi với người Chăm, nhưng rất ít người Chăm hiểu nghĩa chính xác của nó là gì. Xin nói rõ Palei Rơm là tục danh của thôn Văn Lâm (thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Từ trước đến nay đại đa số người Chăm chỉ hiểu từ “râm” là rừng rậm; từ đó suy diễn ra một cách lôgic là trước đây khu vực này toàn rừng rú rậm rạp, đầy thú dữ. Nhưng khi đọc lại các văn bản cổ Chăm, ta mới hiểu từ “râm” còn có nghĩa khác là: “đất gò” (đất cao), nhất là khi tra cứu từ điển Malaysia thì ta càng sáng tỏ hơn, chữ “râm” đúng có nghĩa là “đất gò”.
Vậy “Palei Rơm” có nghĩa là thôn Đất Gò, và nói theo tiếng Chăm thông thường là Palei Tabbok (đọc là tabôk). Rõ ràng chúng ta đang sử dụng từ ngữ đó mà không nhận ra Tabbok Gah: chỉ ấp Gò Dưới, Tabbok Krưh: chỉ ấp Gò Giữa, và Ram Ngauk để chỉ ” ấp Gò Trên” đó sao?
(1) Chú thích: thứ tự này là do tác giả suy luận theo lôgic từ biển lên giữa đất liền, và từ bắc xuôi về nam tại Pandarang, chứ không tìm ra trong tư liệu nào. Vậy tính chính xác không được đảm bảo.
*
Trong Tagalau5.
Kì03.
ĐÀ NẴNG. Là biến dạng của từ Chăm DAKNAN. Theo tài liệu của cụ Bố Thuận (nhà nghiên cứu Chăm, gốc Phan Rí, sống vào đầu thế kỷ XX) thì chữ dak có nghĩa là nước (Chăm cổ), nan hay nưn (tứclanưng) là rộng. Địa danh Daknan hàm ý chỉ vùng sông nước rộng mênh mông (cửa sông Hàn bây giờ). Người Việt phiên âm ra thành Đà Nẵng.
Tourane. Vào thời Pháp thuộc (và trước đó), địa danh Đà Nẵng thường được gọi là Tourane. Vậy từ Tourane này do đâu mà ra? Cũng theo tài liệu của cụ Bố Thuận thì chữ DAKNAN của Chăm người Trung Hoa gốc Hải Nam đọc là TOUNAN, do đó mà phiên âm thành Tourane.
CÙ LAO CHÀM. Đó là một hòn đảo ở ngoài khơi tỉnh Quảng Nam. Trước đây, cù lao này là nơi cư trú của các dân chài Chăm (tức Chàm) và dĩ nhiên mang tên Chăm. Rất tiếc hôm nay không ai còn nhớ. Về sau, qua biến đổi của lịch sử, người Chăm đã di tản đi nhiều nơi (có lẽ đông nhất là Hải Nam của Trung Quốc) và người Việt gọi địa danh này là Cù lao Chàm, nghĩa là cù lao của người Chăm cư trú trước đây.
SÔNG CAM LỘ. Sông Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị, có lẽ có nguồn gốc từ chữ Ca Lo, hay còn gọi là Khu Lu, và danh từ này đã được phiên âm ra thành Cam Lộ của ngày nay.
BỒNG MIÊU. Bồng Miêu là một vùng đồi núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Xưa kia những đồi này có nhiều vàng mà người Chăm đã từng khai thác. Chính vì vậy mà vùng này mang địa danh Chăm là Bbon Amưh (Đồi vàng), và được phiên âm thành Bồng Miêu.
TRÀ BỒNG, SƠN TRÀ, TRÀ KHÚC, TRÀ MI. Đó là những địa danh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Những từ ngữ này gợi lại những âm Chăm: Chữ Trà là phiên âm của chữ phạn Jaya (một trong 4 họ chính thống Ôn, Trà, Ma, Chế của người Chăm).
SÔNG ĐÀ RẰNG. Đó là con sông chảy qua phía nam Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên. Từ Đà Rằng mang âm Chăm và có nguồn gốc từ chữ Dairios (tên của con sông này trước kia). Chính từ này lại được phiên âm từ chữ Dak Riong, có nghĩa là sông sâu hầm hố (từng chữ một: hầm hố liên tiếp). Từ chữ Dairios, người Việt phiên âm thành Đà Rằng.
ĐẬP ĐỒNG CAM. Đập Đồng Cam tọa lạc tại Phú Yên, nơi có đồng ruộng lúa nước lớn nhất miền Trung. Đập này xưa kia chắc chắn mang tên Chăm nhưng nay không ai còn nhớ nữa. Người Việt đặt tên đập này là Đập Đồng Chàm, nghĩa là đập của đồng lúa người Chàm trước đây. Nhưng vào thời Pháp thuộc, người Pháp viết là Cam (chữ Cam họ viết theo bộ chữ cái Chăm theo hệ thống latinh hóa của E.Aymonier trong đó chữ C mang âm Ch). Nhưng hôm nay chúng ta đọc theo chữ cái Việt thành “Cam” thay vì Cham.
VẠN GIÃ. Dãy núi trùng điệp tạo ra Đèo Cả ở bắc Khánh Hòa trước đây mang tên Kauthara (cũng là tên Tiểu vương quốc của Thánh địa Po Nagar). Nhiều học giả Chăm khẳng định từ Vạn Giã là biến dạng của chữ Kauthara vậy.
NHA TRANG. Thành phố thuộc xứ Kauthara cũ, người Chăm thường gọi là Ia Trang (Ia là nước, Trang là đan chéo) hàm ý chỉ nơi có hai luồn nước chảy đan chéo nhau. Danh từ Ia Trang được phiên âm ra thành Nha Trang ngày nay. Cũng có một nhận định khác là chữ Trang (trong Ia trang) có nghĩa là lau, sậy. Và từ Ia Trang dùng để chỉ vùng sông nước có nhiều lau sậy.

Đọc Chuyện Đông – Chuyện Tây 1 (Vương Trung Hiếu)

Đọc Chuyện Đông – Chuyện Tây (P.1)

Vương Trung Hiếu

Trước đây, trên Kiến Thức Ngày Nay (KTNN) có mục Chuyện Đông – Chuyện Tây của tác giả Huệ Thiên (An Chi). Mấy ngày nay, tình cờ vào vnthuquan.net chúng tôi thấy đăng lại một số bài viết trong mục Chuyện Đông – Chuyện Tây năm 1992 -1993. Tò mò chúng tôi đọc rồi giật mình vì nhận ra có những chi tiết “đáng ngờ” trong loạt bài ấy. Chúng tôi trích đăng lại ở đây một số nhận định của ông An Chi và nêu quan điểm của chúng tôi để bạn đọc đối chiếu, ngõ hầu làm sáng tỏ đôi điều về chữ nghĩa. Do trích từ bản sao trên mạng nên có thể một số chi tiết trong loạt bài ấy bị lỗi kỹ thuật, không chính xác như bản gốc trên KTNN. Bạn đọc nào phát hiện ra những sai sót so với bản gốc, xin vui lòng gởi email thông báo để chúng tôi kịp thời chỉnh sửa. Xin chân thành cám ơn.
KTNN 95, ngày 01-11-1992
AC (An Chi): Trước hết xin nói rằng đây là rể Đông sàng, dâu Nam giánchứ không phải là “Đông sàn” và “Nam giáng“. Sàng là giường: vậy Đông sàng là giường phía Đông. Gián là khe núi: vậy Nam gián là khe núi phía Nam. Vế rể Đông sàng bắt nguồn ở tích Đông sàng thản phúc, nghĩa là nằm thẳng bụng trên giường phía Đông. Chuyện rằng nhà Vương Đạo có nhiều con trai chưa vợ nên Hy Giám mới cho người sang đọ để kén chồng cho con gái. Đám con trai nhà họ Vương biết thế nên anh nào cũng lăng xăng tìm cách làm cho khách để ý. Chỉ có Vương Hy Chi là nằm khểnh trên giường ở phía Đông, coi như không có chuyện gì xảy ra. Nghe người nhà thuật lại, Hy Giám biết Hy Chi ắt là rể quý, bèn chọn ngày lành tháng tất mà gả con gái cho. (…) Còn vế dâu Nam gián thì bắt nguồn từ lời của một bài trong Kinh Thi của Trung Hoa: Vu dĩ thể tần, Nam gián chi tânnghĩa là đi hái rau tần bên khe núi phía Nam . Chỉ sự tần tảo của người con gái. Dâu Nam gián là con dâu chịu thương chịu khó. Truyện Lục Vân Tiên có câu:
Xem đà đẹp đẽ hòa hai:
Này dâu Nam gián, nọ trai Đông sàng.
VTH (Vương Trung Hiếu): Phần giải thích trên có những chi tiết nhầm lẫn sau:
– Trong điển cố Đông sàng thản phúc 東床坦腹, quan Thái Uý  Si Giám 郗鑒 là người kén chồng cho con gái chứ không phải là Hy Giám. Si Giám chọn rể từ những học trò, con cháu của Vương Đạo王導 chứ không phải từ “đám con trai” của Vương Đạo. Bởi vì, cha của Vương Hi Chi 王羲之 là Vương Khoáng chứ không phải là Vương Đạo. Vương Đạo là bá phụ của Vương Hi Chi, tức anh của Vương Khoáng.
– Nếu chỉ căn cứ vào chi tiết: “Vương Hy Chi nằm khểnh trên giường ở phía Đông, coi như không có chuyện gì xảy ra” thì làm sao có thể biết đó là rể quý? Thật ra, nội dung điển cố cho biết Vương Hi Chi 王羲之nằm trên giường, ăn bánh và cầm cọ viết thư pháp, không quan tâm đến chuyện chung quanh. Đây mới là chi tiết khiến Si Giám cho rằng Vương Hi Chi có tài, xứng đáng là rể quý.  Đúng như dự đoán của Si Giám, Hi Chi là người học giỏi, có tài viết chữ đẹp, về sau làm đến chức Hữu Quân 右军. Ông còn là nhà thư pháp vĩ đại nhất thời Đông Tấn (317-420), được người đời sau tôn là Thư Thánh.
– “Vu dĩ thể tần, Nam gián chi tân” là câu sai, viết đúng phải là Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân, 于以采蘋, 南澗之濱 (trích từ bài  thơ Thái Tần 采蘋trong Kinh Thi 詩經).
– “Thể” không có nghĩa là “hái”. Những từ Hán có âm Hán Việt là “thể” (婇, 体, 躰, 體, 醍) đều không có nghĩa là “hái”.  Thái 采 mới có nghĩa là “hái”.
– Nam gián là cách viết sai, viết đúng phải là Nam giản. “Gián” không có nghĩa “khe núi”. Tất cả những chữ Hán có âm Hán Việt là  “gián” (谏, 瞷, 覸, 諫, 僩, 閒) đều không có nghĩa là “khe núi”. Giản 澗 mới có nghĩa là “khe, suối, dòng nước giữa hai núi”.  Vì thế, câu Vu dĩ thái tần, nam giản chi tân có nghĩa là “Đi hái rau tần, ở khe suối phía Nam”.
– Câu “Này dâu Nam gián, nọ trai Đông sàng” trích trong Lục Vân Tiên bị sai ở chữ “gián”, viết đúng phải là “giản”.
Lạm bàn: Thoạt nhìn, Đông sàng 東床 có nghĩa “là giường phía Đông”, nhưng nếu biết về nghi thức xưa của người Trung Hoa thì có thể hiểu khác hơn về hai chữ này. Ngày xưa, nơi ngủ của hoàng tử sắp kế vị vua thường được xây ở phía Đông (Đông cung), còn nơi ngủ của giới sĩ phu thường tuân theo nguyên tắc: giường đặt ở phía Bắc, còn đầu giường thì quay về phía Đông. Vậy, có thể hiểu đông sàng là “giường quay đầu về phía Đông” được chăng? Điều này có ghi rõ trong thiên Kí tịch lễ 既 夕禮, trích từ Nghi lễ 儀 禮: Sĩ xứ thích tẩm, tẩm đông thủ vu bắc dong hạ 士 處 適 寢, 寢 東 首 于 北 墉 下 (Phòng ngủ của kẻ sĩ, giường được đặt ở phía Bắc, đầu quay về phía Đông). Câu trả lời xin dành cho những bậc thức giả uyên bác về Hán học.
KTNN 96, ngày 15-11-1992
AC: Tổ tiên của người Pháp là người Gô-loa (Gaulois). Người Gô-loa, tiếng La Tinh gọi là Gallus. Danh từ Gallus trong tiếng La Tinh lại có một từ đồng âm tuyệt đối là gallus, có nghĩa là con gà trống. Thế là cái vỏ ngữ âm gallus của tiếng La Tinh vừa biểu hiện khái niệm “người Gô-loa” lại vừa biểu hiện khái niệm con gà trống”. Vậy cứ theo ngôn ngữ này, người ta có thể chơi chữ bằng đẳng thức: Người Gô-loa (Gallus) = con gà trống (gallus). (…) Nếu ta biết rằng tiếng Pháp hiện đại là do tiếng La Tinh thông tục (latin populaire) mà ra thì ta cũng sẽ không lấy làm lạ tại sao người Pháp lại căn cứ vào tiếng La Tinh để chọn biểu tượng cho dân tộc mình như thế.
VTH:  Trước hết, cần khẳng định rằng người Pháp không căn cứ vào tiếng Latin để chọn gà trống làm biểu tượng cho dân tộc mình và người Pháp không phải là người nghĩ ra cách chơi chữ gallus. Có lẽ người đầu tiên nhận thấy sự đồng âm của từ gallus là  Gaius Suetonius Tranquillus. Vào thời La Mã cổ đại,  trong bộ De Vita Caesarum, Suetonius đã nhận xét rằng trong tiếng Latin, gà trống (gallus) và người Gaulois (Gallus) là từ đồng âm. Tuy nhiên, kể cả ông và người Pháp cũng không phải là người nghĩ ra cách chơi chữ gallus. Cách chơi chữ này do chính kẻ thù của nước Pháp đặt ra từ thời Trung cổ nhằm để chế giễu người Pháp. Song, việc cho rằng gà trống là biểu tượng của dân tộc Pháp là điều không chính xác, vì thời đó gà trống không được xem là sự nhân cách hoá dân tộc của người Pháp và nó cũng không phải là con vật thiêng của người Gô –loa trong thần thoại của họ. Mặt khác, không có khái niệm “quốc gia Gô -loa”, chỉ có sự liên kết lỏng lẻo những quốc gia thuộc vùng Gaule (*). Oái oăm thay, những vị vua của nước Pháp vào thời kỳ ấy lại chấp nhận cách chơi chữ gallus và phát triển nó để củng cố vững chắc cho biểu tượng của Cơ Đốc giáo, đó là hình ảnh của con gà trống.  Trước khi bị bắt, Chúa Jésus có nói với thánh tông đồ Peter về tiếng gà gáy.  Tiếng gáy vào mỗi sáng được xem là biểu tượng chiến thắng hàng ngày của ánh sáng trước bóng tối và sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác. Ngoài ra, nó còn là sự biểu trưng cho thái độ thận trọng và sẵn sàng của người Công giáo đối với sự trở lại đột ngột của Chúa, hiện tượng phục sinh sau khi Chúa qua đời và sự phán quyết cuối cùng của nhân loại. Đó là lý do tại sao, trong thời Phục Hưng, gà trống trở thành biểu tượng của nước Pháp, vì nước này chủ yếu là người Công giáo. Gà trống đã trở thành hình ảnh Công giáo phổ biến trên những cái chong chóng chỉ hướng gió (weathervanes). Tóm lại, người Pháp chọn biểu tượng gà trống Gô-loa cho dân tộc mình không phải xuất phát từ tiếng Latin, mà vì chính họ là người Công giáo.
*
KTNN 96, ngày 15-11-1992
AC: Sở dĩ sách xưa không có tên Hồng Hà vì đây là một cái tên rất mới do chính người Việt chúng ta dịch từ tiếng Pháp, gọi nôm na hơn một chút là sông Hồng. Sông Hồng có đặc điểm nổi bật là nước của nó về mùa lũ thì rất đỏ, nên người Pháp dựa vào đó mà gọi nó là fleuve Rouge (sông Đỏ). (…) Vậy Hồng Hà hay sông Hồng chỉ là những “bản dịch” sang tiếng Việt của tiếng Pháp fleuve Rouge mà thôi. Xin phân biệt với Hồng Giang, một chi lưu xưa của sông Hồng, chảy qua tỉnh Hải Dương.
VTH: Hồng Hà không phải là cái tên dịch từ tiếng Pháp. Nó là tên con sông 红河 bắt nguồn từ Trung Quốc, được người Việt gọi theo âm Hán Việt là Hồng Hà. Chính người Pháp đã dịch cái tên Hồng Hà hoặc 红河 sang tiếng Pháp là fleuve Rouge (sông Đỏ). Theo Wikipedia, Hồng Hà bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào Việt Nam rồi đi ra biển Đông. Đoạn chảy trên lãnh thổ Trung Quốc gọi là Nguyên Giang 元江, đoạn đầu nguồn gọi là Lễ Xã Giang 禮社江. Đoạn trên lãnh thổ Việt Nam còn được người Việt gọi là sông Hồng hay sông Cái (người Pháp phiên tên gọi này thành Song-Koï). Sử Việt còn ghi tên Hồng Hà là Phú Lương. Đoạn chảy qua Phú Thọ gọi là Sông Thao, đoạn qua Hà Nội còn gọi là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà. Xin lưu ý, ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc cũng có một con sông khác với tên gọi là Hồng Hà 洪河, đây là chi lưu của Hoài Hà 淮河 (hay Hoài Thủy 淮水).
KTNN 99, ngày 01-01-1993
Tiếng Anh đã có từ Christmas để chỉ lễ Giángsinh, lại còn có cả từ Yule nữa. Xin cho biết xuất xứ của từ này.
ACYule là hình thái hiện đại bắt nguồn từ tiếng Anh trung đại yol, tiếng Anh cổ đại geol, với biến thể geohhol. Đồng nghĩa và cùng gốc với nó hiện nay là tiếng Thụy Điển, tiếng Na Uy và tiếng Đan Mạch jul mà tiếng Phần Lan láng giềng đã mượn và phát âm thành joulu. Theo Eric Partridge, hình thái cổ đại geol bắt nguồn từ một hình thái tiền thân là geol, một kiểu hoán vị ngữ âm (metathesis) cùng gốc với tiếng La Tinh gelu, có nghĩa là băng giá. Do đó mà tiếng Anh cổ đại còn có danh từ geola để chỉ tháng December (tháng Chạp dương lịch), mà nghĩa từ nguyên là tháng băng giá. Còn geol, nay là Yule, là ngày lễ của tháng geola, tức là ngày Giáng sinh.
VTH: Theo sử gia người Anh Bede (thế kỷ thứ 8),  trong lịch Anglo-Saxon có tháng geola hay giuli tương ứng với tháng 12 hoặc tháng 12 và tháng giêng trong dương lịch. Vì thế có thể khẳng định rằng Yule không chỉ là ngày lễ của tháng geola. Mặt khác, ngay từ lúc mới xuất hiện với tư cách là lễ hội, Yule  cũng không phải là từ dùng để chỉ ngày Giáng sinh của đạo Cơ Đốc.
Theo Wikipedia, Yule hay Yuletide là từ dùng để chỉ giai đoạn mùa đông và là lễ hội mà người Đức sử dụng ngôn ngữ thuộc hệ Ấn Âu (Germanic peoples) và vài dân tộc láng giềng khác tổ chức, xem như một lễ hội tôn giáo, về sau được đánh đồng với lễ Giáng sinh (Christmas, 25 tháng 12) của người Cơ Đốc giáo. Dấu tích xưa nhất cho sự kiện này là dựa theo lịch địa phương Đức (Germanic calendars). Vào thế kỷ thứ 4, Yule là tên tháng xuất hiện trong ngôn ngữ của người Goth (Gothic), gọi là  fruma jiuleis. Nhìn chung, Yule là một lễ hội hoạt động kéo dài từ giữa tháng 11 đến đầu tháng Giêng, giai đoạn tập trung nhất là vào khoảng giữa mùa đông (winter solstice). Những nhà nghiên cứu đã nối kết lễ này với thần thoại dân gian cổ Wild Hunt và thần Odin để tăng thêm hoạt động có tính siêu nhiên và sự kiện đêm Modranicht của người Anglo-Saxon ngoại giáo.
Xét về từ nguyên, Yule trong tiếng Anh hiện đại có nguồn gốc từ những chữ trong tiếng Anh cổ: ġéol hay ġéohol và ġéola hay ġéoli, với nghĩa cổ là “lễ hội Yule 12 ngày”, sau đó có nghĩa là nghĩa “mùa Giáng sinh” (Christmastide, từ 24/12 đến 06/01) và cuối cùng là nghĩa “tháng Yule”. Vì thế  ǽrra ġéola có nghĩa là giai đoạn trước lễ Yule (tháng 12), còn æftera ġéola là giai đoạn sau lễ Yule (tháng Giêng). Cả hai từ ġéol và ġéola được tin là có nguồn gốc từ nhóm ngôn ngữ Germanic và có cùng gốc với từjiuleis trong ngôn ngữ của người Goth (Gothic), từ jól trong  tiếng Đức cổ, từ jul trong tiếng Đan Mạch và Thụy Sĩ , từ jul hoặc jol và ýlir trong tiếng Na Uy (1). Tuy nhiên, gốc từ nguyên của Yule không còn dấu tích đáng tin cậy, mặc dù đã có một số nghiên cứu cố gắng suy đoán về những từ cùng gốc trong hệ ngôn ngữ Ấn Âu bên ngoài nhóm  Germanic (2). Danh từ Yuletide (mùa giáng sinh, mùa Nô en) được chứng thực lần đầu tiên vào khoảng năm 1475 (3). Ngày nay, trong những quốc gia nói tiếng Anh,Yule là từ được dùng trong phạm vi hẹp để nói về mùa Giáng sinh. Thí dụ, trong mùa Giáng sinh, có những tục lệ như  Yule log, Yule goat, Yule boar, Yule singing…, ngoài ra cũng có những thuật ngữ khác xuất phát từ chữ Yule.
*
(1): Bosworth & Toller (1898:424); Hoad (1996:550); Orel (2003:205).
(2) Proto-Germanic (thường viết tắt là PGmc.) hay Common Germanic là tiền ngôn ngữ của tất cả các ngôn ngữ thuộc nhóm Germanic được tái thiết, thí dụ như tiếng Anh hiện đại,  tiếng Frisian, Hà Lan, Afrikaans, Đức, Luxembourgish, Đan Mạch, Na Uy, Icelandic, Faroese và Thụy Điển. Proto-Germanic là giai đoạn ngôn ngữ tạo thành hình thức sơ khai phổ biến nhất gần đây của nhóm ngôn ngữ Germanic. Proto-Germanic có nguồn gốc từ ngữ hệ tiền Ấn Âu (Proto-Indo-European – PIE).
(3): Barnhart (1995:896).
KTNN 100, ngày 15-01-1993
ACtư trong “tư niên” thì lại không liên quan gì đến tư trong “ngày tư ngày tết” cả. Nó là tư trong tư bề, tư mùa, nghĩa là một biến thể ngữ âm của tứlà bốn. Tư bề là bốn bề, nghĩa là mọi phía; tư mùa là suốt bốn mùa, nghĩa là quanh năm. Sự di chuyển tự nhiên và hợp lý từ bốn sang mọi, sangquanh trong nghĩa của tư bề, tư mùa đã dẫn đến cách hiểu sai lệch rằngtư có nghĩa là quanh, là khắp, là cả, v.v.. Với cách hiểu sai lệch này, người ta đã nói tư niên mà hiểu là quanh năm.
VTH không phải là nghĩa biến âm của tứ (bốn), do đó nó không liên quan gì với chữ tư trong tư bề và tư mùa. Trong tiếng Hán, tư  thuộc bộ thảo, có nghĩa là “năm”. Chữ niên  thuộc bộ Can , cũng có nghĩa là “năm”. Chính từ sự giống nhau giữa  (năm) với niên (năm) nên người ta mới ghép chung thành “tư niên” (từ ghép đẳng lập), dùng để nhấn mạnh khái niệm thời gian nói chung là “năm”. Từ ghép đẳng lập kiểu này xuất hiện khá nhiều trong tiếng Việt. Thí dụ: bằng 朋 (bạn cùng chí hướng) vàhữu友 (bạn quen biết), gọi chung là bạn bè; Hiểm 險 và  trở 阻 đều là chỗ trọng yếu hay hiểm yếu, gọi chung là nơi trọng yếu hay hiểm yếu…
KTTN 103, ngày 01-3-1993
Tại sao người Việt Nam lại gọi người Trung Hoa là “Tàu”?
AC: Chúng tôi cho rằng Tàu là âm cổ Hán Việt của từ ghi bằng 曹 mà âm Hán Việt hiện đại là tào, có nghĩa là “quan”. Trong thời kỳ Bắc thuộc, nói chung quan cai trị là người Trung Hoa cho nên dân chúng đã quan niệm rằng người Trung Hoa là tàu, nghĩa là quan. (…) Do quan niệm trên mà về sau tất cả mọi người Trung Hoa dù không làm quan – đây là tuyệt đại đa số – cũng được “vinh dự” gọi là Tàu.
VTH: Phần đầu bài viết, ông An Chi cho biết: “Đã có nhiều người liên hệ tên gọi này với từ tàu trong tàu bè. Xin chép Huình-Tịnh Paulus Của làm dẫn chứng: “Người An Nam thấy tàu bè khách qua lại nhiều, lấy đó mà gọi là nước Tàu, người Tàu” (Đại Nam quấc âm tự vị, t.II, Saigon, 1896, tr.346)”. Theo chúng tôi, đây là cách giải thích hợp lý, thế nhưng ông An Chi lại bác bỏ ý kiến này rồi khẳng định “tàu có nghĩa là quan” như trên. Chúng tôi không đồng ý cách giải thích của ông An Chi. Thứ nhất, chúng tôi không nghĩ rằng “tàu là âm cổ Hán Việt” (ông An Chi không có dẫn chứng về nhận định này); thứ hai, trên thực tế, người Hoa sinh sống tại Việt Nam không thích bị gọi là “người Tàu” hay “ Ba Tàu”, vì theo họ đó là hai cách gọi có tính chế giễu, miệt thị. (Nếu “tàu” có nghĩa là “quan” thì tại sao họ lại không thích chứ?).  Ngày xưa người Trung Hoa dùng tàu chở hàng hóa sang nước ta buôn bán khá nhiều nên dân ta thường gọi họ là “người Tàu” và gọi hàng hóa của họ là “hàng Tàu, đồ Tàu”.  Trong khi đó, quan niệm cũ trước đây ở nước ta là “Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương”. Phải chăng, vì thế mà người buôn bán “bị” xem là có đẳng cấp thấp trong xã hội? Nếu thật vậy thì cách gọi “người Tàu”, có thể hiểu là chê người Hoa thuộc thành phần thấp kém nên họ không thích. Mặt khác, người Hoa là người Việt gốc Hoa, họ không muốn bị xem là “người lạ”, “người ngoại quốc” trên đất Việt Nam. Còn “Ba Tàu” xuất phát từ “ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu.” (trích từ mục Tạp vụ trong Gia Định báo, số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16 tháng 2 năm 1870).
KTTN 105, ngày 01-4-1993
Xin cho biết vắn tắt sự tích của ông Thần Tài.
AC: Theo truyền thuyết thì thần tài chính là Triệu Công Minh, người đã sống vào thời nhà Tần. Ông đã lánh đời mà dốc lòng tu tiên ở núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên soái, coi việc xua ôn đuổi dịch, cứu bệnh trừ tai. Lại nữa, phàm ai bị oan ức đến cầu cứu nơi ông đều được ông giúp làm cho sáng tỏ. Người buôn bán cúng ông để cầu tài cầu lộc cũng được ông giúp cho như ý muốn. Người ta thường vẽ ông thành hình một người mặt đen, râu rậm, tay cầm roi, mình cỡi trên lưng một con cọp đen. Người ta cũng thường hay vẽ hình ông trên ảnh đăng (một loại đèn cù) và còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hoặc Triệu Công Nguyên Soái.
VTH: Cách giải thích trên có hai điểm chưa chính xác như sau: thứ nhất, người Việt Nam và Trung Quốc thờ nhiều vị thần tài chứ không phải duy nhất một thần là Triệu Công Minh. Thứ hai, Triệu Công Minh không phải là “Tài Bạch Tinh Quân”.
Theo truyền thuyết Trung Hoa, tài thần (hay thần tài) được chia thành những nhóm sau:
– Văn tài thần文財神: gồm có Tài Bạch Tinh Quân 財帛星君,Tỉ Can 比幹, Phạm Lãi 範蠡, Phúc Lộc Thọ Tam Tinh (Tam Đa) và Tài Hòa Hợp nhị tiên (hai nữ tài thần của người sản xuất đồ gốm sứ, chạm khắc gỗ, thợ nung vôi và người bán quạt).
– Vũ Tài thần 武財神: gồm có Quan Thánh Đế quân 關聖帝君 (tức Quan Vũ – 關羽, Quan Vân Trường  關雲長) và Triệu Công Minh 趙公明.
– Thiên Tài thần 偏財神: gồm có Ngũ Hiển Tài thần 五顯財神 và Ngũ Lộ Tài thần 五路財神.
– Chuẩn Tài thần  准財神 : Lưu Hải Thiềm 劉海蟾.
– Các tài thần trong Phật giáo Mật tông: gồm có Hoàng Tài thần黄财神, Tài Nguyên Thiên Mẫu 財源天母, Ngũ Tính Tài thần 五姓財神 – còn gọi là Ngũ sắc tài thần 五色財神.
Ở đây, chúng tôi xin phép trình bày về hai vị tài thần có liên quan với bài viết của ông An Chi, đó là Triệu Công Minh và Tài Bạch Tinh Quân.
 Triệu Công Minh 趙公明: là Thần tài âm phủ, có gương mặt đen sạm, bộ râu rậm rạp, tay cầm chiếc roi sắt cưỡi trên lưng con cọp đen (gọi là Hắc Hổ Huyền Đàn 黑虎玄壇). Vị Thần tài này là một vị võ tướng có khả năng phục yêu trừ ma, có thể chiêu tài lợi thịTheo Đạo giáo, Triệu Công Minh là người Chung Nam Sơn 終南山, sống vào thời nhà Tần (秦朝). Ông sinh ngày mùng 5 tháng giêng, được Ngọc Hoàng Đại đế phong là Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Súy 正一玄壇元帥, do đó ông còn có tên gọi là Triệu Huyền Đàn. Nhưng theo “Phong Thần bảng”, Triệu Công Minh sinh vào thời Ân Thương 殷商, sống ở động La Phù 羅浮 núi Nga Mi 峨眉, được phong là Kim Long Như Ý Chính Nhất Long Hổ Huyền Đàn Chân quân 金龍如意正一龍虎玄壇真君, thống lĩnh bốn bộ hạ là Nạp Trân Thiên tôn Tào Bảo 納珍天尊曹寶, Chiêu Tài Sứ giả Trần Cửu Công 招財使者陳九公, Chiêu Bảo Thiên tôn Tiêu Thăng 招寶天尊蕭升 và Lợi Thị Tiên quan Diêu Thiếu Tư 利市仙官姚少司. Bộ năm này có nhiệm vụ coi việc tài phú trong dân gian. Hiện nay, ở miền bắc Trung Quốc, phần lớn các cửa hàng đều thờ cúng Triệu Công Minh, còn miền nam thì đa số thờ Quan Công.
– Tài Bạch Tinh Quân 財帛星君: là Thần tài trên trời. Tài Bạch Tinh Quân còn được gọi là Tăng Phúc Tài thần增福財神, một vị thần tài phổ biến và tôn quý nhất. Tương truyền ông là sao Thái Bạch 太白, thuộc Kim Thần 金神, có chức vụ trên trời là Đô Thiên Chí Phú Tài Bạch Tinh Quân, chuyên quản kim ngân, tiền tài. Ông là vị thần có vẻ ngoài phúc hậu, đầu đội mão Tể Tướng, mặt trắng, có 5 chòm râu dài, mặc áo hồng bào, thắt dây lưng ngọc đái, tay cầm một cái bồn chứa đầy vàng bạc, trên bồn có bốn chữ Chiêu Tài Tiến Bảo  招財進寶. (Có tài liệu cho rằng ông cầm thỏi vàng Nguyên Bảo trên bàn tay trái, bàn tay phải cầm cuộn sớ cũng ghi chữ Chiêu Tài Tiến Bảo hoặc tay cầm bảng Thiên Quan Tứ Phúc 天官賜福).
Vương Trung Hiếu

Y-éc-xanh là ai? (Thùy Ngân)

Tác-giả: Thùy-Ngân
Báo Thanh niên, 02/05/2012 3:08 GMT+7
Viết đúng, phát âm chính xác tên của một người là thể hiện sự tôn trọng, phép lịch sự trong giao tiếp. Đối với tên riêng nước ngoài, điều này thật sự càng có ý nghĩa. Có nhiều câu chuyện cho thấy tầm quan trọng của việc gọi đúng tên, đúng người.
Theo Dale Carnegie, tác giả của cuốn sách nổi tiếng Đắc nhân tâm (How to win friends & influence people), một trong 30 nguyên tắc dẫn đến thành công là “Luôn nhớ rằng tên của một người là âm thanh êm đềm, thân thương và quan trọng nhất đối với họ”. Ông đã dẫn chứng trong lịch sử thế giới, nhiều người thành công vì biết rằng “mỗi cái tên dù đơn giản đến đâu, cũng chính là điều quan trọng và niềm vui của người ấy”.
Để khuyến khích sinh viên viết đúng tên riêng nước ngoài, cố Giáo sư Cao Xuân Hạo hay kể câu chuyện một chuyên gia ngôn ngữ học người nước ngoài thường yêu cầu mọi người hãy viết chính xác tên của ông. Ông có thể bỏ qua nếu tên bị đọc sai đôi chút nhưng không thể chấp nhận viết sai.
Nguyên tắc đơn giản nhưng quan trọng này dường như bị xem thường trong cách giáo dục của chúng ta. Lâu nay, từ sách giáo khoa (SGK) đến một số văn bản khác vẫn dùng lối phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt theo kiểu chữ viết một đằng, phiên âm một nẻo. Điều này dẫn đến hậu quả là chúng ta chẳng những đọc sai mà còn khó viết đúng tên riêng, địa danh tiếng nước ngoài.
Trong SGK hiện hành có vô số những trường hợp phiên âm và từ nguyên bản khó khớp nhau, thậm chí phần phiên âm sai so với nguyên bản. Có những trường hợp, nhiều khi để nguyên bản còn dễ đọc hơn cả phiên âm.
Trong sách tiếng Việt lớp 3, tập 2 hiện hành có những từ phiên âm khiến chúng ta vừa buồn cười vừa lo ngại cho con cái. Vì nếu quen đọc theo kiểu này, về sau nếu tiếp xúc từ nguyên bản làm thế nào học sinh có thể đọc đúng? Chẳng hạn tên bác sĩ Yersin được phiên âm thành Y-éc-xanh, tay đua xe đạp nổi tiếng thế giới Armstrong đọc là Am-xtơ-rông… Tên nhà bác học Edison chắc hẳn không khó để những người làm SGK phiên âm thành Ê-đi-xơn? Những người tên tuổi đã vậy, với những cái tên bình thường như Cô-rét-ti, Xtác-đi, Nen-li… người đọc đành “bó tay” nếu muốn biết từ nước ngoài. Buồn cười nhất là trong thời đại này mà vẫn phiên âm in-tơ-net cho từ internet! Chắc hẳn không ít người đã từng bối rối khi muốn biết từ tiếng Anh của các thành phố trong SGK môn địa lý như thành phố Lốt An-giơ-let, Côn-ca-ta, Xơ-un, Tê-hê-ran, Niu Đê-li, Gia-các-ta…
Cách phiên âm này có thể phù hợp trong một giai đoạn, khi nước ta chưa có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài, trình độ dân trí còn thấp, mức độ hội nhập chưa cao… Ngày nay, tình hình đã khác. Theo chương trình giáo dục hiện hành, trẻ lớp 3 đã bắt đầu học ngoại ngữ. Chưa kể ở các thành phố lớn, trẻ đã tiếp xúc với ngoại ngữ (tiếng Anh) từ mẫu giáo, lớp 1 nên rất khập khiễng khi chúng ta vẫn dùng lối phiên âm theo kiểu mấy chục năm trước. Cuộc sống đã có quá nhiều thay đổi nhưng nhiều điều trong nền giáo dục của ta rất cũ, đứng im từ bao nhiêu năm qua. Khi đối tượng học sinh ngày nay đã tiếp xúc ngoại ngữ từ rất sớm, tiếp cận internet từng phút mà chúng ta vẫn dùng cách phiên âm từ nước ngoài theo kiểu đã tồn tại hàng mấy thập niên thì sẽ không tránh khỏi những bất cập. Chính vì thế dù SGK dạy vậy nhưng khi phải vận dụng trong thực tế, những người hiểu biết đều không theo cách phiên âm đã được dạy. Và nhiều văn bản chính thống khác vẫn không chuộng cách phiên âm của sách SGK.
Cần phải thay đổi. Theo cách nào đó thì những người quản lý giáo dục và nhà ngôn ngữ học nước nhà phải tính, nhưng chắc chắn người học ngày nay không thể chấp nhận những điều đã quá lạc hậu so với cuộc sống.

Văn minh kinh xáng (Nhâm Hùng)


Biên khảo: NHÂM HÙNG 

Mở đầu kế hoạch khai thác lớn ở miền Hậu Giang, người Pháp tiến hành đào kênh xáng Xà No xuyên qua cánh đồng hoang vu rộng, lớn nằm giữa 2 tỉnh Cần Thơ – Rạch Giá. Với việc thi công cơ giới bằng 4 chiếc máy xáng, chỉ trong vòng 3 năm (1901-1903) công trình thủy nông được cho là lớn nhất Nam kỳ đã hoàn thành, mang lại nhiều lợi ích. Tính theo độ dài 34 km, mặt kênh rộng 60 m, chỉ cần mỗi bên đưa nước tưới tiêu vô sâu 1 km, thì sẽ cần gần cả trăm ngàn mẫu (ha) được hưởng lợi từ dòng kênh này.

Kênh xáng Xà No ngày nay. Ảnh: HIỀN THANH


Khởi đầu từ phía Vàm Xáng, ngay cái nôi miệt vườn Phong Điền – bờ Tây sông Hậu; lại sát chợ Cái Răng, gần thủ phủ Cần Thơ nên kênh xáng Xà No có thêm điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tác dụng. Trong một thời gian ngắn, đã làm thay đổi diện mạo một vùng đất úng ngập, ứ phèn quanh năm; sinh sôi biết bao giá trị mới trong phát triển kinh tế và nâng cao đời sống văn hóa.

Trong sách biên khảo “Tìm hiểu đất và người Hậu Giang” (NXB Phù Sa, 1959), Nhà Nam Bộ học Sơn Nam từng đưa ra khái niệm về “… một hình thức văn minh ngộ nghĩnh”, ông tạm gọi là “Văn minh kênh xáng” theo sau những dòng kinh mới đào bằng cơ giới. Xuất phát điểm của những nét “Văn minh kênh xáng” ấy, phải chăng từ vùng đất chịu ảnh hưởng của dòng nước Xà No, rồi lan tỏa khắp nơi?

Để góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề, ta hãy đi tìm những lý giải lần qua các “manh mối”:

* Văn minh trong mở mang kinh tế

Trước tiên là phương thức sản xuất nông nghiệp theo hình thức “điền”! Cần phân biệt rõ: kiểu đồn điền “thời đàng cựu” của Triều Nguyễn làm chức năng kinh tế kết hợp với quốc phòng (đồn + điền). Trong khi đó, hình thức “điền” dưới thời Pháp thuộc chỉ đơn thuần canh tác nông nghiệp, nó giống như “nông trại”, “trang trại” nhưng hầu hết đất đai đều khoán cho tá điền canh tác. kênh xáng Xà No đào xong, nhiều dạng điền theo đó ra đời như dân gian quen gọi:

– Điền Tây: vùng đất ruộng do người Pháp làm chủ, như: điền Tây Albert Gressier (nhiều người còn kêu là điền Tây Be, điền Ông Kho, điền Bảy Ngàn). Đây là điền lớn nhất trong vùng Xà No, canh tác gần 30.000 mẫu. Tại khu vực xã Nhơn Nghĩa, còn có điền Tây Duval và Guery sở hữu 2.500 mẫu.

– Điền hảng: tức khu vực đất ruộng do các công ty của Pháp đầu tư, quản lý, khai thác như điền của Công ty Đông Pháp, điền của Công ty Bat-tam-băng, điền của Ngân hàng Đông Dương v.v… diện tích chung khoảng 10.000 mẫu.

– Điền của người Việt, thường là ruộng đất của các ông Hội đồng, Phủ hàm, quan chức địa phương.

Mặc dù các chủ điền luôn có các thủ đoạn bóc lột, vơ vét nhưng có thể nói: hình thức canh tác trong các điền vùng kênh xáng Xà No, đã cho thấy những bước tiến mới, mang lại hiệu quả rõ nét:

Để mở rộng diện tích ruộng đất hai bên bờ kênh, các chuyên gia nông nghiệp Pháp cho đào tiếp: cứ cách 500 m, xẻ 1 kênh nhỏ; cách 1.000 m đào một con kênh lớn hơn theo lối đào “xôm lươn” để điều hòa dòng chảy. Vô sâu 1.000 m, đào nối bằng những con kênh sườn, khép kín các khu đất như những ô bàn cờ. Nhờ phương pháp thủy lợi này, việc tưới tiêu nhanh chóng, góp phần biến đất hoang thành đất thuộc, mở rộng thêm diện tích, gia tăng năng suất, sản lượng lúa.

Khi ổn định sản xuất, khoảng từ 5-10 năm sau ngày đào kênh xáng Xà No, các chủ điền mạnh dạn đầu tư cho ngành công nghiệp xay xát lúa gạo. Điển hình nhất là nhà máy xay lúa Ông Kho (Bảy Ngàn) với hệ thống kho lớn đặt trên diện tích rộng gần 2 mẫu, công suất xay mỗi ngày đến 300 tấn. Có tài liệu nói đây là Nhà máy xay xát lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ. Lần hồi các nhà máy xay Vàm Xáng, Vị Thanh tiếp tục ra đời. Đặc biệt, tại chợ Cái Răng – người Hoa kiều bỏ vốn lập hàng chục nhà máy xay bên cạnh các chành lúa khổng lồ, được mua gom từ phía Rạch Giá, Bạc Liêu và vùng lân cận theo kênh xáng Xà No đưa về xay xát, rồi chở lên Chợ Lớn xuất cảng. Do bước phát triển mới này – chợ Cái Răng trở thành một đô thị công nghiệp lúa gạo đầu tiên ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ đứng sau Chợ Lớn.

Nhịp nhàng với sự phát triển nông, công nghiệp – hoạt động thương mại gắn với kênh xáng Xà No cũng nhanh chóng lớn mạnh, theo xu thế kinh tế hàng hóa. Mỗi điền Tây, điền Ta đều có đoàn ghe chài, ghe tam bản luồn sâu vô làng, xóm mua gom lúa gạo. Riêng điền Tây Be có đến 30 ghe chài lớn. Từ chợ Cái Răng, các chủ nhà máy, chủ chành lúa, ghe chài, thương lái, nhân công có mặt khắp vùng nông thôn, theo kênh xáng Xà No đi mua gom lúa gạo, cạnh tranh với các điền.

Sinh hoạt mua bán lúa gạo nhộn nhịp, khiến một bộ phận nông dân tách ra làm công nhân, thợ thuyền, phu khuân vác; một bộ phận khác vừa sản xuất, lại vừa kiêm thêm nghề mua bán khi mạng lưới chợ hình thành. Chỉ tính dọc theo kênh xáng Xà No, đến giữa thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều khu chợ sung túc như: chợ Vàm Xáng (lập năm 1907), chợ Một Ngàn, chợ Bảy Ngàn, chợ Cái Nhum, chợ Hỏa Lựu v.v… Đáng kể là do nhu cầu kinh tế phát triển, chợ trên bờ quá tải đã thúc đẩy sự ra đời của chợ nổi Cái Răng, tiếp sau là chợ nổi Phong Điền. Lúc này, trên các sông, kênh, rạch quanh vùng… ghe thương hồ luôn có mặt, sẵn sàng cung ứng cho mọi người các hàng hóa thiết yếu. Tại các ngã ba, ngã tư sông, nơi dân cư đông đúc, nhiều ghe, xuồng đi bán đồ ăn, thức uống, chè, cháo, bánh, trái… tạo nên một nghề đặc trưng: nghề “bán vàm”!

Chỉ sau một thời gian ngắn, vùng kênh xáng Xà No đã trở thành một địa bàn chiến lược, đi đầu trong mở mang, phát triển miền Hậu Giang trên cả ba lĩnh vực gắn kết một cách liên hoàn giữa nông nghiệp, công nghiệp và thương mại – dịch vụ.

* Văn minh cư trú và lối sống người kênh xáng – Hậu Giang

Kênh xáng Xà No đào tới đâu, mọi người kéo nhau tới đó dựng lều, giành đất mặt tiền cất nhà ở để thuận tiện cho việc sinh sống, làm ăn. Khi các kênh ngang, kênh sườn đào tiếp sâu vô hai bên bờ, số người đến lập nghiệp càng đông đảo, tạo thành làng xóm ở dọc theo mặt tiền các con kênh, gọi là đất bờ xáng. Lần hồi, đất bờ xáng càng có giá trị, bởi sự “liền canh, liền cư”, lại cao ráo, thích hợp với nghề làm vườn, ít bị ngập lụt trong mùa mưa. Giá đất ở bờ xáng cao gấp nhiều lần so với đất ở bờ sông, rạch. Khi mặt tiền bờ xáng Xà No hết chỗ, người ta lấn sâu vô trong cất nhà ở đến 2, 3 lớp. Tại các ngã ba, ngã tư sông dân cư ở tập trung, mở chợ, xây đình, cất trường học mà đầu tiên là Vàm Xáng, xã Nhơn Nghĩa (1907).

Sự tập trung gia cư dọc theo đất bờ xáng tạo nên hình thức cộng đồng mới; một nét văn minh cư trú được kết nối từ những thành quả; bước tiến mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế. Nhiều tài liệu cho thấy: thời trước, các lớp người khẩn hoang thường đi sâu vô trong ruộng để dễ bề canh tác. Họ ở xa bờ sông rạch vì ở đó thường là rừng rậm, nhiều sấu, cọp, hiểm nguy. Đến khi các con kênh xáng được đào, đất được khai hoang thì kiểu cách cư trú trong ruộng, được dịch chuyển ra đất bờ xáng.

Hình thức cộng đồng mới bên bờ kênh xáng đã tạo nên nét sinh hoạt, lối sống, tính cách của “người kênh xáng”, hay còn gọi là “người Hậu Giang” mà trung tâm là vùng sản xuất nông nghiệp phát triển phía bờ Tây sông Hậu thuộc các tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu v.v…

Định cư nơi sông sâu nước chảy, đất ruộng thẳng cánh cò bay, nông dân – tá điền tuy có vất vả, nhưng cuộc sống cũng khá đủ đầy, có người cho rằng đất miền Hậu Giang tốt “làm chơi mà ăn thiệt” theo lối ruộng sạ bỏ đó, cuối mùa cũng gặt hái 5-7 giạ một công. Do vậy, họ không lo nghèo, sợ đói.

Người kênh xáng – Hậu Giang quan niệm “có làm phải có chơi”, nhất là dịp tết lúc nông nhàn, họ bày ra nhiều kiểu giải trí, “chơi bời” vừa lành mạnh lại vừa tiêu cực:

Giới địa chủ, phú nông, hương chức làng thường hay bày cuộc chơi đờn ca tài tử vào dịp cưới hỏi, giỗ quảy, thôi nôi, đầy tháng… vùng kênh xáng Xà No có Ban đờn ca tài tử Ái Nghĩa nổi danh, nhiều nghệ nhân tên tuổi.

Ban đêm đờn ca, ngày thì đá gà, đá cá lia thia; già, trẻ, lớn, bé, đều ưa thích. Tất nhiên, không ít người sạt nghiệp, trắng tay vì máu mê cờ bạc. Theo các vị cao niên: ở kênh xáng Xà No có “trường gà” thầy Tường là sòng đá gà nổi danh, thu hút nhiều tay chơi xa, gần.

Trong các dịp hội hè, hương chức làng thường tổ chức thi tài hò đối đáp giữa trai và gái, các vị bô lão, người sành điệu được mời chấm thi. Nhờ lối tổ chức ngày sinh hoạt hò đối đáp phát triển mạnh trên các kênh rạch. Trong làng không chỉ có “lò” đờn ca tài tử mà còn có thầy dạy hò tiếng tăm. Từ cách sinh hoạt, giải trí đa dạng nên lối sống, tính cách người kênh xáng – Hậu Giang rộng rãi, hào phóng nhiều khi khá “hào hoa”. Gặp khách phương xa tới nhà chơi, họ có thể nghỉ làm vài buổi để tiếp đãi, hàn huyên. Thấy người hoạn nạn, khốn khó hơn mình họ sẵn sàng ra tay “nghĩa hiệp” như cho mượn lúa, mượn gạo ăn tới mùa sẽ trả. Mặt khác, chuyện tình duyên đôi khi cũng khá giản đơn. Chỉ cần cảm nhau qua vài câu hò, lời ca tài tử họ có thể “gá nghĩa trăm năm”.

* Sự phong phú về địa danh và tiếng Việt Nam bộ

Kênh xáng Xà No, rồi các cụm kênh Ngã Bảy, Ngã Năm nối tiếp ra đời không chỉ kích thích các hoạt động kinh tế, mà còn góp thêm sự phong phú về địa danh và tiếng Việt Nam bộ.

Trong 100 năm hình thành, kênh xáng Xà No đã sản sinh nhiều địa danh dân gian khá thú vị:

Ngay đoạn máy xáng khởi đào nối rạch Cần Thơ, địa danh “Vàm Xáng” đã xuất hiện, lần hồi lại phát triển thêm tên chợ Vàm Xáng, nhà máy xay lúa Vàm Xáng v.v…

Khi xáng đào bứt đoạn rạch Xà No, dân gian lại có thêm địa danh “Xà No bứt”.

Đáng chú ý là từ chiếc máy xáng, kênh được đào trở thành kênh xáng. Rồi từ con kênh xáng, lại “nở” thêm nhiều địa danh, tên công trình công cộng có chữ xáng kèm theo:

– Cầu Xáng: cầu bắc ngang kênh xáng.

– Chợ cầu Xáng: chợ gần cây cầu Xáng.

– Xáng Mới: địa danh nơi kênh xáng vừa mới đào. Huyện Châu Thành A có ấp Xáng Mới gần chợ Rạch Gòi.

– Xáng Chìm: địa danh xóm, khu dân cư có chiếc xáng bị chìm.

– Xáng Nổ: địa danh xảy ra sự cố nổ máy xáng khi đang thi công đào kênh.

– Xáng Bộ: địa danh có con kênh thi công từ loại máy đào chạy trên bộ. Kênh xáng Bộ cắt ngang kênh xáng Lái Hiếu (ngã tư xáng Bộ, huyện Phụng Hiệp).

Lúc đầu, người ta gọi nguyên tên như kênh xáng Xà No, kênh xáng Lái Hiếu, kênh xáng Nàng Mau… về sau, họ nói rút gọn chỉ còn ba từ: xáng Xà No, xáng Lái Hiếu, xáng Nàng Mau…

Một điểm khác đặc biệt là sự xuất hiện của các địa danh bằng chữ số, dọc theo kênh xáng Xà No. Do cách đo đạc, tính toán lưu lượng dòng chảy phục vụ việc tưới tiêu – các chuyên gia nông nghiệp đã cho thi công: cách 500 m đào một kênh nhỏ, cách 1.000 m đào một kênh lớn hơn. Ở giao điểm các kênh đào này thường tập trung dân cư, đặt cơ sở làng hay trung tâm chợ, nhà máy… Từ đó nhiều địa danh chữ số ra đời, theo dấu mốc kênh đào ở một số cụm dân cư:

– Một Ngàn: con kênh Xà No ở dấu mốc (cây số) đầu tiên đưa nước tưới tiêu vô sâu trong ruộng. Sau này do cư dân đông đúc nên hình thành chợ Một Ngàn, nay là thị trấn, huyện lỵ – huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

– Bốn Ngàn: địa danh có khá nhiều dân cư sinh sống.

– Bảy Ngàn: địa danh trung tâm kênh xáng Xà No, nơi đặt nhà máy Ông Kho và “trụ sở” điền Tây Be, lớn nhất trong vùng.

– Tám Ngàn: cũng là điểm dân cư tập trung, cách điểm Bảy Ngàn 1 km. Ngày nay, Tám Ngàn một bên thuộc huyện Châu Thành A, một bên thuộc huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

– Mười Một Ngàn: điểm dân cư dọc theo kênh Mười Một Ngàn, một phần trên địa bàn xã Vị Thanh, một đoạn thuộc xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy.

– Mười Bốn Ngàn: điểm dân cư gần phía hạ nguồn kênh xáng Xà No… Nay thuộc xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Phát triển từ tên số các con kênh, dân gian còn đặt thêm nhiều địa danh khá ngộ nghĩnh như: Bốn Ngàn Rưỡi, Tám Ngàn Dài, Tám Ngàn Cụt… Việc hình thành các địa danh chữ số, do mọi người quen gọi, lâu dần thành địa danh dân gian, đôi khi được nâng nên thành địa danh hành chính. Đây cũng là một nét đặc trưng về văn hóa địa danh hiếm thấy ở Nam bộ.

Bên cạnh sự nở rộ của địa danh, tiếng Việt Nam bộ ở vùng kênh xáng cũng cho thấy sự phong phú. Nhiều lời ăn tiếng nói có kèm theo từ “xáng” trong sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày người ta vẫn hay sử dụng.

Khi các máy xáng thi công, tên “xáng” bằng tiếng Pháp lập tức được Việt hóa: tên máy xáng Loire được mọi người kêu là “Xáng La”; chiếc xáng Nantes, trở thành xáng “Năn”. Họ phân biệt kiểu đào kênh khá rõ qua các từ như: xáng cạp, xáng múc, xáng thổi, “sở xáng”, “hãng xáng” là công ty tàu cuốc chuyên đào kênh của Pháp.

Từ thực tế địa bàn, đời sống cư dân vùng kênh xáng Xà No – kiểu hình thành địa danh và tiếng Việt Nam bộ, gắn với kênh xáng dần lan tỏa ra nhiều vùng. Do đó nơi nào có đào kênh xáng nhất thiết sẽ ra đời những địa danh na ná như nhau. Trên đường Quốc lộ 1A từ TP.Hồ Chí Minh về miền Tây, qua địa bàn xã Long Định, huyện Châu Thành (Tiền Giang) có cây cầu Xáng khá dài. Ở Tri Tôn (An Giang) cũng có địa danh kênh xáng. Vùng Cà Mau có kênh xáng Đội Cường, kênh xáng Bà Kẹo. Thế nhưng, chỉ ở vùng Cần Thơ, Hậu Giang mới có nhiều địa danh gắn với chữ xáng, vì nơi đây có nhiều kênh xáng được đào.

* Văn nghệ dân gian theo dòng kênh xáng

Chuyện kể là hình thức văn học truyền miệng xuất hiện ngay khi kênh xáng Xà No mới đào.

Theo các vị cao niên, ở khoảng giữa chợ Một Ngàn và Vàm Xáng có một đoạn kênh hơi lệch gần 200. Vì sao? Là do lúc các chuyên gia Pháp phóng kênh trúng vô nhiều đất của một ông Hội đồng, nên ông này nhờ tay thông ngôn nói với viên quan Tây vẽ cho đoạn kênh này lệch qua. Nếu được ông Hội đồng sẽ gả con gái cho anh thông ngôn. Cuối cùng lấy lý do để giảm sức nước chảy, người thông ngôn đã thuyết phục được viên quan Tây. Tất nhiên, sau này anh ta trở thành chàng rể quý của ông Hội đồng.

Theo nhà “Nam Bộ học” Sơn Nam: gọi là kênh xáng Xà No bởi vì kênh khởi đào từ rạch Xà No; một khu xóm của bà con Khmer, cạnh xóm làng người Việt. Nơi đây, có nhiều cây điên điển, tiếng Khmer gọi là Snor (Xà No). Xa hơn về phía hạ nguồn, tại xã Tân Hòa (huyện Châu Thành A), nay vẫn còn một khu dân cư người Khmer sinh sống, có ngôi chùa phật tồn tại khá lâu.

Trong khi đó, trong các dịp “trà dư, tửu hậu”, lại có người kể rằng: chữ Xà No bắt nguồn từ câu chuyện vùng đất này khi xưa có một con mãng “xà” rất lớn. Ngày nọ, nó nuốt vào bụng cả một con nai to, đến “no nê”… nên người ta mới đặt luôn cho địa danh “Xà No”.

Cùng với chuyện kể, tục ngữ, ca dao là một hình thức văn học gắn liền với kênh xáng Xà No, mang nội dung hết sức phong phú:

Kênh xáng Xà No vừa đào, khung cảnh thi công nhộn nhịp, khiến người ta đã mượn ngay chuyện đào kênh để tỏ tình:

“Kênh xáng mới đào, tàu Tây mới chạy
Thương thì thương đại, bớ điệu chung tình
Con nhạn bay cao khó bắn, con cá ở ao Quỳnh khó câu”

Trước đó, vùng rạch Cần Thơ ai cũng quen câu ca dao: “Cái Răng – Ba Láng – Vàm Xáng – Phong Điền”. Đến khi đào kênh xáng Xà No, nội dung chùm ca dao trên nhanh chóng được biến đổi thành:

“Cái Răng – Ba Láng – Vàm Xáng – Xà No
Anh có thương em thì mua cho một chiếc đò
Để em lên xuống thăm dò ý anh”


Nhận biết được văn minh phương Tây, người kênh xáng – Hậu Giang lấy sự bền vững các phương tiện cơ giới để chứng tỏ cho lời hẹn thề trai, gái:

“Quả năm ngăn trong lòng son đỏ
Mấy lời to nhỏ bỏ bậu sao đành
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành bỏ em”

Kênh xáng Xà No ra đời, nghề mua bán lúa gạo phát triển. Những đoàn ghe chài dọc ngang vô sâu trong điền mua gom lúa gạo, khiến một bộ phận nông dân chuyển sang làm bạn ghe, chèo ghe, vác lúa. Công việc quá cơ cực, nặng nhọc đến nỗi có lời ca dao khuyên can một cách tế nhị:

“Đừng ham hốt bạc ghe chài
Nhịp cầu cao (?) bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi”


Dân cư đông đúc tại các ngã ba, ngã tư kênh xáng nổi lên nghề bán vàm. Từ đây, lối rao hàng dần biến thành các điệu hò sông nước qua lời rao: “Ai ăn bánh bò không…” dần phát triển thành “Ai ăn bánh bò hông…” rồi “Ai ăn bánh bò hơ…”

Có người quanh năm suốt tháng gắn bó với nghề bán vàm:

“Tháng giêng, tháng hai tôi đi bán sương sa, sương sáo
Tháng năm, tháng sáu tôi đi bán bánh bò bông”

Trên dòng kênh xáng, nghề thương hồ cũng lắm lúc khó khăn khiến người ta buông câu than vãn:

“Bìm bịp kêu nước lớn ai ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê”


Hoặc như:

“Chèo ghe đi bán cá vồ
Nước chảy ồ ồ chẳng thấy ai mua”

Bình thường, nói đến điền Ông Kho (Bảy Ngàn) ai cũng biết là lớn lao, đồng ruộng mênh mông bát ngát, ghe chở lúa gạo bán mua dập dìu. Vậy mà cũng có lúc điền chủ lao đao, tá điền lâm vào cảnh khốn khổ do mùa màng thất bát, khiến họ nhớ đời:

“Hỡi anh còn nhớ Bảy Ngàn
Củ co ăn với củ bàng thế cơm!”


Bên cạnh ca dao, nhiều tục ngữ về đời sống cũng gắn liền với từ xáng, như:

“Ăn như xáng múc
Làm như lục bình trôi”


Rõ ràng, từ khái niệm “máy xáng” rồi “kênh xáng” đã gợi mở cho dân gian “sáng tạo” nên những giá trị văn học bình dân đặc thù, có mặt thường nhật trong đời sống xã hội. Có lẽ, khởi đầu việc hình thành những giá trị này là từ vùng kênh xáng Xà No, bởi ở đây đào kênh xáng sớm nhất. Sau đó, nhân rộng đến vùng Ngã Bảy, Ngã Năm, rồi trở thành những nét văn hóa đặc trưng phổ biến rộng khắp miền Hậu Giang cho đến ngày nay. Từ truyền thống này, nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật đương đại vẫn nối tiếp ra đời theo dòng chảy kênh xáng Xà No, làm đẹp thêm cho gương mặt miền Hậu Giang xưa và Tây sông Hậu hôm nay.

* * *


Bàn về “văn minh kênh xáng” cũng là bước đi về nguồn, tìm hiểu và góp phần đúc kết những thành quả của các thế hệ tiền nhân ở nhiều chiều, nhiều dạng:

“Văn minh kênh xáng” bắt đầu từ việc cơ giới hóa khâu thủy nông, thúc đẩy hình thức sản xuất khép kín trong các điền – nét văn minh ấy còn mở ra bước tiến mới cho ngành công, thương, dịch vụ góp phần quyết định để miền Hậu Giang trở thành trung tâm lúa gạo lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ. Chỉ 5 năm sau ngày đào kênh xáng Xà No, lúa gạo miền Hậu Giang đưa đi xuất cảng tăng vọt: chiếm đến 900 ngàn tấn, trong tổng số 1 triệu 300 ngàn tấn của toàn Nam kỳ.

Những con kênh xáng còn tạo ra một dạng đời sống xã hội đặc trưng, qua nét văn hóa cư trú, văn hóa thương hồ mang đậm bản sắc sông nước miệt vườn. Từ đó, hình thành một cách rõ nét về lối sống, tính cách “người kênh xáng – Hậu Giang” trong cộng đồng cư dân Nam bộ – Đồng bằng sông Cửu Long.
———————————————————————————————————
SÁCH – TÀI LIỆU THAM KHẢO
– Tự vị tiếng nói miền Nam, Vương Hồng Sển (NXB Trẻ TP.Hồ Chí Minh, 1999)
– Tìm hiểu đất Hậu Giang, Sơn Nam (NXB Phù Sa – Sài Gòn 1959)
– Tạp chí xưa và nay số 286 (2007)
– Cuộc đời, sự nghiệp các văn nghệ sĩ Cần Thơ, Sở VHTT TP.Cần Thơ (2006)
– Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành, Huyện ủy Châu Thành (1999)
– Văn minh miệt vườn, Sơn Nam (NXB Văn Hóa, 1992).

NHÂM HÙNG

Hùng Vương hay Lạc Vương (An Chi / Huệ Thiên)

Huệ Thiên
Các đấng tiên nhân quốc tổ của dân tộc Việt là Hùng Vương hay Lạc Vương? Nhiều người đã bàn đến vấn đề này mà người đầu tiên là Henri Maspéro, một nhà Đông phương học uyên bác thuộc Pháp quốc Viễn Đông học viện (Ecole française d’Extrême-Orient) trong bài Le royaume de Van lang (BEFEO, no XVIII, 1918). Sau đó có cuộc tranh luận giữa Sở Cuồng Lê Dư với Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố. Ở miền Nam trước 1975, một số nhà nghiên cứu cũng có bàn đến, chẳng hạn trên tạp chí Bách Khoa, Phạm Hoàn Mỹ (1959) thì chủ trương Hùng Vương còn Trần Viêm (1965) thì lại chủ trương Lạc Vương. Bài này không nhằm điểm lại toàn bộ lịch sử của vấn đề mà chỉ nhắc lại những ý kiến chính của các tác giả, đặc biệt là của Đào Duy Anh, Hoa Bằng, Trần Quốc Vượng đã phát biểu trong các cuộc hội nghị nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương, tổ chức trước đây ở miền Bắc, từ cuối 1968 đến 1971, in lại trong các tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước (HVDN).
Người đã để nhiều tâm trí và thời gian nhất vào vấn đề này không ai khác hơn là học giả Đào Duy Anh. Đối với Đào Duy Anh, các vị quốc tổ của chúng ta trước sau vẫn là Lạc Vương. Thật vậy, ngay từ năm 1938, trong Việt Nam văn hóa sử cương (chúng tôi dùng bản in lần thứ hai, Nxb Bốn Phương, Sài Gòn, không đề năm), Đào Duy Anh đã viết: «Sử chép rằng Lạc-Long-quân phong cho người con trưởng làm vua ở nước Văn-lang xưng là Lạc Vương» (Sđd, tr. 25). Ông đã ghi nhận rằng phát hiện về sự nhầm lẫn từ Lạc Vương thành Hùng Vương là thuộc về «nhà cổ học» (danh từ của ĐDA) H. Maspéro (X. sđd, tr. 25, chth. 1. ).
Năm 1946, trong Nguồn gốc dân tộc Việt Nam (chúng tôi dùng bản in lần thứ hai, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1950), Đào Duy Anh lại viết về xã hội Lạc Việt như sau: «Các bộ lạc thì ở dưới quyền tù trưởng gọi là lạc tướng, các lạc tướng thì phục tòng ít nhiều một vị tù trưởng có thế lực hơn hết cả gọi là lạc hầu hay lạc vương. » (Sđd, tr. 65). Ở đây ông cũng cho biết ông đã theo ý kiến của nhà Chi-na học H. Maspéro, «cho rằng chữ Hùng-vương chính là chữ Lạc-vương viết lộn ra». (Sđd, tr. 65, ch.th. 1).
Chín năm sau, trong Cổ sử Việt Nam (Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1955), Đào Duy Anh còn bày tỏ một lập trường rành mạch và dứt khoát hơn nữa. Khi nhắc đến các truyền thuyết xưa về nước Văn Lang chép trong Lĩnh Nam chích quái (ĐDA viết trích) thì ngay sau hai chữ Hùng Vương ông đã ghi chú trong ngoặc đơn như sau: «Sửa lại là Lạc vương» (Sđd, tr. 83), Hoặc như ông đã viết: «Cái danh hiệu Hùng vương, nay sửa là Lạc vương (chúng tôi nhấn mạnh – HT) chỉ là phiếm chỉ các thế hệ tù trưởng từ xưa đã lãnh đạo dân tộc Lạc-việt trước và sau khi họ đã định cư ở Bắc Việt-nam» (Sđd, tr. 93). Còn ở những chỗ thuộc về lập luận và hành văn riêng của cá nhân thì đương nhiên là ông đã chính thức và trực tiếp dùng hai tiếng Lạc Vương, chẳng hạn: «Lạc-vương là vị tù trưởng tối cao cũng chỉ là vị tù trưởng thế tập của bộ lạc liên hiệp Lạc-việt (…) » (Sđd, tr. 93). Nếu trước kia, năm 1938 và năm 1946, ông chỉ nhắc đến ý kiến của Maspéro nơi cước chú thì nay ông đã đưa thẳng vào lập luận chính thức của mình: «Về danh hiệu Hùng vương thì H. Maspéro đã viện các sách Giao châu ngoại vực ký vàQuảng châu ký mà chứng minh rằng cái tên Hùng vương chính là cái tên Lạc vương chép lầm ra (…). Trước hết là người ta chép hai chữ lạc 駱 và 雒 lộn nhau, rồi chữ lạc (…) 雒 lộn thành chữ hùng 雄(…) Chính một sử thần nước ta chú thích sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng đã thấy chỗ lầm từ chữ lạcsang chữ hùng mà nói rằng danh hiệu «lạc tướng» sau bị người ta lầm là «hùng tướng», nhưng lại sợ uy quyền của tập truyền xưa nay vẫn gọi «Hùng vương» mà không dám nói đến cái lầm từ «Lạc vương» sang «Hùng vương» (Sđd, tr. 92-93).
Ba năm sau, trong Lịch sử Việt Nam, quyển thượng (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958) ông vẫn duy trì quan điểm của mình như ông đã phát biểu trong Cổ sử Việt Nam tuy không chi tiết bằng (vì đây là một bộ thông sử dành cho một đối tượng rộng rãi).
Hoa Bằng thì đã tán thành danh hiệu Lạc Vương từ năm 1950. Ký tên Hoàng Thúc Trâm, trong Lịch-sửxã hội Việt-Nam (Nxb Thế giới, Hà Nội, 1950), ông đã dành hẳn một trong mười mục của quyển sách cho vấn đề «Hùng vương hay Lạc vương?». Ông nhắc lại cuộc tranh luận về vấn đề đang xét giữa Sở Cuồng Lê Dư với Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố cũng như nhắc lại quan điểm của Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương và Nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Trong phần phân tích của mình, Hoàng Thúc Trâm đã căn cứ vào Giao châu ngoại vực kýThủy kinh chú và An-nam chí nguyên là những sách của người Trung Hoa, đặc biệt là vào An-nam chí lược của Lê Tắc, một người Việt Nam ở thời nhà Trần đã đi theo quân Nguyên để khẳng định rằng Hùng Vương chỉ là do Lạc Vương chép nhầm mà ra. Về sử liệu mà sách của Lê Tắc đã cung cấp, Hoàng Thúc Trâm cho biết rằng: «Khi nào nhắc đến «vua» của Văn-lang, tác giả An-nam chí lược đều chép là Lạc vương cả» (Sđd. tr. 72). Đánh giá tính xác thực của sử liệu trong An Nam chí lược, ông đã viết: «Nội dung sách đó tuy có những điểm đáng kết án (về lập trường, quan điểm, vì theo Mông Cổ – HT) nhưng tựu trung (…) cũng cung cấp được nhiều sử liệu (…) cho ta kê cứu. Đó vì, theo như Lê Tắc tự nói hoặc những bạn văn của Tắc ở bên Nguyên đã giới thiệu trong các bài tựa, thì Tắc là người thông minh, học rộng, đi nhiều, rất thông thạo về địa lý và lịch sử bản quốc, nên ngoài những sử sách Trung-quốc dùng làm tài liệu, tác giả An-nam chí lược còn đem những sở kiến sở văn từ khi còn ở nước nhà mà ghi chép vào nữa (Sđd, tr. 72-73).
Về sự nhầm lẫn đã xảy ra, Hoàng Thúc Trâm viết: «Còn việc lầm «Lạc» ra «Hùng» thì sử thần Ngô Sĩ Liên, người thế kỷ mười lăm, đã chua rõ ở Đại Việt Sử ký ngoại kỷ toàn thư, quyển 1, tờ 3a: Lạc tướng hậu ngoa vi hùng tướng (…) Lạc tướng sau lầm làm Hùng tướng. Nhưng tại sao Ngô Sĩ Liên không nói đến Lạc vương? Có lẽ vì những cớ này: 1. Quan niệm tôn quân của nhà nho (…) đâu dám bỗng dưng nêu ra một thuyết đính ngoa, bảo là «Lạc vương sau lầm ra Hùng vương» vì e lạ tai lạ mắt người đời, thất kính với quốc tổ, tất nhiên từ trong triều đến ngoài nội, sử thần sẽ là cái đích cho muôn nghìn mũi tên nhằm bắn! (…) 2. Hai tiếng Hùng vương đã quen dùng trong dân gian (…) rất khó sửa lại cho đúng trong khi nói được (…) 3. Theo tâm lý chung, ai cũng thích chữ tên có nghĩa đẹp hơn nghĩa xấu(…)» (Sđd, tr. 73-74). Về phía cá nhân, Hoàng Thúc Trâm đã có một lập trường rất dứt khoát nên ông đã kết luận: «Nhưng đây là sử học, không phải là chuyện cảm tình, ta phải hoàn toàn khách quan mà trả lại sự thực cho lịch sử. Vậy từ nay, tưởng nên viết là Lạc vương (chúng tôi nhấn mạnh – HT)» (Sđd, tr. 74).
Trở lên là ý kiến của hai học giả danh tiếng về sau đã tham gia các cuộc hội nghị nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương. Tại hội nghị lần thứ II tổ chức vào tháng 4-1969, những người đã trực tiếp đặt lại vấn đề «Hùng Vương hay Lạc Vương?» vẫn là Đào Duy Anh và Hoa Bằng; ngoài ra còn có Nguyễn Đổng Chi.
Trong tham luận Góp ý kiến về vấn đề Hùng Vương, Đào Duy Anh đã đặt lại toàn bộ vấn đề thư tịch một cách nghiêm cẩn, rành mạch và rất xác đáng. Không quên nhắc lại vấn đề «Hùng Vương hay Lạc Vương», ông khẳng định rằng sách đầu tiên ghi chép về danh hiệu Lạc Vương là Giao châu ngoại vực ký thuộc thế kỷ IV, còn sách đầu tiên đã chép nhầm tất cả các chữ Lạc của Giao châu ngoại vực kýthành chữ Hùng là sách Nam Việt chí thuộc thế kỷ V. Vậy danh hiệu nguyên thủy vẫn là Lạc Vương. Tuy nhiên, vì những lý do tế nhị nên trong hội nghị này ông đã tỏ ra nhân nhượng mà phát biểu như sau: «Dù sao nữa, (…) cái danh hiệu Hùng Vương gắn liền với nguồn gốc và vận mệnh của tổ tiên chúng ta mà trải qua bao nhiêu đời sử cũ từ Đại Việt sử ký về sau và truyền thống của dân tộc vẫn gọi thế, thì ngày nay chúng ta vẫn trân trọng và giữ theo, còn các danh hiệu Lạc hầu Lạc tướng thì chúng ta cũng cứ gọi theo sử cũ, cho đến những danh từ Lạc điền Lạc dân cũng cứ gọi thế, chứ không theo sách Nam Việt chí mà đổi gọi là Hùng cả». (HVDN; t. II, tr. 280).
Trong tham luận Về Hùng Vương và xã hội Hùng Vương gồm có hai phần mà phần đầu có tiêu đề làHùng Vương hay Lạc Vương, Hoa Bằng nhắc lại rằng về vấn đề này, trước Cách mạng tháng Tám, nhiều người nhiều lần đã tranh luận nhưng chưa ngã ngũ. Nay đến lúc chúng ta cần phải làm cho dứt điểm» (Sđd, tr. 287). Ông vẫn cho rằng hầu hết các sử sách Trung Quốc xưa đều chép là Lạc Vương và lần này ông đã khảo sát ý nghĩa của tất cả các chữ Lạc khác nhau được dùng để ghi danh hiệu Lạc Vương thì thấy rằng những nghĩa đó đều không có gì là tốt đẹp cả. Nhưng ông cho rằng đó là một sự thật khách quan tồn tại, chúng ta chỉ có nhiệm vụ là trả cho Xê-da cái chi của Xê-da» (Sđd, tr. 288). Tuy chủ trương «trả cho Xê-da cái chi của Xê-da» nghĩa là trả cho «Hùng Vương» cái danh hiệu Lạc Vương nhưng cũng như Đào Duy Anh và cũng vì những lý do tế nhị như của Đào Duy Anh, Hoa Bằng đã nhân nhượng mà kết luận rằng ngày nay, chúng ta, dù muốn dù không, vẫn cứ phải gọi là «Hùng Vương», một từ vừa có ý nghĩa cao quý, đẹp đẽ, lại vừa được lưu hành phổ biến từ xưa đến nay». (Sđd, tr. 288).
Người thứ ba trong hội nghị này có trực tiếp đề cập đến vấn đề đang xét là Nguyễn Đổng Chi. Trong tham luận Tính chất xã hội thời kỳ Hùng Vương, ông cũng điểm lại các sách xưa có ghi chép về Lạc Vương là Giao châu ngoại vực ký, Quảng Châu ký, quyển trước được Thủy Kinh chú trích dẫn còn quyển sau thì được Sử ký sách ẩn trích dẫn. Các sách trên đều nhất loạt ghi Lạc Vương, Lạc hầu, Lạc tướng v.v… Duy chỉ có Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn (thế kỷ V) rồi sau đó là Phiên Ngung tạp chícủa Trịnh Hùng đời Đường là bao nhiêu chữ lạc đều chép nhầm thành chữ hùng, làm hao tốn nhiều giấy mực cho các nhà nghiên cứu đời sau. Nghĩa là danh hiệu nguyên thủy, theo Nguyễn Đổng Chi, cũng làLạc Vương (X. Sđd, tr. 293).
Đến hội nghị lần thứ IV thì Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc không những chỉ thừa nhận hình thức gốc làLạc Vương mà còn đi sâu tìm hiểu ý nghĩa của từ tố lạc nữa (Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố «Lạc», HVDN, t. IV, tr. 134-141).
Tóm lại, theo ý kiến của những nhà nghiên cứu trên đây là những người trực tiếp thảo luận về mối quan hệ giữa hai danh hiệu Hùng Vương và Lạc Vương thì Lạc Vương mới là danh hiệu nguyên thủy về sau bị chép nhầm mà thành Hùng Vương chứ không phải là ngược lại. Còn những người không trực tiếp nêu vấn đề lên để thảo luận, khi cần nhấn mạnh đến danh hiệu nguyên thủy, cũng đều nhất loạt gọi là Lạc Vương. Đó là Trần Quốc Vượng trong bài Vài ý kiến chung quanh vấn đề thời kỳ Hùng Vương (X. HVDN, t. II, tr. 130), Nguyễn Linh trong bài Trở lại vấn đề vị trí nước Thục của Thục Phán (X. Sđd, tr. 193), Lã Văn Lô trong bài Tìm hiểu chế độ xã hội thời kỳ Hùng Vương qua chế độ lang đạo ở vùng Mường trước Cách mạng tháng Tám (X. Sđd, tr. 308 và 310), Nguyễn Linh và Hoàng Xuân Chinh trong bài Đất nước và con người thời Hùng Vương (X. HVDN, t. III, tr. 92), v.v… Còn tất cả những người khác khi sử dụng danh hiệu Hùng Vương thì đều là gọi theo thói quen chứ hoàn toàn không có bất cứ ai cho rằng danh xưng nguyên thủy phải là Hùng Vương cả. Riêng Nguyễn Duy Hinh trong bài Điểm qua tình hình thư tịch về thời đại Hùng Vương thì cho rằng Hùng Vương và Lạc Vương là hai cách đặt tên khác nhau của những tác giả khác nhau đối với người đứng đầu tổ chức xã hội đương thời ở nước ta mà thôi. Dù là Hùng Vương hay Lạc Vương đều là tên do các nhà viết sử phong kiến Trung Quốc đặt ra và cả hai tên đều có thể giải thích lý do đặt tên được (HVDN, t. I, tr. 97). Đương nhiên là người ta không thể dễ dàng chấp nhận rằng đây là một ý kiến có căn cứ.
Tóm lại, vấn đề có thể coi như đã rõ ràng. Thế nhưng trong hội nghị lần thứ III, Trần Quốc Vượng lại có một bài tham luận nhan đề Về danh hiệu Hùng Vương (HVDN, t. III, tr. 353-355), qua đó ông muốn xem Hùng Vương là một danh hiệu riêng biệt chứ không phải do Lạc Vương bị chép nhầm mà ra. Ông muốn «tiếp cận vấn đề Hùng Vương từ ngả đường ngôn ngữ học», viện lẽ rằng «có nhiều tên đất, tên người, tên cây cỏ, cầm thú,… của Việt Nam thời cổ được ghi bằng chữ Hán, nhưng thật ra là phiên âm tiếng Việt cổ» (Sđd, tr. 353) mà yếu tố hùng trong Hùng Vương là một trường hợp.
Trần Quốc Vượng cho rằng Hùng 雄 là một yếu tố tiếng Việt cổ tương ứng với các yếu tố sau đây: Kuncủa tiếng Mường có nghĩa là con trưởng ngành trưởng nhà lang, Khun trong các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Môn-Khmer và ngữ hệ Tày-Thái như tiếng Laha, Kháng, Ksingmul, Khmu, Thái Tây Bắc và Lào, có nghĩa là người tù trưởng, người cầm đầu, cũng là tiếng chỉ giới qúy tộc, chỉ người được tôn kính. Thí dụ:Khun Borôm là người tù trưởng nửa huyền thoại nửa lịch sử của người Lào; Khun Quằng, Khun Mun, Khun Piền,… là những tù trưởng của người Laha và người Kháng, Khun Coong là người cầm đầu, chỉ huy việc làm chiếc trống mới trong lễ cổ truyền mừng thắng trận của A-nha Thái Thuận Châu trước Cách mạng tháng Tám. Ngoài ra ông còn liên hệ với tiếng Mun-đa ở Ấn Độ; ngôn ngữ này có Khunztchỉ người cầm đầu gia tộc hay các lĩnh vực đời sống, tôn giáo. Thậm chí ông còn liên hệ với thổ ngữ Sơn Tây ngày trước trong phương ngữ Bắc bộ; ở đây trẻ con chửi nhau có câu «Tiên sư ông Khuấn nhà mày». Khuấn được giải thích như là ông tổ, người cầm đầu một gia tộc. Về mặt ngữ nghĩa là như thế.
Về mặt ngữ âm, Trần Quốc Vượng cho rằng các phụ âm đầu k, kh, h dễ dàng chuyển đổi với nhau vì đó là những phụ âm cùng vị trí cấu âm (ngạc sau hay lưỡi sau) chỉ khác nhau về phương thức cấu âm (k là âm tắc, k’ là âm bật hơi, kh là âm xát) mà thôi. Riêng âm h tuy không phải là âm lưỡi sau mà là âm thanh hầu nhưng về vị trí thì cũng như các âm trên, nó được phát âm ở một vị trí về phía trong và do đó có thể tham gia loạt chuyển đổi này. Phụ âm mà tiếng Hán Việt phát âm là h vốn tương ứng với một âm h hay kh trong các phương ngữ tiếng Hán hiện đại. Theo sự phục nguyên của B. Karlgren đã được đông đảo các nhà ngữ học Trung Quốc cũng như nước ngoài thừa nhận thì trong cổ âm Hán ngữ, các phụ âm đầu của các từ (âm vận học truyền thống của Trung Hoa gọi là các thanh mẫu -HT) kiến, khê, hiểu, hạp, hứa đều được coi là cùng vị trí và đều được gọi là nha âm, tức âm lưỡi sau theo thuật ngữ hiện đại. Từ hiện nay phát âm là hùng thì ở khoảng thế kỷ thứ V (Nam Việt chí là sách đầu tiên ghi chép danh hiệu Hùng Vương ra đời vào thế kỷ này) không thể có dạng như hiện nay mà phải có phụ âm đầu là một phụ âm lưỡi sau như kh hoặc k. Do đó mà nó rất gần với khun, kun, khunzt.
Trở lên là cách giải thích của Trần Quốc Vượng về yếu tố hùng trong Hùng Vương. Cách giải thích này sau đó còn được ông truyền giảng hoặc thông báo cho nhiều cử tọa khác nhau, trong đó có cả Hội nghị lần thứ IV giữa các nước xã hội chủ nghĩa về các ngôn ngữ phương Đông họp tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1986 (X. Tiếp cận lịch sử văn hóa Việt Nam từ ngả đường ngôn ngữ, trong Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông, Hà Nội, 1986, tr. 477-489), Sau đây chúng tôi sẽ phân tích xem cách giải thích trên đây của Trần Quốc Vượng có giá trị như thế nào.
Trần Quốc Vượng đã xem khun là một từ chung (= cùng gốc và là họ hàng với nhau) của nhiều ngôn ngữ thuộc họ Môn-Khmer và Tày-Thái. Nhưng người ta không thể luôn luôn xem các từ đồng nghĩa và đồng âm, hoặc cận âm trong những ngôn ngữ lân cận là những từ cùng gốc bởi chúng rất có thể chỉ là những từ vay mượn của nhau mà thôi. Nhiều nhà ngữ học bậc thầy đã nhắc nhở điều này. L. Hjemslev đã viết: «Hai ký hiệu có thể tỏ ra thậm giống nhau mà vẫn không hề có với nhau một mối tương quan phổ hệ nào cả» và «Nếu người ta phải căn cứ vào sự giống nhau bên ngoài thì không thể phân biệt được những từ vốn là vay mượn với những từ vốn cùng nguồn gốc với nhau (Le langage, traduit du danois par Michel Olsen, Paris, 1969, p. 112). Nói về việc nhìn vào hình thức ngữ âm của các từ mà định họ hàng như Trần Quốc Vương đã làm, J. Vendryès đã viết: «Đó là một phương pháp nguy hiểm. Trong giới tự nhiên, có những người cùng họ hàng giống nhau đến nỗi người này bị nhận là người kia. Nhưng không phải tất cả những kẻ giống hệt nhau đều là họ hàng của nhau. Trong ngữ học cũng vậy, những sự giống nhau thường hay đánh lừa» (Le langage, Paris, 1921, p. 360).
A. Meillet cũng từng viết: «Khi người ta gặp trong nhiều ngôn ngữ – có họ hàng hay không – những từ giống nhau sát sao vừa về hình thức vừa về nghĩa, thì trước hết người ta phải tự hỏi xem có phải là tất cả các ngôn ngữ còn lại đã vay mượn của một trong những ngôn ngữ ấy hay không» (Introduction à l’étude comparative des langues indo-européennes, Paris, 1937, p. 378). Meillet đã cho thí dụ về danh từ có nghĩa là hình phạt, tiền chuộc, v.v… trong một số ngôn ngữ Ấn Âu: tiếng Hy Lạp poinê, tiếng Latin poena, tiếng Ireland cổ đại pian, tiếng Gallois poen, tiếng Thượng Đức cổ đại pina (Đức hiện đại pein), tiếng Anh cổ đại pi:n (Anh hiện đại pine, pain) và chỉ rõ ra rằng đó không phải là một từ gốc Ấn Âu cổ xưa mà các ngôn ngữ trên đây đều cùng bảo tồn được. Lý do là một p của nhóm Celtic, (mà đại diện ở đây là tiếng Ireland cổ đại và tiếng Gallois) không bao giờ là một p Ấn Âu; cũng vậy đối với p của nhóm Germanic (mà đại diện ở đây là tiếng Đức và tiếng Anh). Thực tế ở đây là các ngôn ngữ Ireland, Gallois, Đức, Anh đều đã mượn ở tiếng Latin poena còn chính cái từ này của tiếng Latin thì lại là mượn ở phương ngữ Dorien của tiếng Hy Lạp: đó là danh từ poina (X. Sđd, tr. 378).
Ngay trong một họ ngôn ngữ mà còn như thế, huống chi các ngôn ngữ mà Trần Quốc Vượng đã trưng dẫn, thuộc hai họ khác nhau, một đằng là Môn-Khmer, một đằng là Tày-Thái, thì làm sao có thể nói rằng khun là một từ chung cho các ngôn ngữ của ông được? Thực ra, khun là một từ mà các ngôn ngữ Laha, Kháng, Ksingmul và Khmu đã trực tiếp mượn từ tiếng Lào hoặc gián tiếp mượn của tiếng Lào thông qua tiếng Thái Tây Bắc, còn chính tiếng Lào thì lại mượn từ tiếng Pali guru có nghĩa là người thầy hoặc người được sùng kính.
Trong tiếng Lào, từ đang xét không phải là một từ có thanh ngang; nó có thanh thấp đi lên mà chúng tôi tạm ghi bằng dấu ngã. Bởi thế, đó không phải là khun mà là khũn (Trở xuống, tiếng Lào được ghi âm bằng chữ quốc ngữ nên giá trị phát âm giống như trong tiếng Việt. Riêng về thanh điệu thì sẽ ghi theo Marc Reinhorn trong Dictionnaire laotien-français (Paris, 1970) nhưng thanh thấp đi lên (grave montant) thì ghi bằng dấu ngã như đã nói: những thanh này không có giá trị giống như trong tiếng Việt. Còn tiếng Pāli thì được ghi bằng chữ Latin theo quy ước thông dụng. Những cứ liệu tiếng Lào là lấy theo M. Reinhorn). Tiếng Pali guru cho ra tiếng Lào khũn là một hiện tượng hoàn toàn đúng qui luật.
Trước hết, Pāli g > Lào kh là một hiện tượng phổ biến, chẳng hạn gaja > khásá (con voi), gamma >khămmá (bình thường, thông tục), gini > khíntí (lửa) gutti > khút, dạng tắt và khúttì dạng đầy đủ (sự bảo vệ, sự trông nom), geha > khêhà (nhà), nagara > nákhon (thành phố, xứ sở) v.v…
Thứ đến, cũng là bình thường hiện tượng r của Pali, sau nguyên âm của âm tiết trước, trở thành ntrong tiếng Lào khi nào âm tiết tiếp theo của tiếng Pāli do nó khởi đầu bị tiếng Lào lược bỏ; sự lược bỏ này trong nhiều trường hợp đã cho ra thanh thấp đi lên trong tiếng Lào. Thí dụ: sara > sõn (nguyên âm), sira > siễn (đầu, người đứng đầu), vihàra > vihãn (tu viện, chùa chiền), ghora khỗn (quỷ, yêu ma), kesara > kaysõn (nhụy hoa)…
Cần nói rõ ràng thêm rằng phụ âm đầu của từ khũn trong tiếng Lào lẽ ra phải được ghi bằng chữ kho là chữ thứ ba trong bảng chữ cái của Lào, vẫn được dùng để phiên âm âm vị đầu tiên của những âm tiết Pali bắt đầu bằng g. Nhưng ở đây nó lại được ghi bằng chữ khõ là chữ thứ hai trong bảng chữ cái. Đây là một điều bất thường, nhưng điều bất thường này có thể giải thích được vì khũn không phải là trường hợp duy nhất đi chệch khỏi quy tắc: thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp những trường hợp như thế, chẳng hạn Pāli giddhi > Lào khíthì (keo kiệt, bủn xỉn). Phụ âm đầu của từ này trong tiếng Lào cũng được ghi bằng chữ khõ là chữ thứ hai trong bảng chữ cái thay vì bằng chữ kho là chữ thứ ba.
Vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, khũn của tiếng Lào – và cả của tiếng Xiêm: ngôn ngữ này cũng mượn từ Pali guru và phát âm giống như tiếng Lào – là một từ gốc Pāli [1]; từ này đã được các ngôn ngữ Thái Tây Bắc, Laha, Kháng, Ksingmul và Khmu mượn lại chứ tuyệt nhiên không phải là một từ «bản ngữ» trong các thứ tiếng này như Trần Quốc Vượng đã ngộ nhận.
Trần Quốc Vượng còn cả quyết rằng từ hiện nay phát âm là hùng thì ở khoảng thế kỷ V không thể có dạng như hiện nay mà phải có âm đầu là một phụ âm lưỡi sau như kh, k. Rõ ràng đây là một sự khẳng định vô căn cứ. Mọi người đều biết rằng chữ hùng 雄 là một chữ thuộc thanh mẫu hạp 匣, một thanh mẫu mà giá trị ngữ âm ở thế kỷ V đã được phục nguyên là ɣ (Vương Lực, B. Karlgen, H. Maspéro, Đổng Đồng Hòa, …) hoặc h (Đường Tác Phiên). Cả hai âm này đều là phụ âm hữu thanh. Riêng Karlgren về sau đã phục nguyên lại cho hùng một phụ âm đầu khác là g (X. Grammata Serica Recensa, Stockholm; 1957, pp. 236-237, series 88, l) nhưng đây vẫn là một phụ âm hữu thanh. Còn những âm mà Trần Quốc Vượng đưa ra (kh, k) đều là những phụ âm vô thanh trong khi đó ông lại nhận là mình đã làm công việc phục nguyên theo kết quả nghiên cứu của B. Karlgren «đã được đông đảo các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc cũng như nước ngoài thừa nhận»!
Nhưng cái thiếu sót rõ nhất của Trần Quốc Vượng là ở chỗ trong khi ông phục nguyên cho từ hùng cái phụ âm đầu kh (hoặc k) của thế kỷ V thì ông lại để nguyên phụ âm đầu của khun (hoặc kun) trong trạng thái hiện đại của nó. Một sự so sánh như thế rõ ràng là một sự so sánh khập khiễng: nó không có giá trị. Lẽ ra ông cũng phải phục nguyên cho khun (hoặc kun) cái phụ âm đầu ở thế kỷ V. Còn nếu quả là ở thế kỷ V, phụ âm đầu của khun (hoặc kun) vẫn là kh (hoặc k) thì điều này lại đòi hỏi một sự chứng minh chặt chẽ và rành mạch chứ cũng không thể chỉ là kết quả của một sự khẳng định suông được.
Trở lên là ý kiến của một số nhà nghiên cứu. Dưới đây là ý kiến cá nhân. Không dám động đến truyền thống và tình cảm dân tộc, chúng tôi cho rằng ai có muốn gọi các vị quốc tổ của chúng ta là «Hùng Vương» thì xin cứ gọi như thế cho được thỏa nguyện. Không có một đạo luật nào cấm gọi như thế cả. Nhưng ngược lại cũng không có một đạo luật nào cấm các sử gia gọi các vị quốc tổ là Lạc Vương khi đây là một sự thật mà họ đã chứng minh.
Chúng tôi mạo muội mường tượng rằng nếu các đấng tiên nhân của chúng ta biết đến cái lập luận của người hiện đại trong việc cố gắng duy trì danh hiệu «Hùng Vương» thì hẳn các vị sẽ nhắn nhủ với di duệ của mình: «Chúng ta là con cháu đức Lạc Long Quân, thuộc nòi giống Lạc Việt, lại làm «vua» củaLạc dân (= dân Lạc) nơi xứ sở của Lạc điền (= ruộng Lạc) có các Lạc hầu và Lạc tướng trông coi mà bị gọi là «Hùng Vương» thì không thú vị lắm! Hãy cho chúng ta được về nguồn mà gọi chúng ta là Lạc Vương». ●
(Một tháng trước ngày Giỗ Tổ năm 1992)
* Đăng lần đầu tiên trên Kiến thức ngày nay, số 81, ngày 1-4-1992.
* In lại trong NHỮNG TIẾNG TRỐNG QUA CỬA CÁC NHÀ SẤM, Nxb TRẺ, 2004, trang 113-128.
[1] Với thanh điệu đã nói, Khũn chỉ có thể do Pāli guru mà ra, chứ không thể do quân 君 của tiếng Hán.

Lộ biên có phải là từ Hán Việt không?


Cây lộ biên (còn gọi là khử đờm thảo) chứa hơn hai chục chất an-ca-lô-ít, trong đó có chất lô-be-lin được dùng để chữa những trường hợp ngất do hô hấp (điện giật, chết đuối, ngộ độc ô-xít các-bon, viêm phế quản, viêm phổi, họ gà, ngạt thở ở trẻ sơ sinh…) Tên cây nghe như gốc Hán nhưng tên Trung Quốc của nó thật ra là半邊蓮
 (bán biên liên).
Tên tiếng Pháp của lộ biên là lobélie (do Lamark đặt năm 1778). Trước đó là lobélia (1747), do tiếng La Tinh là lobelia. Tên này do Linné đặt để tưởng nhớ nhà thực vật học người Matthias de Lobel (1538-1616).
Không rõ các nhà thực vật học Việt Nam đặt tên lộ biên dựa vào tên khoa học (Lobelia inflata L) hay tên tiếng Pháp (lobélie).

QUẢNG NAM: MIỀN ĐẤT KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ (Châu Yến Loan)

Thứ ba, ngày 21 tháng bảy năm 2009

QUẢNG NAM: MIỀN ĐẤT KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ

Đầu thế kỷ XVII, các Giáo sĩ Tây phương đến truyền đạo ở xứ Đàng Trong, để nhanh chóng thu phục con chiên họ nỗ lực học tiếng Việt, dùng mẫu tự La tinh để ghi âm tiếng bản xứ, từ đó tiến tới việc sáng chế chữ Quốc ngữ.

Người đầu tiên có thể truyền giáo bằng tiếng Việt là Giáo sĩ Francisco de Pina, ông chính là người có công đầu trong công cuộc đặt nền tảng cho việc hình thành chữ Quốc ngữ. Suốt gần ba trăm năm, chữ Quốc ngữ chỉ được lưu hành trong phạm vi nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp mới áp đặt đưa chữ Quốc ngữ vào lãnh vực hành chánh, biến thứ chữ này thành công cụ phục vụ chế độ cai trị, do đó không được nhân dân đồng tình đón nhận. Những năm đầu thế kỷ XX, Phong trào Duy Tân phát xuất từ Quảng Nam, nhận thức được giá trị hữu ích của chữ Quốc ngữ như là một khí cụ khai dân trí giúp nhân dân tiến nhanh trên đường giải phóng dân tộc khỏi cảnh nô lệ, đã thổi vào chữ Quốc ngữ cái hồn dân tộc, ra sức cổ động người người gắng công học chữ Quốc ngữ. Quảng Nam nhờ vậy có vinh hạnh làm cái nôi khai sinh chữ Quốc ngữ lại thêm cái vinh dự mở đường truyền bá chữ Quốc ngữ.
I. QUẢNG NAM – NƠI KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ:
1. Hoàn cảnh và nguyên nhân sáng chế chữ Quốc ngữ:
Dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên, cảng thị Hội An càng ngày càng phát triển, trở thành trung tâm buôn bán sầm uất bậc nhất của xứ Đàng Trong. Thuyền buôn các nước tấp nập cập bến, nhiều nhất là Trung Hoa, Nhật Bản, Hoà Lan và Bồ Đồ Nha. Nói về Hội An thời ấy Cristoforo Borri đã ghi nhận: “Thành phố này gọi là Faifo, một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một phố người Tàu và một phố người Nhật. Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng. Người Tàu có luật lệ và phong tục của người Tàu và người Nhật cũng vậy”. (1, tr 92)
Mặc dầu các thuyền buôn Bồ Đào Nha đến buôn bán với Hội An rất sớm, nhưng các giáo sĩ vẫn chưa có cơ hội đến truyền đạo ở xứ Đàng Trong. Cho đến năm 1613, Nhật Bản ban hành lệnh cấm đạo, trục xuất các giáo sĩ ,thì những người được đào tạo để gởi đi Nhật Bản phải chuyển hướng sang Việt Nam. Ngày 6/1/1615, phái đoàn Buzomi đáp tàu buôn Bồ Đào Nha từ Macao đến Cửa Hàn (Đà Nẵng). Sau đó, mấy tháng mới đến ở Hội An (2,tr 20). Họ chọn Hội An để truyền giáo vì nơi đây đã có sẵn những con chiên người Nhật cần đến họ và sẵn sàng giúp đỡ họ làm thông ngôn để giao tiếp với người Việt. Khi giảng đạo nếu dùng ngôn ngữ bản xứ trực tiếp đối thoại thì lời thuyết giáo sẽ sinh động, có hồn, dễ đi sâu vào lòng người; còn nếu phải dùng người phiên dịch thì hiệu quả không cao. Vì vậy, các giáo sĩ phải gấp rút học tiếng Việt. Họ dùng bộ chữ cái La Tinh để ghi âm tiếng bản xứ giúp cho người mới học dễ nhớ, dễ sử dụng hơn, từ đó chữ Quốc ngữ được ra đời.
Chỉ cần nhìn vào cách ghi âm địa danh Dinh Chiêm là ta có thể hình dung được tiến trình tạo lập chữ Quốc ngữ. Đây là địa danh được phiên âm sớm nhất ở dạng chữ Quốc ngữ sơ khai. Lúc đầu chưa ý thức được tiếng Việt là tiếng đơn âm nên họ không viết theo lối cách ngữ mà lại viết dính nhau, họ cũng chưa phân biệt được các dấu giọng nên viết không có dấu: João Roiz viết là Cacham vào năm 1621, cũng năm này, tuy Gaspar Luis chưa đến Việt Nam nhưng cũng viết là Cacham và sau khi đến xứ Đàng Trong năm 1626 lại viết Dinh Cham. Trong bản tường trình ngày 1/1/1626 giáo sĩ Antonio De Fontes cũng ghi là Dinh Cham nhưng cũng có khi viết là Dĩgcham. Riêng Cristoforo Borri thì ghi theo lối Ý nên viết là Cacciam (1621). Những trở ngại này nhanh chóng được khắc phục, chỉ mười năm sau đó, năm 1632 Gaspar D’Amaral đã có thể viết ngay “Kẻ Chàm” như cách ta viết ngày nay. Mỗi giáo sĩ có một cách ghi, chứng tỏ chữ Quốc ngữ được tạo thành do công sức của cả một tập thể chứ chẳng riêng ai. Tuy thế, người đóng góp sớm nhất và quan trọng nhất là Francisco De Pina.
2. Pina – người mở đường cho công trình La Tinh hoá tiếng Việt
Pina, người Bồ Đào Nha, sinh tại thành phố Guarda năm 1585 (hay 1586 theo Roland Jacques hoặc 1588 theo Hồng Nhuệ). Ông vào Dòng Tên từ năm 19 tuổi, học Thần học, tiếng Nhật và các môn khoa học, nghệ thuật nhiều năm tại Macao trước khi sang Việt Nam năm 1617. Ngay từ khi đến Quảng Nam, Pina đã tự nguyện lao vào việc học tập, nghiên cứu tiếng Việt. Trong thư gửi cho Tổng giám mục, giáo sĩ Gaspar Luis đã viết: “Linh mục De Pina đến Đàng Trong năm 1617. Đó là giáo sĩ đầu tiên miệt mài học tiếng nói” (3, tr40). Chỉ trong một thời gian ngắn, Pina đã nắm bắt được cốt lõi của tiếng Việt. Ông đã nhanh chóng phát hiện ra “Tiếng nói này là một tiếng nói có thanh âm, giống như một xướng âm pháp và trước hết là phải biết xướng âm nó đã, sau đó người ta mới học các chữ”. (4, tr 36)
Không nắm được cốt lõi này thì không thể học được tiếng Việt. Chính vì không phân biệt được các thanh và dấu thanh nên Linh mục Manoel Fernandez – Cha bề trên của trú sở Hội An – dầu rất cố gắng học nói tiếng Việt, mỗi ngày hai lần được người Việt Nam luyện cách phát âm ròng rã một năm mà cha cứ nhầm lẫn giữa cà và cá chẳng nói được mấy từ chẳng phải, ông phải khiến bổn đạo Hội An, Thanh Chiêm không hiểu ông nói gì.
Pina không những nói thông thạo tiếng Việt, giảng đạo bằng tiếng Việt mà ông còn soạn một tập chính tả và dấu thanh tiếng Việt đồng thời bắt tay vào việc soạn ngữ pháp. Ông đã thu thập được nhiều truyện và các văn bản thích hợp cho việc trích dẫn những câu mẫu về ngữ pháp. Những điều đó đã chứng tỏ Pina mới là người tiên phong sáng tạo chữ quốc ngữ chứ không phải là Alexandre De Rhodes như người ta vẫn tưởng lâu nay. Mặc dầu Rhodes là người đầu tiên cho in những tài liệu thành văn về chữ quốc ngữ: Từ điển Việt-Bồ-La, Phép giảng tám ngày vào năm 1651 nhưng ông chỉ là người công bố, người phổ biến, người đóng góp rất nhiều cho việc hoàn chỉnh chữ Quốc ngữ chứ không phải là người khởi xướng đúng như ông đã xác nhận trong Từ điển Việt-Bồ-La: “…ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco De Pina, người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn…” (5, tr 3). Chính nhờ những nỗ lực không hề biết mệt mỏi của A.De Rhodes mà ngày nay chúng ta vẫn còn được chiêm ngưỡng những tài liệu vô giá về chữ Quốc ngữ trong buổi bình minh của nó.
Điều thuận lợi cho A.De Rhodes khi học tiếng Việt là ông khỏi phải trải qua những dò dẫm ban đầu mà được thừa hưởng tất cả những gì Pina đã khổ công tích góp được về cách ghi âm tiếng Việt theo mẫu tự La tinh. Rhodes là người hết sức trung thực và sòng phẳng khi công khai thừa nhận vai trò và vị trí của mình trong việc chế tác chữ Quốc ngữ. Cũng trong Từ điển Việt-Bồ-La ông nói rất rõ: “Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội Dòng nhất là của cha Gaspar d’ Amaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển, ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm” (5,tr 3). Theo lời Rhodes, ta có thể giả định một bảng xếp loại các bậc tổ sư có công sáng chế chữ Quốc ngữ: Pina thuộc thế hệ thứ nhất, A.De Rhodes thuộc thế hệ thứ hai. Nhưng khi công bố các công trình của mình Rhodes lại thuộc thế hệ thứ năm, vì ông đã tận dụng những thành tựu của người đi trước ông như Pina lẫn người đi sau ông như Gaspar d’Amaral,Antonio Barbosa:
1) Thế hệ thứ nhất : Francisco De Pina – đến VN năm 1617
2) Thế hệ thứ hai : Alexandre De Rhodes – đến VN năm 1624
3) Thế hệ thứ ba : Gaspar D’Amaral – đến VN năm 1629
4) Thế hệ thứ tư : Antonio Barbosa – đến VN năm1636
5) Thế hệ thứ năm : Alexandre De Rhodes – xuất bản sách năm 1651

Những đóng góp lớn lao của Alexandre De Rhodes vào cuộc cách mạng chữ viết làm vinh danh cho người thầy đã từng dày công đặt nền móng cho việc sáng tạo chữ Quốc ngữ: Francisco De Pina.
3. Dinh trấn Thanh Chiêm – cái nôi của chữ Quốc ngữ
Nhờ sớm thông thạo tiếng Việt, Pina thường xuyên đi lại Thanh Chiêm để làm nhiệm vụ quan hệ với Dinh trấn, đến khi trú sở Thanh Chiêm thành lập năm 1625 ông được cử làm cha bề trên cai quản nơi đó. Trú sở này tuy theo giáo luật ra đời sau nhưng lại giữ một vai trò khá quan trọng vì ở ngay thủ phủ của Dinh Quảng Nam được xem như triều đình thứ hai của xứ Đàng Trong, do Hoàng tử Nguyễn Phước Kỳ, con cả của chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên trấn giữ. Đây không chỉ là nơi đơn thuần chinh phục con chiên mà còn là nơi tranh thủ ngoại giao để tạo mọi điều kiện dễ dàng cho việc truyền giáo nên chỉ có Pina là thích hợp nhất để cai quản nơi này. Cũng không phải sau khi trú sở được thành lập Pina mới đến Dinh Chiêm mà trước đó ông gần như có mặt thường xuyên tại đây.
Ở Dinh trấn Thanh Chiêm, Pina đã tạo lập được mối quan hệ mật thiết với Hoàng tử Kỳ .Mặc dầu không thuyết phục được Hoàng tử chịu lễ thánh tẩy nhưng cũng tạo được niềm tin nơi vị trấn thủ. Hoàng tử rất có thịnh tình với Kitô giáo. Pina thường đến thăm quan Trấn thủ, cũng có khi quan Trấn thủ đến thăm Pina cùng với một số Nho sĩ để nghe Pina giảng về giáo lý. Ở đây, Pina cũng làm được nhiều việc ích lợi cho công cuộc truyền giáo vì đã chinh phục được một số người quyền quí có thế giá ở trong Dinh. Tại nhà một bà tên là Gioanna, Pina đã dạy giáo lý bằng tiếng bản xứ khiến người nghe có thể cảm nhận đích thực suối nguồn của đạo. Gaspar Luis còn cho biết thêm, Pina được triều đình kính trọng nhờ những hiểu biết về toán học và thiên văn của ông. Ông đã nhận huấn luyện cho những nhà Chiêm tinh của Hoàng tử Kỳ thuật tính thiên văn. Nhưng công trình hệ trọng hơn hết mà Pina đã làm được ở Dinh trấn Thanh Chiêm là công cuộc sáng tạo chữ Quốc ngữ theo mẫu tự La tinh. Để làm được việc khó khăn này, ngoài những cố gắng vượt bậc của ông còn cần có sự hỗ trợ của những người Việt. Trước hết là các thanh niên giáo dân ở các nhà đạo, nhà thờ, trong số đó Pina đã nhắc đến một người tên André trong bức thư viết dở dang tại Hội An vào năm 1623. “Trong một nhà đạo cần ít nhất có ba người giúp chúng ta các dịch vụ vặt vãnh hàng ngày, đối với họ cần dành thời gian để học chữ,cả người của họ lẫn người của chúng ta… Những năm đầu tôi đã dạy cho một người tên là André, sau đó cậu ta ở lại với cha Marquez như người phiên dịch của cha và về sau cha bề trên đã dùng cậu ta với chức năng như vậy” (4, tr 178). André và những thanh niên giáo dân làm phiên dịch, biết tiếng Bồ Đào Nha nên có thể giúp đỡ ông rất nhiều khi nghiên cứu tiếng Việt. Alexandre De Rhodes khi đến Thanh Chiêm để học tiếng Việt, ngoài việc lãnh giáo ở Pina, cũng ghi lại những nỗ lực đóng góp của người bản xứ đã giúp ông nhanh chóng gặt hái kết quả trong học tập: “Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng cậu có trí thông minh biết được những điều tôi muốn nói. Và thực tế cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa. Tôi sửng sốt thấy trí thông minh của cậu bé và trí nhớ chắc chắn của cậu. Từ đó cậu đã làm thầy giảng giúp các cha” (5.tr 55,56). Nhưng quan trọng hơn vẫn là các trí thức bản xứ. Đó là các Nho sĩ, các nhà sư, các quan lại v.v…, những tinh hoa của xứ Đàng Trong từ Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá đến Bình Định, Phú Yên, khắp nơi đã hội tụ về đây. Họ là những cộng tác viên đắc lực của Pina trong công trình ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Làm được việc khó khăn này Pina xác nhận không đâu lí tưởng hơn Dinh Chiêm, cơ quan đầu não của xứ Quảng Nam, vì chỉ có nơi này mới qui tụ nhiều người học thức cần thiết cho công trình nghiên cứu tiếng bản xứ của ông. Hội An và Nước Mặn (Qui Nhơn) không thể đáp ứng yêu cầu này. Mặc dầu Hội An là nơi đô hội sầm uất nhưng chỉ có lợi cho công việc thương mãi hơn là cho việc nghiên cứu ngôn ngữ. Người ta không thể tìm thấy lời giải đáp cho vấn đề ở những thương nhân người Tàu, người Nhật mà chỉ có ở những văn nhân nơi thủ phủ.
Cuối năm 1624, Alexandre De Rhodes được cử đến Đàng Trong. Vừa đến nơi ông đã cùng giáo sĩ Antonio De Fontes về ngay Thanh Chiêm làm phụ giảng cho Pina, nhưng việc khẩn thiết hơn hết là để học tiếng Việt với bậc thầy “giảng giáo lý không cần thông dịch”.
Trú sở Thanh Chiêm như thế có thể xem là trường dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Francisco De Pina từ chỗ đem nhiệt tâm phụng sự chúa Kitô đã trở thành cha đẻ chữ Quốc ngữ. Chữ mà ông chỉ khiêm tốn xem như một công cụ, một phương tiện mầu nhiệm để chinh phục người bản xứ, đưa họ trở lại đạo, nhưng ông đã đem hết nhiệt huyết và tuổi thanh xuân để miệt mài nghiên cứu, lại trở thành văn tự chính thức của một quốc gia, trở thành một công cụ tuyệt hảo cho Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập vào cộng đồng quốc tế.
Pina, Alexandre De Rhodes đã học tập, nghiên cứu, làm việc nhiều năm ở Dinh trấn Thanh Chiêm để tạo nên chữ Quốc ngữ. Do đó Dinh trấn Thanh Chiêm nói riêng và Quảng Nam nói chung chính là miền đất đã có vinh hạnh làm nơi chào đời của chữ Quốc ngữ.
II. QUẢNG NAM – NƠI TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ
1. Mục đích phổ biến chữ quốc ngữ
Cuối thế kỷ XIX các phong trào vũ trang Cần vương hoàn toàn thất bại, thực dân Pháp đã thiết lập nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam, Nho học bước vào con đường suy tàn, không còn đáp ứng được những yêu cầu của đất nước. Trước tình đó, đầu thế kỷ XX phong trào Duy Tân do các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo với một đường lối chủ trương mới mẽ, tiến bộ, khởi lên từ Quảng Nam đã làm nô nức lòng người, khắp nơi một phong khí mới ào ào dâng lên. Mục tiêu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” trở thành động lực thúc đẩy nhân dân tập hợp dưới bóng cờ của phong trào, trong đó mục tiêu khai dân trí được đặt lên hàng đầu. Muốn tiến bộ, muốn chống lại kẻ thù phải làm cho dân khôn ra, phải cắt cái ngu, cái dại đã đưa dân tộc vào vòng bị trị. Công cụ để tiến hành sứ mệnh đó không gì tiện dụng hơn chữ Quốc ngữ.
Mặc dầu lúc bấy giờ chữ Quốc ngữ còn có nhiều nhược điểm, nhưng so với chữ nôm thì lại đơn giản, có tính khoa học hơn nhiều, do đó thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Duy tân và nâng cao dân trí, vì vậy các nhà lãnh đạo phong trào bèn ra sức hô hào học chữ Quốc ngữ:
Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước,
Phải đem ra tính trước dân ta,

(Khuyến học – Trần Quí Cáp)
Ta muốn vận dụng chữ Quốc ngữ như một khí cụ cứu nước, thực dân Pháp lại muốn dùng chữ Quốc ngữ như một công cụ để thống trị đất nước ta ,nô dịch dân ta.
2. Pháp truyền bá chữ Quốc Ngữ để làm công cụ nô dịch:
Ngay sau khi chiếm Nam kỳ (1867), Pháp bãi bỏ các kì thi chữ Hán và thay vào đó một nền giáo dục Pháp Việt. Họ đã thấy ngay vai trò lợi hại của chữ Quốc ngữ nên quyết tâm đào tạo những người biết chữ Pháp, chữ Quốc ngữ để làm tay sai cho họ trong việc cai trị. Nhiều nghị định liên tiếp được ban hành nhằm mục đích phổ biến chữ Quốc ngữ, dùng nó thay thế chữ Hán và chữ Nôm:
Ngày 14/11/1874 ,Thiếu tướng Hải quân Krantz giữ chức Thống soái Nam kỳ, đã ký nghị định mở trường trung học Chasse Loup Laubat ở Sài Gòn vừa dạy tiếng Pháp vừa dạy chữ Quốc ngữ cho con em người Pháp đang cai trị tại Nam kỳ và con em các quan lại làm việc với họ.
Ngày 6/4/1878, Thống đốc Nam kỳ ra nghị định số 82 bắt buộc các công văn, thư từ phải viết bằng chữ Quốc ngữ thay vì chữ Hán hay chữ Nôm.
Ngày17/1/1879, Thống đốc Nam kỳ là bá tước Lafont ký nghị định mở trường Trung học Mỹ Tho.
Ngày 17/3/1879, chính quyền thuộc địa Pháp thiết lập Sở Học chánh Nam kỳ và đặt chương trình giáo dục Pháp Việt đầu tiên ở Nam kỳ.
Ngày 18/11/1896, Toàn quyền Đông Dương A. Rousseau kí nghị định cho phép mở trường Quốc Học Huế.
Ngày 27/4/1904, thực dân Pháp ra nghị định thiết lập chương trình giáo dục hệ Pháp-Việt ở Bắc kỳ.
Năm 1906, Toàn quyền Paul Beau ra nghị định bắt dân các xã lập trường tiểu học dạy chữ Quốc ngữ, chữ Tây…
Những nỗ lực phổ biến chữ Quốc ngữ của thực dân Pháp nhằm mục đích loại bỏ nền văn hoá Hán Nôm từ hàng ngàn năm đã ăn sâu vào cội rễ tư tưởng người Việt để thay vào đó là nền văn hoá Pháp, hầu củng cố chế độ thực dân, tất yếu phải gặp sức kháng cự của nhân dân yêu nước. Vì vậy, dù Pháp ra lệnh lập xã học, dân chúng vẫn không chịu học chữ Quốc ngữ do họ đề xướng.
3. Phong trào Duy Tân truyền bá Chữ Quốc ngữ để làm công cụ cứu nước
Đối với các nhà cách mạng, chữ Quốc ngữ là công cụ hữu hiệu để truyền bá chủ nghĩa Duy Tân: “Quyết đem học mới thay nô kiếp”, là phương tiện để khai dân trí:
Trước hết phải học ngay Quốc ngữ,
Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau,
Chữ ta, ta đã thuộc làu,
Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài

(Sẵn cơ sở để khai tâm trí – Đông kinh nghĩa thục)
Cùng một phương tiện nhưng dùng với hai mục đích trái ngược nhau, phải nói sao cho dân hiểu, dân làm, tránh hiểu sai, hiểu lầm, không để cho kẻ địch lợi dụng, quả là một trận chiến cam go. Việc dạy chữ Quốc ngữ trong các trường Duy Tân buổi đầu không dễ dàng vì gặp phải sự chống đối của lớp người bảo thủ. Nhiều người đã kiên quyết không cho con em đi học thứ chữ “của Tây,của cố đạo” nhưng nhờ lòng kiên trì, nhiệt tình yêu nước, các giáo viên tân học đã tạo được sự hiểu biết cũng như lòng tin vào tiền đồ của dân tộc, càng ngày số người theo học càng đông. Phong trào học chữ Quốc ngữ đã được nhân dân hưởng ứng nồng nhiệt, tại Quảng Nam chỉ trong vòng năm, sáu tháng 40 trường tân học đã được dựng lên để dạy chữ Quốc ngữ, truyền bá cái học mới. Từ chỗ bài Tây, tả đạo, cái gì của thực dân cũng ghét, như tinh thần cụ Đồ Chiểu, xà phòng không dùng, dầu Tây không thắp, huống gì chữ Quốc ngữ là đại sự của quốc gia lại do kẻ xâm lược tạo ra. Làm cho dân ý thức đó là nguồn lợi của nước nhà, đưa chữ Quốc ngữ giữ vai trò có quan hệ sinh tử đối với vận mệnh đất nước, khiến cho họ nhận ra cái hồn của dân tộc “chữ Quốc ngữ là hồn trong nước” quả là kỳ công của các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân. Không chỉ dạy chữ Quốc ngữ cho dân ta, phong trào còn dùng chữ Quốc ngữ để dịch các sách Âu, Mỹ,Trung Quốc hầu phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật, triết học, kinh tế… để mở mang dân trí, ý thức dân quyền, đưa đồng bào tiến bước trên đường Duy Tân, cứu đất nước thoát khỏi vòng đô hộ của thực dân Pháp:
Sách Âu Mỹ, sách China
Chữ kia ,chữ nọ dịch ra tinh tường
…Một người học muôn người đều biết
Trí ta khôn trăm việc phải hay
Lợi quyền đã nắm trong tay
Có cơ tiến hoá, có ngày văn minh

(Khuyến học – Trần Quí Cáp)
Công cuộc phổ biến chữ Quốc ngữ của phong trào Duy Tân đã được triển khai bằng nhiều hoạt động mạnh mẽ nhất là từ năm 1906 trở đi. Năm 1906, nhân nghị định của Toàn quyền Paul Beau bắt dân các xã lập trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Tây các nhà Duy Tân đã lợi dụng thời cơ đó để hợp pháp hoá chủ trương dạy chữ Quốc ngữ mà trước đây họ phải hoạt động một cách bí mật .Các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, công khai tổ chức những buổi diễn thuyết cổ động cho tân học gây được những xúc động mạnh mẽ trong hàng ngũ thân hào, nhân sĩ, khiến họ tự nguyện góp công, góp của dựng lên những ngôi trường Duy Tân trong các xóm làng. 40 trường tân học đã mọc lên khắp nơi, có nhiều trường đã gây được ảnh hưởng lớn, uy tín vang khắp tỉnh như trường Phú Lâm, Diên Phong, Phước Bình, Cẩm Toại.
Phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ bắt đầu từ Quảng Nam sau lan rộng ra cả Trung kỳ, Bắc kỳ. Năm 1907, cụ Phan Châu Trinh ra Hà Nội cùng các thân hào nhân sĩ đất Bắc như các cụ Lương văn Can, Nguyễn Quyền… thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục. Đây là một trường có quy mô tổ chức lớn, có nhiều giáo sư xuất sắc, vang danh khắp nước.
Công cuộc Duy Tân đang được triển khai mạnh mẽ, quần chúng nhiệt tình hưởng ứng, nhưng tiếc rằng phong trào hoạt động chẳng được mấy năm thì đến năm 1908 nhân cuộc biểu tình chống sưu thuế của nhân dân Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, bắt giam các lãnh tụ Duy Tân, đày đi Lao Bảo, Côn Lôn, Trần Quí Cáp – nhà cách mạng giáo dục lỗi lạc của phong trào – bị tử hình. Các trường tân học bị đóng cửa, giáo viên bị đánh đập, giam cầm. Phong trào tan rã nhưng chữ Quốc ngữ đã gắn sâu vào lòng dân tộc, cùng nhân dân tiếp tục tiến bước trên đường thắng lợi cho đến khi nước nhà Độc lập đã trở thành thứ chữ chính thức của nước ta.
Từ khi chữ Quốc Ngữ chào đời cho đến khi được nhân dân đón nhận, Quảng Nam có vinh dự làm cái nôi khai sinh chữ Quốc ngữ cũng chính là nơi đầu tiên dấy lên phong trào học chữ Quốc ngữ mang tính đại chúng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Cistoforro Borri – Xứ Đàng Trong năm 1621, bản dịch Hồng Nhuệ & Nguyễn Nghị, TP Hồ Chí Minh, 1997
2. Đỗ Quang Chính – Lịch sử chữ Quốc Ngữ, Ra khơi, 1972
3. Gaspar Luis – Lettre du Père Gaspar Luis sur la Concincina, dẫn theo L.Cadière, Bulletin des Amis du Vieux Hue, 1931, 3-4
4. Roland jacques – L’oeuvre de quelques Pioniers Portugais dans le… domaine de la linguistique Vietnammienne jusqu’en 1650 INALCO, Paris 1995
5. Alexandre De Rhodes – Tự điển An Nam – Bồ Đồ Nha – La tinh, bản dịch Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính, Khoa học xã hội, 1991
6.Alexandre De Rhodes – Hành trình và truyền giáo, Đại kết, UBĐKCG, TP Hồ Chí Minh, 1994
7. Châu Yến Loan – Hiếu Chiêu Hoàng Hậu, Đà Nẵng, 2002
8. Châu Yến Loan – Hội An-Đà Nẵng-Thanh Chiêm miền đất khai sinh chữ Quốc Ngữ, Xưa&Nay, số 94,06/2001, tr8-10
9. Châu Yến Loan – Phong trào Duy Tân với công cuộc phổ biến chữ Quốc ngữ, Văn hoá Quảng Nam, số 41,9-10/2003
10. Châu Yến Loan – Pina ở Thanh Chiêm, Vai trò lịch sử Dinh trấn Quảng Nam, Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam, kỷ yếu Hội thảo, 9/2002
11. Nguyễn Văn Xuân – Phong trào Duy Tân, Đà Nẵng, 1995
12. Nguyễn Văn Xuân – Hội An, Đà Nẵng, 1999

Châu Yến Loan

Do đâu có tên chồn mác?

Mác có thể là từ mượn âm tiếng Pháp (martre) mà cũng có thể là dạng rút gọn của mác tét. Từ này có âm rất gần với tên La Tinh (Martes martes). Chồn mác Mỹ và chồn mác-tét Mỹ là một (tiếng La Tinh là Martes americana; tiếng Pháp là martre américain). Rất khó đoán được người đặt tên chồn lấy tiếng nào làm gốc. Tuy nhiên có thể thấy rõ dấu vết của tiếng La Tinh trong tên chồn mác ba-ra (Eira barbara)